ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
–––––––––––––––––––––
LỤC THỊ SOAN
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA NGƢỜI DAO Ở
HUYỆN NGUYÊN BÌNH TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. ĐÀM THỊ UYÊN
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tác giả, tất cả các số liệu, thông tin, kết quả nghiên cứu của luận văn là trung
thực, chưa từng được công bố.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm luận văn và nhà
trường về sự cam đoan này.
Thái Nguyên tháng 7 năm 2015
Tác giả: Lục Thị Soan
liệu quý giá. Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đã động viên,
khích lệ tác giả trong thời gian hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên tháng 4 năm 2015
Tác giả luận văn
Lục Thị Soan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – iiĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Lời cam đoan ..................................................................................................... i
Lời cảm ơn ....................................................................................................... ii
Mục lục ........................................................................................................... iii
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt............................................................... iv
Danh mục các bảng........................................................................................... v
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ....................................................................... 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài ............................... 6
4. Nhiệm vụ đề tài ........................................................................................ 6
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................... 6
6. Đóng góp của luận văn ............................................................................ 7
7. Bố cục của luận văn: ................................................................................ 7
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI DAO Ở HUYỆN NGUYÊN
BÌNH TỈNH CAO BẰNG .............................................................................. 8
1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên .............................................................. 8
1.2. Lịch sử hành chính huyện Nguyên Bình ............................................. 12
1.3. Người Dao ở huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng .............................. 14
1.3.1. Nguồn gốc lịch sử của người Dao ở Nguyên Bình ........................... 14
3.3.1. Chức năng sinh sản, tái sản xuất con người ...................................... 76
3.3.2. Chức năng kinh tế ............................................................................ 78
3.3.3. Chức năng giáo dục, xã hội .............................................................. 79
3.3.4. Chức năng văn hóa ........................................................................... 80
3.4. Những nghi lễ gia đình ........................................................................ 82
3.4.1. Nghi lễ thờ cúng tổ tiên .................................................................... 82
3.4.2. Nghi lễ sinh đẻ ................................................................................. 83
3.4.3. Nghi lễ trong tang ma ....................................................................... 85
3.5. Những biến đổi về gia đình trong giai đoạn hiện nay .......................... 88
KẾT LUẬN .................................................................................................. 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 96
DANH SÁCH NHỮNG NGƢỜI CUNG CẤP TƢ LIỆU
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
∆
: Nam
O
: Nữ
=
: Quan hệ hôn nhân
TS
: Tiến sĩ
GDTH– ĐĐT
: Giáo dục Tiểu học - Đúng độ tuổi
THCS
: Trung học sơ sở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng thống kê các thành phần dân tộc trong huyện Nguyên Bình . 34
Bảng 2.1: Lễ vật thách cưới ........................................................................... 50
Bảng 3.1: Số con trong gia đình người Dao Đỏ ở thôn Nà Vài xã Thành Công......78
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phong tục tập quán là những nếp sống, phong tục, do những người sống
trong xã hội tự đặt ra, là sản phẩm văn hóa được tích lũy lâu dài của mỗi dân
những nguy cơ làm phai nhạt những giá trị văn hóa truyền thống, cũng như
phong tục tập quán tốt đẹp. Một trong những nét văn hóa độc đáo của đồng bào
Dao ở 3 xã như đã nêu trên, mà tác giả muốn nghiên cứu ở đây, là Hôn nhân
và Gia đình.
Thứ nhất, hôn nhân là những nghi lễ và tập tục mà các dân tộc đã và
đang thực hiện trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước, để xây dựng và duy
trì, củng cố và phát triển gia đình, trong giai đoạn hội nhập và phát triển hôn
nhân gia đình phần nào cũng có những thay đổi đáng kể.
Thứ hai, gia đình là tế bào của xã hội, “gia đình tốt thì xã hội mới tốt.
Hạt nhân cơ bản của xã hội là gia đình”(Hồ Chí Minh). Gia đình là một thể chế
xã hội luôn có vị trí và vai trò to lớn, một đơn vị kinh tế của xã hội cụ thể,
phạm trù lịch sử, là yếu tố năng động không bao giờ đứng nguyên. Ngày nay,
trong bối cảnh toàn cầu hóa, gia đình đang đứng trước những tác động mạnh
mẽ và có nhiều biến động lớn trong sự phát triển chung của xã hội, cùng với đó
là sự đan xen và giao lưu văn hóa giữa các vùng miền với nhau, giữa các dân
tộc trong và ngoài nước, vì thế, các yếu tố giữa gia đình truyền thống và hiện
đại phần nào đó làm thay đổi diện mạo của gia đình.
Vì vậy, có thể nói, hôn nhân và Gia đình là vấn đề có tầm quan trọng đặc
biệt, là một phần không thể thiếu trong bản sắc văn hóa dân tộc. Đó cũng chính là
lý do tác giả chọn đề tài: “Hôn nhân và Gia đình của người Dao ở huyện Nguyên
Bình, tỉnh Cao Bằng” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đến nay, người Dao ở nước ta đã được đề cập trong nhiều tác phẩm, bài
viết của không ít học giả trong và ngoài nước. Trong thời kỳ phong kiến có tác
phẩm “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn, trong tác phẩm này, tác giả chỉ đề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 2ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
cập đến nguồn gốc và mô tả khái quát về cách ăn mặc, và cuộc sống di cư của
một số nhóm người Mán (Dao) mà chưa thấy đề cập đến vấn đề hôn nhân và
[33]. Nhưng những công trình nghiên cứu có giá trị khoa học nhất lại là công
trình của Auguste Bonifacy. Ông ta là một sĩ quan thực dân Pháp, giỏi chữ Dao
cổ, say mê nghiên cứu dân tộc học. Ông đăng các chuyên khảo về người Dao
trong “Tạp chí Đông Dương” như các chuyên khảo: “Mán quần cộc” 1904 1905, “Mán quần trắng” - 1905, “Mán chàm hoặc Lam Diên” - 1906, “Mán
Tiểu Bản hay Đeo Tiền” - 1907, “Mán Đại Bản, Cộc hoặc Sừng” - 1908…Các
tác phẩm của ông đã miêu tả khá sinh động về nhà cửa, trang phục, kinh tế, tổ
chức xã hội, các nghi lễ, văn học, nghệ thuật, tôn giáo…Ông cũng là một nhà
ngôn ngữ học nên trong các tác phẩm về người Dao ông đã thống kê các tên gọi
của từng nhóm tộc người Dao (cả tên tự gọi và tên các dân tộc khác gọi). Ông
cũng phân loại các ngành Dao thành 2 nhóm ngôn ngữ mà từ “người” gọi là
Mun” (Mán quần trắng, Mán Lam Điền) và từ “người” gọi là “Miên” (như
nhóm Mán Tiền, Mán Đại Bản). Ông đọc được các sách ghi chép của người
Dao nên những công trình nghiên cứu của ông về tôn giáo tín ngưỡng, văn học
dân gian rất phong phú tư liệu, đến nay nhiều công trình của ông vẫn còn giá
trị, [2.1]. Tuy nhiên do mục đích phục vụ ách đô hộ của thực dân Pháp đồng
thời các công trình này vẫn chịu ảnh hưởng của thuyết tiến hóa luận, miêu tả
người Dao như dân tộc còn lạc hậu, thiếu ánh sáng văn minh và cần phải được
thực dân Pháp khai hóa.
Từ cuối thập kỷ 50 đến đầu thập kỷ 70, các nhà nghiên cứu người Dao
tập trung nghiên cứu cơ bản nhằm xác định thành phần tộc người. Một trong
những học giả đầu tiên nghiên cứu về người Dao là nhà dân tộc học Mạc
Đường. Ông là tác giả của một số bài báo khoa học và bài viết về người Dao
trong công trình giới thiệu về các dân tộc ở Việt Nam đầu tiên “Các dân tộc
thiểu số ở Việt Nam” [22], tr.119 - 138].
Đặc biệt, năm 1971 các tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông
Trung, Nguyễn Nam Tiến đã xuất bản công trình “Dân tộc chí” về người Dao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 4ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
với tên gọi “Người Dao ở Việt Nam”, [13, tr. 151, 152 - 153]. Trong số các tác
nghiên cứu đi trước là những ý kiến gợi mở, quý báu tạo điều kiện cho chúng
tôi thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Hôn nhân và Gia đình của người Dao Đỏ ở
huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Trong đó bao gồm những nguyên tắc và
nghi lễ hôn nhân, các loại hình gia đình, những nghi lễ trong gia đình…
- Phạm vi thời gian: Hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ ở huyện
Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng từ năm 1986 đến năm 2013.
- Phạm vi không gian: Vấn đề tìm hiểu là hôn nhân và gia đình của
người Dao ở huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng. Tuy nhiên, người Dao Đỏ
chiếm 92,29% tổng số người Dao toàn huyện, mà chủ yếu tập trung ở 3 xã
Thành Công, Phan Thanh và Mai Long, nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về
người Dao Đỏ ở 3 xã như đã nêu trên.
4. Nhiệm vụ đề tài
Sưu tầm hệ thống tư liệu, về hôn nhân và gia đình của người Dao Đỏ,
trên cơ sở đó, làm tiến trình hôn nhân của người Dao Đỏ và bức tranh xã hội cổ
truyền ở 3 xã Thành Công, Phan Thanh và Mai Long của huyện nguyên Bình,
tỉnh Cao Bằng. Qua đó chúng ta thấy được những tác động của khoa học kỹ
thuật, và sự ảnh hưởng của nó đến gia đình truyền thống của người Dao Đỏ, và
một số dân tộc khác. Từ đó nhằm phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp,
loại bỏ những yếu tố lạc hậu cũng như những giá trị mới không phù hợp, xây
dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, góp thêm nhiều tư liệu làm cơ sở
khoa học cho các nhà quản lý hoạch định chính sách, chủ trương cụ thể trong
lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu: Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã tham khảo nhiều
nguồn tư liệu và những công trình nghiên cứu khoa học từ thời phong kiến đến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 6ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI DAO Ở HUYỆN NGUYÊN BÌNH
TỈNH CAO BẰNG
1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Huyện Nguyên Bình ngày nay, cách thành phố Cao Bằng 45 km về phía
tây, nằm ở vị trí tọa độ 105O 40phút kinh độ Đông, 22O 30phút - 22O 50 phút vĩ
độ Bắc; Phía Đông giáp huyện Hòa An; Phía Tây giáp huyện Bảo Lạc và Ba
Bể; Phía Nam giáp huyện Ngân Sơn của tỉnh Bắc Kạn; Phía Bắc giáp huyện
Thông Nông. Do kiến tạo địa chất nên địa hình Nguyên Bình hình thành hai
vùng rõ rệt: Vùng núi đá và vùng núi đất, với độ cao trung bình từ 800m đến
1.100m và thấp dần từ tây sang đông.
Vùng núi đá, chạy dài theo hướng tây bắc bao quanh núi đất, nối tiếp
nhau thấp dần về phía đông bắc. Từ xã Thành Công, Mai Long, Ca Thành, Yên
Lac, Triệu Nguyên, Bắc Hợp, nối liền vào núi đá Lam Sơn, Minh Tâm…trong
đó có nhiều dãy núi cao hơn 1000m, dãy Toong Tinh (xã Phan Thanh) cao
1.120m, núi Tam Luông (xã Thành Công) cao 1.300m, núi Phja Oắc (xã Phan
Thanh) có đỉnh cao nhất khoảng 1.931m, quanh năm mây bao phủ tạo không
khí mát mẻ.
Vùng núi đất, bao gồm những dãy núi ở phía đông và đông nam nối tiếp
nhau gợn sóng, gối vào thềm núi đá tạo thành thế trụ vững chắc. Những dãy núi
này kéo dài từ xã Hoa Thám, Tam Kim, Lang Môn, Quang Thành, Thành
Công, Thể Dục. Vì vậy, vào những ngày thời tiết tốt từ đỉnh đèo Ben - le hay
Cô - Lê - A ngắm nhìn chúng ta mới thấy cảnh đẹp hùng vĩ của quê hương
Nguyên Bình. Xen giữa dãy núi đá, núi đất là những khu đồi đất nhấp nhô, có
độ cao dưới 500m, nơi đây có những cánh đồng cỏ xanh mơn mởn như: Phja
Đén (xã Thành Công), Nà Nu (xã Lang Môn)…
Huyện Nguyên Bình bao gồm 3 con sông lớn: Một con sông là thượng
nguồn nhánh của sông Bằng Giang bắt nguồn từ núi đá Phja Oắc chảy qua các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 8ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
sản quý hiếm và trữ lượng lớn như: Sắt, thiếc, titan, vàng, quặng…phân bố rải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 9ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
rác ở các xã, huyện, nhất là ở Tĩnh Túc. Trước đây, thực dân Pháp lợi dụng
bóc lột sức lao động của nhân dân và mang đi một lượng lớn tài nguyên khoáng
sản của Nguyên Bình. Sau Cách mạng tháng Tám thành công và cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, mỏ thiếc Tĩnh Túc thuộc về nhân dân ta,
từ đó đem lại nguồn lợi lớn cho nền công nghiệp nước nhà.
Nguyên Bình nằm trong vùng khí hậu miền núi nhiệt đới gió mùa, có
nhiệt độ trung bình là: 20O C, nhiệt độ cao nhất trong năm khoảng 36,8O C và
thấp nhất là 0,6O C. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.670mm, mức
cao nhất là 2.049mm và thấp nhất là 1.252mm. Độ ẩm không khí bình quân là
82 %. Sương mù có từ tháng 8 năm trước đến tháng 2 âm lịch năm sau, sương
muối, băng tuyết thường có vào giữa mùa đông trong năm, hiện tượng sương
muối chỉ kéo dài từ hai đến năm ngày, mỗi năm có hai đợt, nhưng có năm lại
không có, hiện tượng băng tuyết hiếm khi xảy ra.
Vì có khí hậu thích hợp nên thuận lợi cho việc phát triển các loại cây
trồng như: cây trúc, chè, lạc, mía, dong, giềng, đỗ tương… Các loại cây ăn quả
đặc sản vùng Á nhiệt đới như: lê, mận, đào, hồng, cam, quýt…rừng Nguyên
Bình chiếm tới 95% diện tích đất đai của toàn huyện, có khu rừng nguyên sinh
Phja Oắc trở thành khu rừng cấm do quốc gia quản lý.
Hệ sinh thái tự nhiên của Nguyên Bình rất phong phú và đa dạng, đặc
biệt vùng rừng núi Phja Đén - Phja Oắc, với diện tích tự nhiên 24.631ha, trên
địa bàn các xã Thành Công, Phan Thanh, Quang Thành và thị trấn Tĩnh Túc,
cho thấy đây là một khu rừng còn giữ được nhiều nét nguyên sinh, bởi các hệ
sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi cao, rừng kín thường
xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, rừng hỗn giao gỗ - tre nứa, cấu trúc 4 tầng
với độ che phủ lớn. Đặc biệt có một số hệ sinh thái đặc trưng cho vùng núi cao
như: Hệ sinh thái rừng lùn, rừng rêu. Trong thảm có hàng ngàn loài thực vật,
hiện nay. Là tấm màng xanh có khả năng lọc sạch các chất ô nhiễm do các hoạt
động khai thác khoáng sản, góp phần ngăn ngừa thiên tai, trượt lở xói mòn đất,
lũ lụt.
Ngoài ra, các xã đều có những đồng cỏ, có thể quy hoạch khoanh nuôi để
phát triển chăn nuôi đại gia súc, theo hướng sản xuất hàng hóa. Tiểu khu Phja Đén
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –11
ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
- Thành Công thuận lợi cho phát triển vùng rau trái vụ để cung cấp rau cho thị
trường trong và ngoài huyện như: Cao Bằng, Bắc kạn và Thái Nguyên.
Với đặc điểm đa dạng về địa hình, địa mạo, khí hậu đặc trưng đã tạo nên
các hệ sinh thái đặc thù của vùng núi cao Phia Oắc, cũng là nền tảng cấu thành
tính đa dạng sinh học của vùng. Đây là một dãy núi có địa hình phức tạp, núi
đất xen với hệ thống núi đá, độ dốc lớn > 380, nhiều nơi dốc thẳng đứng, địa
hình chủ yếu là núi cao, thung lũng nhỏ hẹp. Rừng phân bố ở độ cao từ 700m
trở lên. Trong đó, đỉnh Phia Oắc cao 1935m so với mực nước biển, là đỉnh núi
cao thứ hai ở Cao Bằng. Cùng với đỉnh Phia Oắc còn có đỉnh Niot Ti cao
1574m; Tam Loang cao 1446m; Phia Đén cao 1391m; Ki Doan cao 1165m tạo
thành một phức hệ núi cao trên địa bàn.
Bên cạnh đó, địa hình huyện Nguyên Bình còn có vị trí chiến lược quân
sự quan trọng, núi non hiểm trở, hệ thống giao thông quan trọng thuận lợi đi
nhiều hướng, cũng là nơi tiếp giáp với các huyện trong tỉnh, có quốc lộ từ Khau
Đồn (xã Hưng Đạo, huyện Hòa An), qua các xã Lang Môn, Bắc Hợp, Minh
Thanh, thị trấn Nguyên Bình, Thể Dục đến ngã ba Tĩnh Túc quốc lộ 34 chia
thành hai đường, một đường về phía nam lên đèo Lê A (tỉnh lộ 212) qua các xã
Quang Thành, Thành Công xuống Phúc Lộc (huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn), gặp
quốc lộ 3 tại ngã ba Nà Phặc (huyện Ngân Sơn), một đường qua mỏ thiếc Tĩnh
Túc, qua xã Vũ Nông đến xã Ca Thành (huyện Nguyên Bình), đến xã Đình
Phùng (huyện Bảo Lạc). Với hệ thống giao thông khá thuận lợi như vậy đã tạo
Bản Luộc, Nà Bon, Nà Gọn, và đến năm 1987 thị trấn Nguyên Bình được thành
lập trên cơ sở phố mới. Lúc đầu Phố chỉ có các hộ người Hoa và một số ít
người Kinh làm ăn sinh sống bằng nghề buôn bán và trồng màu.
Tháng 6 năm 1997 riêng thị trấn Nguyên Bình có 14 đơn vị hành chính
gồm 4 khu và 10 xóm, ngày 2 tháng 6 năm 1997 thị trấn Nguyên Bình được mở
rộng lần thứ hai, một số xóm thuộc xã Thể Dục, Thái Học được sáp nhập về thị
trấn gồm xóm Khuổi Khiếu, khu Vườn Ươm, xóm Cốc Tắm và cáp Cổ.
Ngày mùng 10 tháng 8 năm 1998 thị trấn gồm 4 khu và 11 xóm: khu
Bình Minh, Tân Bình, thanh Bình, Xi Măng, xóm Pác Măn Ngoài, Pác Măn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –13
ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
Trong, Bó Xeo, Nà Bon, Bản Luộc, Thôm Sẳn, Khuổi Cáp, Cốc Tắm, Nằ
Phiêng, Kéo Thỏ, Nà Gọn.
Từ tháng 1 năm 2004, thị trấn Tĩnh túc được chia thành 11 tổ dân phố và
3 xóm: Tổ sơ 1 - Hồng Hữu, tổ số 2 - Hồng Hữu, tổ số 3 - Hồng Hữu, tổ số 4 Hồng Trung, tổ số 5 - Hồng Trung, tổ sô 6 - Hồng Trung, tổ số 7 - Hồng Hà, tổ
số 8 - Hồng Hà, tổ số 9 - Hồng Hà, tổ số 10- Hồng Nhị, tổ số 11 - Hồng Nhị, 3
xóm trự thuộc là Nặm Sâư, Phiêng Cà, Thôm Ổ.
Như vậy, hiện nay huyện Nguyên Bình phân chia thành 20 đơn vị hành
chính bao gồm 18 xã: Minh Tâm, Bắc Hợp, Lang Môn, Minh Thanh, Tam Kim,
Hoa Thám, Thịnh Vượng, Thể Dục, Thái Học, Quang Thành, Hưng Đạo,
Thành Công, Phan Thanh, Mai Long, Ca Thành, Vũ Nông, Triệu Nguyên, Yên
Lạc và hai thị trấn Nguyên Bình và Tĩnh Túc.
1.3. Ngƣời Dao ở huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
1.3.1. Nguồn gốc lịch sử của người Dao ở Nguyên Bình
Người Dao tự gọi mình là Kềm Miền hay Dìu Miền, Kềm Miền có nghĩa
là người ở trong rừng, còn Dìu Miền là người Dao. Hiện nay, dân tộc Dao được
Nhà nước công nhận chính thức và được các nhà khoa học xếp vào nhóm ngôn
ngữ Mông -Dao thuộc ngữ hệ Nam Á [12] .
trước năm 1975, đồng bào Dao sinh sống ở 16 tỉnh, trong đó tập trung ở 7 tỉnh,
86 huyện, 165 xã thuộc miền núi và trung du Bắc Bộ, sau khi miền Nam được
hoàn toàn giải phóng, diện tích cư trú của đồng bào Dao được lan rộng đến một
số tỉnh Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. Tuy vậy, nơi tập trung nhiều đồng
bào Dao nhất vẫn thuộc một số tỉnh phía Bắc như: Hà Giang (71,676 người), Cao
Bằng (60.336 người), Tuyên Quang (59.121 người), Lào Cai (56.246 người), Yên
Bái (52.255 người), Quảng Ninh (36.177 người), Bắc Thái (Thái Nguyên, Bắc
Kạn) (33.043 người), Lai Châu (30.313 người), Lạng Sơn (21.629 người), Hòa
Bình (10.373 người), Sơn La (16.860 người)…, (Thống kê dân số ngày 01 tháng 4
năm 1999, Phòng Dân tộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng).
Người Dao ở nước ta, là một trong những tộc người có nhiều nhóm địa
phương. Nếu dựa theo tên tự gọi của đồng bào, tên phiếm xưng, và những tên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –15
ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
mà các dân tộc khác đặt cho, thì có thể có tới 30 nhóm Dao khác nhau. Song
theo sự phân loại của các nhà dân tộc học, căn cứ vào một số đặc điểm văn hóa,
mà nét chủ yếu là trang phục, thì người Dao ở nước ta có 7 nhóm chính, đó là:
“Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần chẹt, Dao Thanh Phán (còn gọi là Dao Lô
Giang), Dao Quần trắng (còn gọi là Dao Họ), Dao Thanh y (còn gọi là Dao
Chàm), Dao Áo dài (còn gọi là Dao Làn tiển)” [37, tr. 30 – 37]. Nếu chỉ dựa
vào ngôn ngữ thì có 2 ngành là, Kềm, Miền trong đó các nhóm Dao như: Dao
Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần chẹt, Dao Thanh phán và ngành Kìm Tiền, có đặc
điểm là phụ nữ mặc váy màu chàm và in hoa văn xanh lơ, mặc áo dài nhuộm
chàm, đặc biệt là cổ áo, phía sau gáy có treo 7 hoặc 9 đồng tiền xu (bằng kim
loại), và đây là nét đặc trưng để các nhà khoa học đặt tên Dao Tiền cho nhóm
này. Ở nước ta người Dao Tiền phân bố ở cả hai vùng: Đông Bắc và Tây Bắc.
Ở vùng Tây Bắc, đồng bào cư trú ở các tỉnh như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên
Quang, Hà Giang, riêng tỉnh Cao Bằng có huyện Nguyên Bình và Thông Nông
áo cũng thêu nhiều hoa văn tinh tế, giữa hai bả vai áo của phụ nữ Dao Đỏ thêu
cái ấn của Bàn Vương, phụ nữ Dao Đỏ ở 3 xã Thành Công, Phan Thanh và Mai
Long mặc quần chàm hoặc bằng vải nhung, ống quần bên dưới tương đối hẹp,
kiểu hình phễu.Ngoài ra, họ còn mặc yếm, song yếm của họ nhìn rất tinh tế và
có nhiều nét đường chỉ độc đáo, nhìn thoáng qua chỉ như miếng vải để gài các đồ
trang sức bằng bạc như hình bán cầu, hình sao 8 cánh, hay những chuỗi dây ở đầu
đeo hình con chim, khỉ, cá, và những cái chuông nhạc nhỏ như trẻ con hay đeo ở
cổ tay. Trước kia, phụ nữ Dao Đỏ thường cạo trọc đầu, nhưng ngày nay đa phần
họ đã để tóc dài vấn quanh đầu, sau đó đội khăn bằng vải, nỉ đỏ đính nhiều núm
bông đỏ, hay những cái nhạc chuông nhỏ đính lên trên. Họ có hai cách đội khăn
như sau: Gấp lên đầu làm thành hai góc nhọn chìa ra hai bên thái dương, hay quấn
chặt nhiều vòng quanh đỉnh đầu như người Mông.
Trước đây, phụ nữ Dao Đỏ đi chân đất, nay họ đi dép lốp hay giày vải, đi
đường xa, họ quấn theo xà cạp vải, trang trí hoa văn bằng chỉ màu hoặc chỉ
đen, những đồ trang sức thường được làm bằng bạc hoặc đồng, vòng cổ, vòng
tay có nhiều kiểu và kích cỡ khác nhau, vòng tai rộng 4 - 5cm, giữa điểm thêm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –17
ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
hình cây thông, hình con cá, đặc biệt thiếu nữ Dao Đỏ hay đeo nhẫn mặt hình
chữ nhật, ít thấy nhẫn thân tròn. Y phục của phụ nữ Dao Đỏ, nổi bật hơn so với
các nhóm Dao khác ở phần ngực áo, hai vạt trước áo, đó cũng là phần được họ
trang trí thêu thùa tỉ mỉ nhất, thật dễ nhận ra họ trong các chợ phiên, hội hè, vui
chơi trong các dịp lễ tết.
Khác với trang phục của phụ nữ Dao Đỏ, phụ nữ Dao Tiền lại mặc váy.
Váy may bằng vải bông chàm, trên vẽ nhiều hoa văn kín cả thân váy, kiểu cách
gần giống váy của phụ nữ Mông, đó là loại váy mỏng, hở, không khép kín gồm
6 bức ( mỗi bức dài khoảng 60cm ) tùy người cao thấp mà độ dài khác nhau,
rộng khoảng ( 30 - 50cm), vòng cạp rộng khoảng 100cm, trên nền chàm của