tóm tắt luận án hôn nhân và gia đình của tộc người brâu ở làng đắk mế, xã bờ y, huyện ngọc hồi, tỉnh kon tum - Pdf 22

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Dân tộc Brâu có 397 người, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ - me, là một trong số 16 tộc người có dân
số dưới 10.000 người ở Việt Nam (Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam ngày 1/4/2009). Người Brâu
ở Việt Nam chỉ cư trú tập trung tại làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum Theo những
người già ở Đắk Mế cho biết, tổ tiên của họ di cư từ Nam Lào và Đông Bắc Căm Pu Chia đến khu vực ngã
ba biên giới Việt Nam, Lào và Căm Pu Chia ước khoảng từ 6 đến 7 thế hệ (tức là từ 160 đến 170 năm
nay).
Tại làng Đắk Mế, mặc dù cư trú thành một cộng đồng riêng, nhưng người Brâu vẫn có mối quan hệ xã
hội và văn hóa chặt chẽ với các tộc người láng giềng như Xơ-đăng, Giẻ-Triêng, Rơ-măm, Gia-rai, Tày,
Mường, Kinh (Việt), nhất là từ những năm sau đổi mới (1986).
Thời điểm đáng chú ý nhất là từ tháng 11 năm 2005, khi mà Chính phủ Việt Nam ra quyết định thành
lập và ban hành Quy chế hoạt động của Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y thuộc xã Bờ Y, huyện Ngọc
Hồi, tỉnh Kon Tum đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa và giao lưu thương mại, xã hôi và văn hóa trên địa bàn
sinh sống của người Brâu rất nhanh chóng. Đặc biệt là sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Brâu,
trong đó hôn nhân và gia đình là lĩnh vực biến đổi đáng kể nhất. Do đây là cộng đồng thiểu số có dân số ít,
vừa có quan hệ xuyên biên giới, vì vậy, việc tìm hiểu những vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình của
người Brâu dưới tác động của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập ở địa bàn ngã ba biên giới có ý nghĩa rất lớn về khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Thông qua kết quả nghiên cứu, đề tài mong muốn vừa góp phần tìm hiểu những vấn đề quan hệ tộc người
trong nước và xuyên biên giới, vừa góp phần nhìn nhận sự biến đổi của các hình thức hôn nhân và gia đình
1
của người Brâu trong quá trình vận động của lịch sử xã hội. Bên cạnh đó, đề tài hy vọng sẽ giúp các nhà
quản lý tham khảo trên cơ sở đó hoạch định những chính sách xã hội cụ thể về dân số và kế hoạch hóa gia
đình, xây dựng quy mô gia đình và văn hóa gia đình, giúp Đảng và Nhà nước có những quy định phù hợp
với đặc điểm riêng đối với những tộc người có dân số ít, đặc biệt khó khăn ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên
giới trong đó có người Brâu.
2. Mục tiêu luận án
Một là, tìm hiểu về hôn nhân và gia đình truyền thống của người Brâu và những biến đổi qua các thời
kỳ trước và sau năm 1975, đặc biệt là sau khi thành lập Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Bờ Y từ năm 2005
đến thời điểm nghiên cứu.

năm 1975 đến nay của tộc người Brâu
- Kết quả nghiên cứu của luận án là luận cứ khoa học giúp cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, xây
dựng chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình đối với tộc người Brâu, một trong số 16 tộc người có dân số ít
ở Việt Nam đang được Đảng và Nhà nước có chính sách ưu tiên đặc biệt trong phát triển kinh tế - xã hội,
văn hóa.
6. Bố cục của luận án
3
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 5
chương.
Chương 1. Tổng quan tài liệu, cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và khái quát tộc người Brâu ở tỉnh
Kon Tum.
Chương 2. Hôn nhân
Chương 3. Gia đình
Chương 4. Biến đổi trong hôn nhân và gia đình
Chương 5. Kết quả và bàn luận
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KHÁI QUÁT
VỀ TỘC NGƯỜI BRÂU Ở TỈNH KON TUM
1.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu của học giả nước ngoài
Cho đến nay, những ấn phẩm, công trình khoa học viết về người Brâu ở Đông Dương nói chung và Việt
Nam nói riêng, đặc biệt là lĩnh vực hôn nhân và gia đình của tộc người này còn rất ít ỏi. Duy nhất một
công trình khảo cứu dân tộc học của Viện Khoa học xã hội Lào được xuất bản năm 2005 bằng tiếng Anh
về người Brâu trong cuốn Các dân tộc thiểu số ở Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (The Ethnics
Groups in Laos P.D.R.). Tuy nhiên, ở đây người viết cũng chỉ giới thiệu một cách rất đại quát về nguồn
gốc lịch sử nghi lễ hôn nhân và gia đình của người Brâu mà thôi.
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả Việt Nam
Một trong những công trình nghiên cứu liên quan đến người Brâu đầu tiên phải kể đến là cuốn Các tộc

đủ và toàn diện về tộc người này từ các chiều cạnh khác nhau, đặc biệt là từ góc nhìn nhân học văn hóa. Đó
là làm sao trong quá trình giao lưu và hội nhập về văn hóa, xã hội với các dân tộc trong nước và khu vực (các
dân tộc nói chung và các dân tộc có dân số ít nói riêng như Brâu ở Việt Nam) vẫn không đánh mất đi những
giá trị văn hóa của tộc người mình. Vấn đề là dựa trên cơ sở, luận cứ khoa học như thế nào? Với người Brâu
trong trường hợp này là cần được giải đáp hết sức cụ thể và phù hợp.
1.2. Cở sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản và quan điểm liên quan đến nghiên cứu hôn nhân và gia đình
Luận án đã đề cập đến một số các khái niệm then chốt từ góc độ nhân học văn hóa:
- Liên quan đến hôn nhân có: Hôn nhân, hôn nhân một vợ một chồng, và khái niệm hôn nhân trong bộ
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000;
- Khái niệm về gia đình trong Bách khoa toàn thư Việt Nam; Gia đình với định nghĩa của các nhà nhân học
văn hóa, dân tộc học và các quan điểm về gia đình hiện đại của xã hội học; Gia đình và hàm khái niệm gia
đình trong bộ Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000;
1.2.2. Một số lý thuyết
Bốn lý thuyết chính được NCS sử dụng trong luận án, đó là:
1/ Lý thuyết Cấu trúc luận (Structuralism);2/ Thuyết Chức năng luận (Functionalism); 3/ Thuyết về sự
biến đổi và biến đổi xã hội (Change, Social change), và 4/ Thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation).
1.2.3. Phương pháp nghiên cứu
Ba phương pháp nghiên cứu cụ thể đã được áp dụng đối với đề tài luận án như sau:
7
1/ Điền dã dân tộc học, là phương pháp chủ đạo thu thập tư liệu tại cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân
liên quan đến tập tục, qui ước và các thiết chế xã hội lễ nghi liên quan đến hôn nhân truyền thống tộc
người Brâu;
2/ Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân để tìm hiểu bối cảnh hôn nhân cụ thể đối với các trường hợp
hôn nhân cùng dân tộc, hôn nhân hỗn hợp, ly dị và đời sống, quan hệ gia đình hậu hôn nhân;
3/ Phương pháp thảo luận nhóm và điều tra xã hội học để thu thập các dữ liệu cá nhân và nhóm tuổi, giới,
nghề nghiệp tình trạng hôn nhân và quan hệ gia đình, động thái và xu hướng biến đổi dưới tác động của các yếu
tố xã hội, chính sách và môi trường văn hóa,v.v
1.3. Khái quát về người Brâu ở tỉnh Kon Tum
1.3.1. Khái quát về tỉnh Kon Tum

đồng.
Văn hoá dân gian
Người Brâu có đời sống tâm linh/tín ngưỡng nguyên thủy (đa thần), theo đó là cả một hệ thống lễ thức, lễ
hội, nghệ thuật dân gian rất phong phú và đặc sắc.
Tiểu kết chương 1
9
Người Brâu có 353 người, hiện cư trú tại làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Cộng
đồng này có quan hệ khá chặt chẽ với người Brâu ở Lào và Campuchia. Một bộ phận nhỏ người Brâu từ Lào
di cư sang Việt Nam đã được 6 - 7 thế hệ. Trước năm 1975, người Brâu sống du canh, du cư ở khu vực
ngã ba biên giới Việt Nam, Lào và Campuchia (ngã ba Đông Dương).
Sau 1975, khi đất nước được thống nhất, Đảng và Nhà nước có chế độ chính sách ưu tiên đặc biệt nên
người Brâu ổn định và phát triển. Tuy nhiên, tháng 4 năm 1991, làng truyền thống của người Brâu bị cháy
hoàn toàn, khiến người Brâu ở làng Đắk Mế đối diện với những khó khăn lớn về kinh tế - xã hội. Năm
2005, khi cửa khẩu quốc tế Bờ Y và khu thương mại được xây dựng thuộc địa phận làng Đắk Mế đi vào
hoạt động đã tác động trực tiếp khiến cho người Brâu đối diện với những vấn đề của hội nhập để phát triển
kinh tế - xã hội cũng như không ít thách thức trong bảo tồn các giá trị văn hóa cổ truyền.
10
CHƯƠNG 2
HÔN NHÂN
2.1. Quan niệm của người Brâu về hôn nhân
2.1.1. Lễ thức thành đinh nguyên thủy
Theo tập tục Brâu, con trai, con gái từ 13 đến 14 tuổi đã có thể lấy vợ, lấy chồng. Vì thế, con cái đến độ
tuổi này cha mẹ bắt đầu quan tâm tới việc dựng vợ, gả chồng cho những đứa con của mình. Tuy nhiên, để
được coi là trưởng thành, thì người con trai, con gái phải trải qua, khẳng định và được đánh dấu bằng một sự
kiện luật tục quan trọng, đó là lễ cà răng (uốt pưng) và căng tai (síp tiêu). Sau khi làm lễ cà răng, căng tai,
người đó mới được coi là trưởng thành và được tự do tìm kiếm bạn tình. Nếu người con trai hay con gái
không hoàn thành nghi lễ này đều bị dư luận trong làng chê cười, bạn bè khinh rẻ và không “bắt” được vợ
được chồng.
2.1.2. Tìm bạn đời
Trai gái Brâu đến tuổi trưởng thành, được tự do đi tìm kiếm bạn tình, hoặc do bạn bè tác hợp, nhưng đôi khi

2.3. Tính chất của hôn nhân
Trong xã hội truyền thống của người Brâu không có sự phân biệt tầng lớp, đẳng cấp xã hội, yếu tố giàu
nghèo. Vì vậy, vấn đề môn đăng, hộ đối, thách cưới hay mua bán không được đặt ra trong quan hệ hôn
nhân và gia đình ở người Brâu.
2.4. Các nghi thức trong hôn nhân
2.4.1. Lễ dạm hỏi hay lễ trao vòng (đoók gia vư)
Trai, gái Brâu đến tuổi yêu đương tự do tìm kiếm bạn tình, khi tình yêu của họ đến độ chín muồi, chàng
trai về thưa chuyện với cha mẹ. Gia đình chọn người có tài ăn nói để làm ông mối. Ông mối có nhiệm vụ
thăm dò, đánh tiếng, ướm hỏi chuyện trăm năm cho đôi lứa. Nếu thấy gia đình cô gái có vẻ ưng thuận, ông
mối báo với nhà trai chuẩn bị lễ vật, chọn ngày lành, tháng tốt để sang nhà cô gái tiến hành lễ trao vòng
cầu hôn. Ông mối tiến hành nghi lễ thông báo với Jàng về việc đôi trai gái đã trao vòng hẹn ước. Từ đây
họ lên rẫy, xuống sông đều có nhau và có thể tự do gần gũi.
2.4.2. Lễ cưới (nhét bơdoong me bơlo)
Lễ cưới được tổ chức tại nhà gái, nhưng lễ vật/vật chất do nhà trai chuẩn bị. Nếu là gia đình khá giả thì
lễ vật là trâu, bò và nhiều rượu, ít thì cũng phải có heo, gà và rượu, đủ dùng cho hai gia đình và cả cộng
đồng. Đây là nghi thức quan trọng nhất trong đời người nên người Brâu dành cho đôi trẻ nhiều sự quan
tâm đặc biệt cả về tinh thân và vật chất.
Lễ cưới thường diễn ra trong 3 ngày: Ngày thứ nhất ,ông mối (chủ lễ) chuẩn bị lễ vật (gà, rượu cần) làm
lễ cúng trước sân nhà gái, thông báo với Jàng việc gia đình và cộng đồng tổ chức lễ cưới cho đôi trai gái.
Trong ngày này, mọi người cùng nhau chế biến đồ ăn, thức uống để cả làng đủ dùng trong 3 ngày diễn ra
đám cưới. Ngày thứ hai, ngày vui nhất, mọi người cùng ăn uống, vui chơi ca hát, nhảy múa chúc mừng
13
cho đôi vợ chồng trẻ. Cứ thế, họ ăn uống chung vui và chúc tụng nhau những điều tốt đẹp nhất, thâu đêm
đến tận sáng hôm sau. Ngày thứ ba , ông mối làm lễ cúng để cảm ơn Jàng đã xuống chung vui với đôi trai
gái, hai bên gia đình và cả dân làng. Cầu mong Jàng trợ giúp cho đôi trai gái mạnh khỏe, sinh nhiều con
trai, con gái, không ăn ở hai lòng, không chia lìa đôi lứa và đem lại cho dân làng no ấm và bình yên.
2.4.3. Lễ lại mặt (tơ vinh chem)
Sau lễ cưới 1- 2 ngày, người con trai đưa vợ và cha mẹ vợ lại thăm gia đình nhà mình với mục đích để
nhà gái đáp lễ nhà trai đã tặng cho họ một chàng rể quý và một lễ cưới chu đáo, vui vẻ. Hai bên gia đình
dành cho nhau sự quý trọng nhất. Hôn nhân của đôi trai gái đã tạo dựng được liên minh trong quan hệ. Nó

khích.
Đôi trai gái quyết định vấn đề hôn nhân. Cha mẹ có vai trò tác động, định hướng. Vai trò của ông cậu
mờ nhạt trong việc dựng vợ, gả chồng cho con cháu. Lễ thức hôn nhân của người Brâu là một sự kiện quan
trọng nhất trong vòng đời người. Nó được tổ chức trang trọng và được dành nhiều sản vật quý, với sự có mặt
đông đủ của cả cộng đồng trong niềm vui bất tận, ngập tràn trong không khí lễ hội.
15
CHƯƠNG 3
GIA ĐÌNH
3.1. Phân loại và cấu trúc gia đình của người Brâu
Các nhà dân tộc học Việt Nam phân loại gia đình truyền thống của tộc người Brâu là gia đình phụ
hệ. Tuy nhiên, qua nghiên cứu chúng tôi thấy gia đình tộc người Brâu là gia đình phụ hệ nhưng chứa
đựng nhiều biểu hiện của gia đình mẫu hệ. Trong một số trường hợp, người con nhập về nhóm cha,
có đứa nhập về nhóm mẹ, có trường hợp lại không hẳn nhập vào nhóm cha cũng không hẳn nhập vào
nhóm mẹ. Biểu hiện này cho thấy cấu trúc gia đình tộc người Brâu theo phụ hệ nhưng có biểu hiện của gia
đình mẫu hệ, đôi khi là song hệ.
3.2. Quy mô gia đình Brâu
Trước năm 1975, tộc người Brâu tồn tại quy mô đại gia đình. Sau năm 1975 đến trước năm 1991, đại
gia đình dần chia tách thành tiểu gia đình. Hiện nay, gia đình tộc người Brâu đã chia tách một cách triệt để
thành tiểu gia đình (gia đình hạt nhân), có trường hợp không còn là gia đình hạt nhân trọn vẹn (hộ gia
đình). Quy mô hộ gia đình bình quân là 4 người.
3.3. Chức năng của gia đình Brâu
Chức năng của gia đình có nhiều quan điểm, nhiều cách chia khác nhau. Trong luận án, chúng tôi phân chia
thành 5 chức năng chủ yếu là: 1. Chức năng sinh học (tái sản xuất sức lao động), 2. Chức năng kinh tế, 3. Chức
năng xã hội, 4. Chức năng giáo dục, 5. Chức năng văn hóa. Trong gia đình của tộc người Brâu các chức năng
này có vị trí đặc biệt quan trọng giúp cho cộng đồng tộc người Brâu ổn định, phát triển.
3.4. Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Brâu
16
3.4.1. Mối quan hệ huyết thống
Mối quan hệ trong gia đình của người Brâu (nam kran) được thiết lập một cách chặt chẽ. Đó là quan hệ vợ -
chồng (trih – clo), cha - con (pơ – cuôn), mẹ - con (mệ - cuôn), ông, bà – cháu (dạ y – mon), cụ - cháu ( dạ trằng

BIẾN ĐỔI VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
4.1. Biến đổi về hôn nhân
Cùng với quá trình vận động và phát triển của xã hội, sự tác động của nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội
nhập, giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa các tộc người trong khu vực, Quốc gia và quốc tế đã tác động trực
tiếp đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình của tộc người Brâu, cả tích cực và tiêu cực.
4.1.1. Biến đổi về quan niệm hôn nhân
- Lễ thức thành đinh nguyên thuỷ (cà răng, căng tai) không còn tồn tại trong quan niệm hôn nhân của
người Brâu. Chúng ta chỉ thấy dấu vết trên gương mặt một số người lớn tuổi (trên 60 tuổi).
18
- Tiêu chuẩn chọn vợ (chồng) lý tưởng của tộc người Brâu vẫn là đạo đức, tinh thần trách nhiệm và giỏi giang
công việc lao động sản xuất và trách nhiệm với gia đình và cộng đồng. Ngày nay, ngoài tiêu chuẩn này, vấn đề
học vấn, kinh tế, việc làm, vị trí xã hội (cán bộ thôn, xã, cán bộ Nhà nước, ) cũng được người Brâu quan
tâm.
- Quyền quyết định hôn nhân do đôi trai, gái quyết định. Cha, mẹ, bạn bè, người thân (ông cậu) có vai
trò tác động.
- Tuổi kết hôn của trai gái Brâu có tăng lên, nữ từ 16 đến 18 tuổi, nam từ 18 đến 20 tuổi (trước đây từ
13 đến 14 tuổi). Hiện tượng nữ kết hôn ở tuổi 13, sinh con 15 tuổi vẫn còn xảy ra.
- Thủ tục đăng ký kết hôn của đôi trai gái tại chính quyền chưa được gia đình và cô dâu, chú rể coi trọng.
Theo nghiên cứu năm 2010 có 30% các cặp vợ chồng đăng ký kết hôn trước khi làm đám cưới, 20% sau
đám cưới, 50% không đăng ký kết hôn.
4.1.2. Biến đổi về nguyên tắc trong hôn nhân
Người Brâu có nguyên tắc ngoại hôn dòng họ và nội hôn tộc người, tuy nhiên giai đoạn hiện nay xu hướng
hôn nhân hỗn hợp tộc người ngày càng mở rộng về số lượng các cặp vợ chồng cũng như thành phân tộc
người.
4.1.3. Biến đổi về tính chất của hôn nhân
Trong xã hội người Brâu không phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo, Do vậy, trong hôn nhân vấn đề thách
cưới, mua bán hay môn đăng, hộ đối không được đặt ra. Vấn đề bỏ vợ, bỏ chồng trước đây của người Brâu
rất hiếm, có chăng chỉ là trường hợp cá biệt. Ngày nay số cặp vợ chồng trẻ ly hôn diễn ra nhiều hơn, nhất
là hôn nhân khác tộc người (Thái, Mường, Kinh)
4.1.4. Biến đổi về nghi thức trong hôn nhân

hôn phối của các dòng văn hóa” làm thay đổi “ diện mạo văn hóa” Brâu trong giai đoạn hiện
nay.
4.2.4. Biến đổi về các nghi lễ gia đình
Lễ thức hôn nhân và gia đình của người Brâu hiện nay có nhiều biến đổi. Lễ cầu đẻ thuận (nhet roi boi)
được nhìn nhận và tổ chức một các nhẹ nhàng hơn và thay vào đó là sự chăm sóc của cán bộ y tế thôn, xã.
Lễ đặt tên (bruh chơ nu) không còn mang tính ước đoán hay ngẫu nhiên nữa, mà hơn thế việc đặt tên cho
con cái của người Brâu hiện nay nhiều trường hợp vượt khỏi âm ngữ truyền thống xưa kia như (Xrẹ,
Blong, Brát, Criêng, Plú, ) để thay vào đó là những cái tên như: Hùng, Hoa, Mai, Hương, Tiên, là tên
gọi phổ thông của người Kinh. Lễ cúng đau ốm (bra ta pâu puar) chỉ mang tính trấn an, thay vào đó là
việc chữa bệnh tại cơ sở y tế. Lễ tang (bra kđoóc) được tiến hành gọn hơn, ít tốn kém vật chất và đảm bảo
vệ sinh hơn,…
Về các mối quan hệ trong gia đình cũng biến đổi theo hướng lỏng lẻo hơn, khi gia đình lớn phân rã triệt để thành các
hộ gia đình. Mối liên kết tình cảm, chia sẻ, gánh vác trách nhiệm chăm sóc lẫn nhau giữa các thế hệ có phần thiếu vắng.
Hơn thế, xu hướng hôn nhân hỗn hợp tộc người khiến các thành viên trong gia đình dung hòa, thoả hiệp một thế ứng
xử mới.
4.3. Nguyên nhân của sự biến đổi
4.3.1. Tác động của thể chế chính trị/ luật pháp
21
Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Hình sự ban hành năm 1999, Bộ luật Dân sự năm 1996, Luật tố
tụng hình sự, Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Nghị định số 32/2002/NĐ-CP, ngày 27 tháng 3 năm
2002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với các tộc người thiểu số.
4.3.2. Tác động của các chương trình và chính sách phát triển kinh tế - xã hội
- Các chương trình, dự án, hội nhập kinh tế, giao lưu, tiếp biến văn hoá giữa các tộc người trong khu vực
là nguyên nhân trực tiếp tác động làm thay đổi đời sống kinh tế, xã hội của cộng đồng.
Tiểu kết chương 4
Hôn nhân và gia đình truyền thống của người Brâu có sự biến đổi không chỉ ở hình thức mà hơn thế là
sự biết đổi về nguyên tắc, đặc trưng và tính chất, cấu trúc, quy mô. Sự biến đổi này có mặt tích cực và
cũng có nhiều ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển bền vững của tộc người Brâu trong giai đoạn hiện
nay.
Sự đan xen/song hành giữa luật tục của người Brâu với luật pháp và những qui định, qui ước mới trong

cách đây từ 3 đến 4 thế hệ và cùng không được cộng đồng khuyến khích
Sáu là, xu hướng hôn nhân hỗn hợp, mở rộng với các tộc người trong khu vực, Quốc gia và bên kia biên giới
Lào, Campuchia.
Bảy là, vấn đề bỏ vợ, bỏ chồng trước đây đối với người Brâu rất ít khi xảy ra, nếu có thì cũng là những trường
hợp đặc biệt. Ngày nay việc ly hôn đối với các cặp vợ chồng xảy ra nhiều hơn, tập trung ở lớp người trẻ tuổi và
hôn nhân với tộc người khác, nhất là với người Kinh.
Tám là, chấp hành Luật Hôn nhân và gia đình đối với người Brâu hiện nay chưa được tốt. Việc lấy vợ
(chồng) của người Brâu chủ yếu vẫn theo luật tục. Trai gái đăng ký kết hôn tại chính quyền chưa được gia
đình và cô dâu, chú rể coi trọng (30% các cặp vợ chồng đăng ký kết hôn trước khi làm đám cưới, 20 % sau
đám cưới, 50% không đăng ký kết hôn (số liệu năm 2010).
5.1.2. Về gia đình
Một là, gia đình truyền thống của người Brâu tồn tại hình thức gia đình lớn, phụ hệ (còn nhiều dấu vết của
mẫu hệ) đôi khi không xác định (song hệ ?). Trải qua quá trình vận động lịch sử xã hội và quá trình tộc
người (chủ quan, khách quan) đại gia đình phụ hệ của người Brâu đã phân rã triệt để thành tiểu gia đình phụ
hệ.
Hai là, cùng với việc phát triển kinh tế - xã hội, nhất là khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y, đã và đang tác
động trực tiếp tới mỗi cá nhân và gia đình của người Brâu làm nhanh chóng, ít nhiều thay đổi tính chất,
quy mô và các mối qua hệ trong gia đình.
Ba là, hôn nhân hỗn hợp khiến trong một gia đình/hộ gia đình có đa thành phần tộc người, tạo nên một thế
ứng xử mới giữa cha mẹ với con dâu/rể (người dân tộc khác) và cháu (con lai).
24
Bốn là, quá trình cư trú xen cài giữa các gia đình/hộ gia đình của nhiều tộc người, vùng miền, ngành
nghề trong làng Đắk Mế, khiến cho tính bền vững của văn hóa gia đình truyền thống bị ảnh hưởng theo
chiều hướng hòa tan, dù chủ động hay bị động đều dẫn đến sự hòa trộn, mờ dần và mất bản sắc do thỏa
hiệp để tồn tại vì quy mô tộc người rất nhỏ là điều đã và đang diễn ra mạnh mẽ đối với người Brâu hiện
nay.
5.2. Bàn luận về hôn nhân và gia đình của người Brâu
5.2.1. Hôn nhân và gia đình của người Brâu - vấn đề được các nhà khoa học xã hội đặc biệt quan tâm
Hôn nhân và gia đình của người Brâu ở Việt Nam đang được nhiều người quan tâm, nhất là quy mô dân số
và chất lượng dân số. Nhiều bài báo viết rằng: nguyên nhân suy giảm dân số của tộc người Brâu là do hôn nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status