Mức độ hiểu biết về Luật hôn nhân và gia đình của đối tượng tiền hôn nhân (Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội - Pdf 25

Đại học quốc gia Hà Nội
Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn
Khoa xã hội học Nguyễn Việt Hà

Mức độ hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình của đối tượng tiền
hôn nhân
(Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội)
Hà Nội, 2/2009

1

3
Mục lục
Phần I: Mở đầu 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.1. Mục đích nghiên cứu 3
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
3. Giả thuyết nghiên cứu 3
4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu 4
4.1. Đối tượng nghiên cứu 4
4.2. Khách thể nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Sơ đồ tương quan các biến số 5
7. ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 6
7.1. ý nghĩa khoa học 6
7.2. ý nghĩa thực tiễn 6
8. Kết cấu của luận văn 7
Phần II: Nội dung 8
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 8
1.1. Cơ sở lý luận 8
1.1.1. Lý luận nhận thức Macxit 8
1.1.2. Các lý thuyết đặt cơ sở cho việc nghiên cứu 9
1.1.3. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề hôn nhân - gia đình 16
1.1.4. Hoàn cảnh ra đời và phát triển của Luật Hôn nhân và gia đình 17
1.2. Những vấn đề đang đặt ra trong nghiên cứu về hôn nhân, gia đình
và Luật Hôn nhân và gia đình 22
1.3. Địa bàn nghiên cứu và đối tượng khảo sát 24
1.4. Các khái niệm cơ bản 26
Chương 2: Thực trạng nhận thức về Luật Hôn nhân và gia đình của thanh niên nam nữ
trước kết hôn 33
5
Phần I: Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, quá trình giao lưu và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ. ở
các nước đang phát triển cũng đang diễn ra quá trình này. Giao lưu và hội nhập
đã tác động tích cực đến sự phát triển chung của nhiều nước. Tuy nhiên quá
trình này cũng mang theo nó những ảnh hưởng trái chiều, tiêu cực đến đời sống
xã hội. Điều có thể nhận thấy trong chiều sâu của sự thay đổi chính là hệ thống
giá trị và chuẩn mực, đặc biệt là giá trị chuẩn mực của gia đình - những cái mà
lâu nay vẫn được nhìn nhận như những thành tố tạo nên nét đặc biệt của văn hoá
ở từng quốc gia, dân tộc.
ở Việt Nam, những năm gần đây, mở cửa đổi mới đã làm cho hệ giá trị,
chuẩn mực xã hội có những biến đổi bước đầu. Trong đó có sự pha trộn các yếu
tố của cả phương Đông và phương Tây. Cái truyền thống và cái hiện đại đã đan
xen và tác động mạnh mẽ đối với thanh niên - nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù về
lứa tuổi với những đặc điểm tâm, sinh lý có nhiều biến động trong quá trình tiếp
cận và học tập những yếu tố văn hoá từ bên ngoài. Thanh niên tuy có sức khoẻ,
hiểu biết, tri thức nhưng lại bồng bột, dễ bị cám dỗ bởi những giá trị ảo. Hiện
tại, quá trình xã hội hoá thanh niên diễn ra khá đa chiều, phức tạp với việc xuất

niên.
Hiện nay, quan hệ tình dục ngoài hôn nhân và chung sống ngoài hôn nhân
giữa những thanh niên có gia đình và thanh niên chưa lập gia đình cũng đang
ngày càng gia tăng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình
trạng ly hôn tăng nhanh qua các năm, đặc biệt là ở các thành phố lớn. [14] Theo
số liệu của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc Hội, số vụ vợ chồng xin ly hôn
đã tăng từ 22.000 vụ năm 1991 lên 44.000 vụ năm 1998. Còn theo thống kê của
Toà án nhân dân tối cao, năm 2000 có 51.361 vụ vợ chồng xin ly hôn, năm 2001
có 54.226 vụ, năm 2002 có 56.487 vụ, năm 2003 có 60.004 vụ và năm 2004 có
tới 63.735 vụ. ở một số thành phố lớn, tỷ lệ ly hôn đã trở thành một vấn đề xã
hội rất đáng được quan tâm. Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tỷ lệ ly
hôn cao nhất trong cả nước, năm 1998, số vụ ly hôn chiếm 20% tổng số các vụ
kết hôn. [16]

7
Hà Nội là thủ đô của cả nước, nơi tập trung bộ phận quan trọng lực lượng
lao động trẻ ở mọi trình độ, số lượng sinh viên, học sinh đông. ảnh hưởng của
lối sống ngoại lai mạnh. Do vậy, các hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội kể cả
chuẩn mực luật pháp lẫn những chuẩn mực đạo đức, lối sống diễn ra ngày
càng nhiều. Trên lĩnh vực hôn nhân gia đình, do những quan niệm thoáng hơn
về tình dục, tình yêu và hôn nhân tự do, nên những hành vi lệch chuẩn ngày
càng nhiều. Điều này tác động cả tích cực và tiêu cực đến đời sống xã hội, đặc
biệt đến sự phát triển bền vững của gia đình. Do vậy, tìm hiểu, đánh giá về nhận
thức luật hôn nhân gia đình ở nam nữ trước khi kết hôn, cũng như những nguyên
nhân ảnh hưởng tới nhận thức của họ về vấn đề này là hết sức cần thiết. Với ý
nghĩa đó, tôi đã chọn đề tài “Mức độ hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình của
đối tượng tiền hôn nhân” (Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội) làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình.
2. ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
2.1. ý nghĩa khoa học

- Xử lý, phân tích, tổng hợp các thông tin thu được qua điều tra định tính
và định lượng để làm rõ mức độ hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình ở nam
nữ trước khi kết hôn.
- Phân tích, tổng hợp những kết quả thu được để đưa ra những kết luận và
những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao trình độ hiểu biết của thanh niên
trong độ tuổi kết hôn về Luật Hôn nhân và gia đình.
4. Giả thuyết nghiên cứu
- Việc tuyên truyền, giáo dục, thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình tuy đã
được quan tâm chú ý nhưng chư a tìm được những hình thức phù hợp cho thanh
niên tiền hôn nhân, do vậy, hiểu biết Luật của họ còn chưa đầy đủ, thiếu chính
xác.
- Nam nữ thanh niên trước khi kết hôn đang còn ít quan tâm tới việc tìm
hiểu văn bản Luật, chính sách liên quan đến vấn đề hôn nhân, gia đình đặc biệt
là Luật Hôn nhân và gia đình nên hiểu biết về luật còn chưa cao.
- Hiểu biết của nam nữ thanh niên trong độ tuổi kết hôn chịu ảnh hưởng
của các yếu tố như giới tính, lứa tuổi, trình độ học vấn, khu vực cư trú và đặc
trưng văn hoá gia đình
5. Đối tƣợng, khách thể và địa bàn nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu

9
Mức hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình của đối tượng tiền hôn nhân.
5.2. Khách thể nghiên cứu
- Thanh niên nam, nữ trước kết hôn đang sống và làm việc trên địa bàn
thành phố Hà Nội.
- Cán bộ làm công tác thanh niên, công tác lao động, thương binh và xã hội và
cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách và pháp luật ở Hà Nội.
5.3. Địa bàn nghiên cứu
Đối tượng được chọn để tiến hành khảo sát là thanh niên nam, nữ chưa
kết hôn tại phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy và xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông

của vấn đề nghiên cứu.
- Điều tra định lượng:
Tiến hành phỏng vấn theo phiếu trưng cầu ý kiến với 400 thanh niên chưa
kết hôn. Cách thức chọn mẫu: sử dụng phương pháp ngẫu nhiên phân tầng. Cụ
thể, ở nội thành, tác giả chọn quận Cầu Giấy, phường Nghĩa Tân; ở ngoại thành,
chọn huyện Đông Anh, xã Vĩnh Ngọc. Sau khi xác định 2 phường/xã, tác giả lập
danh sách thanh niên từ 16 tuổi trở lên chưa lập gia đình; sau đó chọn ngẫu
nhiên hệ thống cho đủ 400 mẫu theo dự định để tiến hành phát phiếu khảo sát.
- Nghiên cứu định tính:
Ngoài phát phiếu điều tra định lượng, cuộc khảo sát còn tiến hành 2 cuộc
thảo luận nhóm tập trung, mỗi nhóm 10 người và 10 phỏng vấn sâu đối với
những người đại diện cho nhóm thanh niên chưa lập gia đình, nhóm cán bộ và
chủ hộ gia đình có thanh niên chưa lập gia đình.
- Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu điều tra định lượng được làm sạch và xử lý bằng chương trình
SPSS 12.5. Các tương quan cơ bản được xác định và đưa ra với những bảng số
liệu nhằm đáp ứng các mục tiêu mà cuộc khảo sát hướng đến là đánh giá mức độ
hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình của đối tượng tiền hôn nhân.
7. Sơ đồ tƣơng quan các biến số
11


+ Phạm vi tác động và đối tượng điều chỉnh của luật và văn bản dưới luật.
- Một số kết quả bước đầu trong thực hiện Luật.
Biến điều kiện
Các yếu tố kinh tế, xã hội trong đó đặc biệt là sự phát triển của kinh tế thị
trường và các yếu tố liên quan đến phong tục tập quán, truyền thống văn hoá và
Kết quả thực hiện Luật
Phạm vi tác
động và đối
tượng điều
chỉnh

Điều kiện kinh tế – xã
hội

Hiểu biết của thanh niên
trước kết hôn về Luật Hôn
nhân và gia đình
Tầm quan
trọng của
Luật
Nam, Nữ thanh
niên chưa kết
hôn

- Giới
- Tuổi
- Học vấn

Phần II: nội dung
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của Vấn đề nghiên cứu

1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Lý luận nhận thức Macxit
Nhận thức và sự hiểu biết của con người từ đâu mà có? Con người có
nhận thức được chân lý khách quan không và quá trình nhận thức của con người
thế nào đã và đang là vấn đề mà triết học duy vật và duy tâm tranh luận.
Theo quan điểm duy vật, nhận thức của con người là sự phản ánh của thế
giới khách quan - Thế giới khách quan được con người nhận thức từ cảm giác,
tri giác, biểu tượng đến tư duy trừu tượng. Nhờ tư duy trừu tượng mà con người
hiểu biết được bản chất của các sự vật, hiện tượng của thế giới tự nhiên và xã
hội, nắm được các quy luật và tính quy luật chi phối quá trình vận động và phát
triển của nó - tiếp cận được với chân lý. Chủ nghĩa duy vật Macxit cũng chỉ ra
rằng, sở dĩ con người nhận thức được thế giới khách quan, do con người có lao
động. Nhờ lao động mà đầu óc con người được phản ánh những hiện tượng,
những sự kiện, những quá trình của thế giới hiện thực. Con người hiểu biết thế
giới hiện thực. Nhưng sự phản ánh này không chỉ là sự sao chép đơn thuần thế
giới hiện thực mà còn là sự phản ánh bản chất của chúng với những mối liên hệ
bên trong, tất yếu, tự nhiên của nó. Con người, vì vậy, ngày càng khám phá bản
chất của các sự vật, hiện tượng, phát hiện thêm các quy luật, tiến gần hơn đến
chân lý tuyệt đối. Như vậy, nhận thức của con người là một quá trình từ đơn
giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ hiểu biết ít
đến hiểu biết nhiều - đến chân lý.
áp dụng lý luận nhận thức vào việc nghiên cứu quá trình tiếp cận một hiện
tượng, một sự vật của nhóm xã hội - thanh niên tiền hôn nhân là việc không dễ.
Vì vậy, làm rõ hiểu biết của họ về ý nghĩa, tầm quan trọng của luật, nội dung các
điều khoản chính yếu của luật và việc áp dụng luật trên thực tế là những việc cần
làm. ở đây, xuất phát từ những nguyên lý và lý luận nhận thức cần làm rõ thực
trạng, nguyên nhân sự hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình của nhóm thanh

dung chủ yếu của lý thuyết này coi hành động xã hội có cơ sở xuất phát từ nhu
cầu, động cơ của cá nhân xã hội và kết quả của nó là sự thiết lập các quan hệ xã
hội.

15
Các lý thuyết gia khẳng định khi mỗi cá nhân tham gia vào cuộc sống xã
hội, họ tất yếu phải thực hiện các hành động xã hội. Hành động xã hội xuất hiện
ngay từ khi con người được hình thành, nhu cầu hợp tác để tồn tại và phát triển
đã làm xuất hiện quan hệ tương tác giữa các chủ thể hành động; đến lượt mình,
các hành động xã hội lại tạo kết quả là các mối quan hệ cá nhân - cá nhân, cá
nhân - xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà cá nhân thực hiện hành động, ngược
lại, họ hành động nhằm đạt được các mục đích riêng của bản thân và những mục
đích chung.
Mặc dù mỗi nhà xã hội học trên đều tiếp cận hành động xã hội ở các góc độ
khác nhau, song họ đều thống nhất ở một số điểm:
- Hành động xã hội bao giờ cũng có sự tham gia của yếu tố ý thức dù ở
mức độ khác nhau, có nghĩa là chủ thể hành động luôn gắn cho hành động
một ý nghĩa chủ quan nhất định.
- Hành động xã hội có tính định hướng mục đích
- Hành động xã hội là hành động hướng tới người khác
Trên thực tế, không phải hành động xã hội nào cũng có tính xã hội hay
đều là hành động xã hội. Những hành động chỉ nhằm tới các sự vật mà không
tính đến hành vi của người khác như việc hai người đi xe đạp vô tình va quệt
vào nhau trên đường phố không phải là hành động xã hội, hành động giống nhau
của các cá nhân trong một đám đông như khi mọi người cùng mặc áo mưa do
đột nhiên trời đổ mưa cũng không được coi là hành động xã hội. Với những
hành động như thế này, chúng ta thấy hầu như không có sự tham gia của yếu tố
ý thức mà đó chỉ là sự phản ứng một cách tự nhiên trước hoàn cảnh mà thôi.
Thêm nữa, những hành động này thường diễn ra bất chấp ý chí hay mong muốn
chủ quan của chúng ta. Các nhà xã hội học gọi đây là hành động vật lý - bản

nhận thấy mỗi hành động xã hội của con người có “điểm gốc” là nhu cầu, động
cơ của chủ thể, và “điểm ngọn” là mục đích cần đạt được của chủ thể đó. Tất
nhiên, chu trình của hành động chịu sự chi phối của yếu tố hoàn cảnh thực hiện
hành động của chủ thể. Chúng ta hãy quay lại ví dụ về một cá nhân khi bị đói,
Nhu cầu
Động cơ
Chủ thể
Hoàn cảnh
Công cụ
phương
tiện
Mục
đích

17
họ có nhu cầu là được ăn. Tuy nhiên nếu anh ta ở nơi mà anh ta chỉ có một
mình, anh ta có thể ăn nhanh hơn để đạt đích "được ăn no" nhanh hơn; ngược
lại, khi anh ta đang ở trong một đám đông, anh ta sẽ lựa chọn cách ăn từ tốn
hơn, vì hành động của anh ta lúc này là định hướng vào đám đông nơi anh ta
đang tham gia. Điều này cho thấy, hành động xã hội mà con người thực hiện
không phải là cách con người phản xạ trực tiếp đối với tác nhân kích thích, mà ở
đây, họ phản ứng qua các biểu trưng có ý nghĩa, có nghĩa là họ phản ứng một
cách gián tiếp. Nói như G.Mead, con người tiếp nhận kích thích, tư duy về tình
huống hành động, đặt mình vào vị trí của đối tượng hành động để dự đoán xu
hướng hành động, từ đó, họ mới đưa ra phản ứng trước kích thích. Những yếu tố
này khiến cho hành động của con người mang tính xã hội cao hơn (hành động
hướng đến người khác), và do đó, tính khách quan của hành động, tính định
hướng về môi trường hành động cũng được nâng lên.
Vận dụng lý thuyết này trong luận văn của mình, tác giả coi hiểu biết Luật
hôn nhân gia đình của thanh niên tiền hôn nhân như là một hành động xã hội.

trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình" [6,
tr.254] để phục vụ tốt cho việc thực hiện các mô hình hành động tương ứng với
hệ thống vai trò mà cá nhân phải đóng trong cuộc đời mình. Theo định nghĩa
này, vai trò của cá nhân trong quá trình xã hội hoá chỉ giới hạn trong việc tiếp
nhận các kinh nghiệm, tri thức, giá trị, chuẩn mực xã hội.
Trong đó, xã hội hoá cá nhân diễn ra dưới tác động của ba nhân tố cơ bản:
sự mong đợi, sự thay đổi hành vi và thói khuôn phép. ở đây, xã hội mong đợi mỗi
cá nhân tuân thủ những giá trị, chuẩn mực văn hoá của một nhóm, một cộng đồng
xã hội xác định mà cá nhân hội nhập vào. Trên cơ sở này mà cá nhân xác định
được vị thế của mình và đóng đúng được những vai trò mà vị thế ấy yêu cầu.
Để làm được những việc này, mỗi cá nhân phải hiểu được những khuôn
mẫu hành vi - những khuôn phép mà một nhóm, một cộng đồng xã hội đã định
dạng tuân theo. Đây chính là những khuôn mẫu xã hội đã được quy chuẩn bởi
các nền văn hoá hay các tiểu văn hoá nhóm.
Còn Fichter xem "Xã hội hoá là một quá trình tương tác giữa người này
và người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và

19
thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó". [11] Như vậy, Fichter đã chú ý
tới tính thích ứng của cá nhân trong quá trình xã hội hoá. Đây là sự tương tác xã
hội mà các quan hệ cá nhân được chuyển hoá thành những quan hệ xã hội có
tính khuôn mẫu mà mỗi cá nhân khi hoà nhập vào từng nhóm, từng cộng đồng
xã hội phải tuân theo.
Nhà khoa học người Nga G.Andreeva nêu ra hai mặt của quá trình xã hội
hoá. Bà cho rằng: "Xã hội hoá là quá trình hai mặt. Một mặt cá nhân tiếp nhận
kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống
các quan hệ xã hội. Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống
các quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm
nhập vào các mối quan hệ xã hội đó". [11, tr.255]
Lý thuyết này nhấn mạnh đến không chỉ hoạt động cá nhân trong quá trình

chuẩn luật pháp, đạo đức, lối sống. Qua hệ thống chương trình, giáo trình và bài
giảng và qua cả sự tiếp xúc thầy - trò, trò - trò, mỗi cá nhân được xã hội hoá.
Các luật, văn bản dưới luật, quy chuẩn hành vi của con người, trong đó có quy
chuẩn về hôn nhân và gia đình đã được giáo dục, tuyên truyền trong nhà trường.
Xã hội là môi trường thứ ba giúp con người được xã hội hoá. ở đây, thông
qua các phương tiện truyền thông đại chúng và thông qua các hình thức truyền
thông trực tiếp, con người được truyền thông, tư vấn, tiếp thu những giá trị và
chuẩn mực xã hội. Các hệ tư tưởng, hệ thống các quan điểm chính trị, các khuôn
mẫu hành vi có tính chuẩn mực xã hội được truyền bá qua các hệ thống truyền
thông và qua giao tiếp người - người trong xã hội. Nhờ vậy, xã hội hoá cá nhân
được thực hiện. Các quy chuẩn luật pháp, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán
được mỗi cá nhân và cả cộng đồng tôn trọng, tuân theo thực hiện.
Tính chất của quá trình xã hội hoá: Theo Tony Bilton xã hội hóa là "Một
quá trình khó khăn, phức tạp và rộng khắp” [10, tr.29] bởi vì xã hội hoá chính là
việc tạo lập diện mạo của tất cả các quan hệ xã hội, của tất cả các hoạt động của
con người, cho dù con người và nhóm xã hội có thể nhận thức được hay không
nhận thức được trong quá trình hoạt động.
Vận dụng lý thuyết xã hội hoá vào việc phân tích hiểu biết của nhóm xã
hội thanh niên chưa kết hôn về Luật Hôn nhân và gia đình, cần phải đi sâu, làm

21
rõ đặc trưng xã hội của nhóm xã hội này, gồm: hoàn cảnh, điều kiện kinh tế-xã
hội mà họ đang sống và hoạt động; đặc trưng văn hoá tiểu gia đình mà họ đã
sinh ra, lớn lên; hệ thống giáo dục và tri thức tự nhiên, xã hội, nghề nghiệp mà
họ được đào tạo, những chuẩn mực xã hội và khuôn mẫu hành vi tác phong mà
họ được định hướng tới cùng hệ thống truyền thông mà họ có thể tiếp cận;
những hình mẫu tiêu biểu mà họ ngưỡng mộ, định hướng, noi theo. Thậm chí cả
những loại hành vi, sai lệch xã hội mà hệ thống quản lý nhà nước đang điều
khiển, kiểm sát, điều chỉnh trong quá trình thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình
cũng là những yếu tố cần phải điều tra, làm rõ. Trên cơ sở này mà tiến hành

trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới”.
Quan điểm trên đã được cụ thể hóa trong các văn bản chính sách về gia
đình và đã thể hiện trong thực tế. Trước yêu cầu mới của công cuộc phát triển
phải đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, năm 2005 Ban Bí thư đã
ban hành Chỉ thị số 49-CT/TƯ về xây dựng gia đình Việt Nam, trong đó khẳng
định “Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan
trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát
huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân
lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Với việc coi trọng vai trò của gia đình, từ năm 2001 Đảng và Nhà nước đã
quyết định lấy ngày 28-6 hàng năm là “Ngày gia đình Việt Nam”. Bên cạnh đó
đã thể chế hóa thành luật và ban hành các pháp lệnh và nghị định để hỗ trợ và
điều chỉnh các quan hệ gia đình và công tác gia đình. Chẳng hạn như Luật Hôn
nhân và Gia đình (2000), Luật Bảo vệ, Chăm sóc trẻ em (1991), Luật Phòng
chống Bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới; Luật Đất đai, Pháp lệnh người tàn
tật…
Đường lối của Đảng, pháp luật và chính sách của Nhà nước về gia đình đã
mở ra điều kiện thuận lợi cho củng cố và phát triển gia đình Việt Nam. Trên
thực tế hơn hai mươi năm qua đất nước, xã hội và con người Việt Nam đều đổi
mới. Kinh tế hộ gia đình đã có bước phát triển mạnh, trở thành bộ phận quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần không nhỏ vào quá trình xóa đói
giảm nghèo. Vai trò của phụ nữ trong xã hội và gia đình được đề cao. Các hoạt
động cưới xin và lễ hội cũng có nhiều tiến bộ. Cuộc vận động "Toàn dân đoàn

23
kết xây dựng đời sống văn hóa", các phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc
người có công thu hút sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. Những
điều đó làm đẹp thêm những giá trị nhân văn của gia đình Việt Nam.
1.1.4. Hoàn cảnh ra đời và phát triển của Luật Hôn nhân và gia đình
Mục tiêu cuối cùng trong quá trình phát triển của mỗi một quốc gia là

Trc nm 1959, Vit Nam quan h hụn nhõn nhiu v, nhiu chng cú ng
ký giỏ thỳ hoc khụng cú ng ký giỏ thỳ vn tn ti v c xó hi tha nhn.
Do tn ti lch s, sau nm 1959, min Bc nh nc Vit Nam ó khụng ch
tha nhn nhng quan h hụn nhõn cú ng kớ l hp phỏp m c nhng quan h
hụn nhõn thc t cha ng ký song thc t ó tn ti t trc vn c coi l
hp phỏp. Tng t nh min Bc, nhng quan h hụn nhõn xỏc lp trc
ngy 25/3/1977 min Nam tuy khụng tuõn theo nguyờn tc mt v mt chng
vn c cụng nhn hp phỏp.
K tha v phỏt trin Lut hụn nhõn v gia ỡnh nm 1959, tip tc xõy
dng v cng c gia ỡnh theo nh hng xó hi ch ngha, gi gỡn v phỏt huy
nhng phong tc, tp quỏn tt p ca dõn tc, xoỏ b nhng tc l lc hu,
nhng tn tớch ca ch hụn nhõn v gia ỡnh phũng kin, chng nh hng
ca ch hụn nhõn v gia ỡnh t sn. Ngy 29/12/1986, Quc Hi nc Cng
ho xó hi ch ngha khoỏ VII, k hp th 12, thụng qua Lut Hụn nhõn v gia
ỡnh sa i gm 10 chng, 57 iu (cú hiu lc vo ngy 3/1/1987).
cao vai trũ ca gia ỡnh trong i sng xó hi, gi gỡn v phỏt huy
truyn thng v nhng phong tc, tp quỏn tt p ca dõn tc Vit Nam, xoỏ b
nhng phong tc, tp quỏn lc hu v hụn nhõn v gia ỡnh trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá; ng thi nõng cao trỏch nhim ca cụng dõn,
Nh nc v xó hi trong vic xõy dng, cng c ch hụn nhõn v gia ỡnh
Vit Nam, k tha v phỏt trin phỏp lut v hụn nhõn v gia ỡnh Vit Nam,
ngy 09 thỏng 6 nm 2000 Quc hi nc Cng hũa xó hi ch ngha Vit Nam
khúa X, k hp th 7 thụng qua Luật Hôn nhân và gia đình gm 13 chng
v 110 iu (cú hiu lc thi hnh vo ngy 1/1/2001).
mt vn bn lut c thc thi trong cuc sng, cn cú h thng
nhng vn bn di lut gii thớch, hng dn ỏp dng chỳng ú. Vớ d:
hng dn thi hnh Lut Hụn nhõn v Gia ỡnh 1959 cú Thụng t 60 ngy

25
22/2/1978 của Tòa án nhân dân tối cao… Tương tự như vậy, để hưíng dẫn thi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status