Hôn nhân và gia đình của người khơ mú ở huyện mai sơn tỉnh sơn la - Pdf 35

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THUẬN

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI KHƠ MÚ
Ở HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

Chuyên ngành: Nhân học
Mã số:62.31.03.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS Trần Văn Hà
2. TS Hoàng Hữu Bình

HÀ NỘI- 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Nguồn dữ liệu
luận án là trung thực và nội dung của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
NGHIÊN CỨU SINH

Nguyễn Thị Thuận



MỞ ĐẦU ...............................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,PHƯƠNG
PHÁP VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU.......................................5
1.1. Tổng quan tài liệu ................................................................................ 5
1.2. Cơ sở lý thuyết về hôn nhân và gia đình............................................ 16
1.3. Phương pháp nghiên cứu ................................................................... 28
CHƯƠNG 2. HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI KHƠ MÚ Ở HUYỆN MAI
SƠN, TỈNH SƠN LA ........................................................................... 38
2.1. Hôn nhân truyền thống....................................................................... 38
2.2. Biến đổi trong hôn nhân của người Khơ mú ở bản Co Chai và bản Tra
...................................................................................................................... 64
CHƯƠNG 3. GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI KHƠ MÚ Ở HUYỆN MAI SƠN,
TỈNH SƠN LA ...................................................................................................83
3.1. Gia đình truyền thống của người Khơ mú ......................................... 83
3.2. Biến đổi gia đình của người Khơ mú ............................................... 112
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN ................................................... 125
4.1. Kết quả nghiên cứu về hôn nhân và gia đình người Khơ mú .......... 125
4.2. Bàn luận hôn nhân và gia đình của người Khơ mú ......................... 128
4.3. Nguyên nhân của sự biến đổi hôn nhân và gia đình của người Khơ mú
.................................................................................................................... 134
4.4. Một số kiến nghị .............................................................................. 143
KẾT LUẬN...................................................................................................... 147


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
Biểu đồ 1.1. Diện tích đất và loại đất sử dụng huyện Mai Sơn .............................................33
Sơ đồ 2.1. Quan hệ hôn nhân liên minh 3 thị tộc.....................................................................46
Bảng 2.1. Độ tuổi kết hôn của người Khơ mú .........................................................................65
Bảng 2.2. Giới và độ tuổi kết hôn (Số lượng người được hỏi) ..............................................66
Bảng 2.3. Tuổi kết hôn của người Khơ mú ..............................................................................66


:

Du canh du cư

4. DS & KHHGĐ:

Dân số và kế hoạch hóa gia đình

5. ĐCĐC

:

Định canh, định cư

6. HN & GĐ

:

Hôn nhân và gia đình

7. KT- XH

:

Kinh tế - xã hội

8. NCS

:


14. VND

:

Việt Nam đồng

15. UBND

:

Ủy ban nhân dân

Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hôn nhân và gia đình luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
thuộc lĩnh vực xã hội và nhân văn. Đối với nhân học/dân tộc học, việc nghiên cứu
hôn nhân và gia đình ở các dân tộc có ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học; một mặt,
làm rõ các quan hệ xã hội và văn hóa, mặt khác góp phần sáng tỏ quá trình tộc
người với các hình thức tiến triển của các loại hình hôn nhân và gia đình ở các thời
kỳ lịch sử khác nhau. Bởi vì, hôn nhân và gia đình thể hiện mối quan hệ chặt chẽ,
tương hỗ giữa văn hóa và các quan hệ xã hội của các cộng đồng, các nhóm xã hội,
tộc người. Tùy thuộc vào điều kiện xã hội và những yếu tố văn hóa tộc người mà
hôn nhân và các quan hệ gia đình diễn ra theo nhiều hình thái khác nhau, vừa phản
ánh qui luật chung nhất về sự phát triển của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch
sử, vừa mang những đặc thù văn hóa tộc người. Kết quả của hôn nhân là hình thành
gia đình. Xây dựng, duy trì, củng cố và phát triển gia đình tạo ra mối liên hệ chặt

những mẫu khảo sát nhất định, hoặc với các cộng đồng khác dựa trên các dữ liệu
địa phương khác được nghiên cứu sẽ góp phần tìm hiểu văn hóa Khơ mú nói chung
và hôn nhân, gia đình của dân tộc này một cách toàn diện hơn. Hơn thế, dữ liệu của
nghiên cứu sẽ cho thấy mức độ như thế nào về mối quan hệ dân tộc thông qua hôn
nhân và gia đình của dân tộc Khơ mú và các dân tộc khác ở các địa phương những
năm gần đây.
Từ sau khi tiến hành công cuộc Đổi mới (1986) đến nay, hôn nhân, gia đình và
các quan hệ của nó ở vùng dân tộc thiểu số đang chịu sự tác động đa chiều từ các
chính sách phát triển kinh tế - xã hội, toàn cầu hóa về văn hóa. Đặc biệt là sự lan tỏa
của các quan hệ kinh tế thị trường đến các cộng đồng dân tộc thiểu số. Điều này
cũng có nghĩa, tính cấp thiết về sự bảo tồn các giá trị văn hóa tộc người (điểm tốt,
tích cực) trong gia đình, quan hệ gia đình, hôn nhân và lễ nghi liên quan là hết sức
có ý nghĩa về thực tiễn.
Tìm hiểu hôn nhân và gia đình của người Khơ mú ở huyện Mai Sơn, từ góc độ
dân tộc học/nhân học, đề tài nghiên cứu hy vọng sẽ có sự đóng góp trên hai phương
diện: i/ Trên cơ sở làm rõ những quan hệ xã hội của tộc người trong hôn nhân và gia
đình, góp phần bảo tồn, phát huy văn hóa tộc người; ii/ Qua thực tiễn cụ thể ở một
địa phương, tộc người thấy được việc thực hiện Luật Hôn nhân và Gia đình cũng
như những vấn đề đặt ra trong bối cảnh mới.
Từ những vấn đề trên, nghiên cứu sinh (NCS) đã lựa chọn đề tài “Hôn nhân và
gia đình của người Khơ mú ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La” làm luận án tiến sĩ
chuyên ngành dân tộc học/nhân học văn hóa.

2


2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu hôn nhân, gia đình truyền thống và những biến đổi tại hai cộng
đồng của người Khơ mú ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La qua các thời kỳ trước và sau
giải phóng (1954) đến nay, nhất là từ sau đổi mới (1986) đến thời điểm nghiên cứu.



sử tộc người, văn hóa vật chất, tinh thần mà hơn thế là những tư liệu trực tiếp liên
quan đến chủ đề luận án rất hữu ích và giá trị về khoa học.
Việc xử lý các tài liệu văn bản về dân số, địa lý, chính sách phát triển kinh tế- xã
hội, văn hóa,v.v… từ những báo cáo thường niên ở cấp xã và cơ quan ban ngành
chuyên môn của huyện Mai Sơn liên quan đến các điểm nghiên cứu. Nguồn dữ liệu
này giúp NCS có bức tranh tổng quát về bối cảnh lịch sử của những cộng đồng Khơ
mú được lựa chọn làm đối tượng khảo sát.
5. Đóng góp của luận án
- Trên cơ sở nghiên cứu về đặc điểm hôn nhân, gia đình truyền thống của người
Khơ mú cũng như những biến đổi của nó dưới tác động của các chính sách phát triển
kinh tế - xã hội và mở rộng quan hệ giao tiếp văn hóa với các tộc người khác tại địa
phương ở hai điểm được lựa chọn khảo sát. Luận án trình bày một cách toàn diện và
chuyên sâu tình trạng hôn nhân và gia đình truyền thống cũng như những biến đổi
trong lĩnh vực này ở bản Co Chai và Tra thuộc huyện Mai Sơn, Sơn La;
- Góp phần làm rõ những nét đặc thù và giống nhau về vai trò gia đình, tình
trạng hôn nhân tại dân tộc Khơ mú đối với việc thực hiện Luật hôn nhân và Gia
đình ở vùng dân tộc và xây dựng nông thôn mới ở vùng dân tộc thiểu số.
- Xây dựng cơ sở khoa học và bước đầu đề xuất kiến nghị để phát huy giá trị
văn hóa tộc người và xóa bỏ các lễ nghi không phù hợp liên quan đến hôn nhân và
gia đình của người Khơ mú trong quá trình thực hiện Luật hôn nhân và Gia đình
cũng như xây dựng nông thôn mới ở miền núi.
- Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng
dạy và học tập tại các trường đại học và Khoa Dân tộc, Trường Cán bộ dân tộc (Ủy
Ban Dân tộc) liên quan đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình các dân tộc Việt Nam.
6. Cấu trúc của luận án
Cấu trúc luận án ngoài phần mở đầu, kết luận, kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, phương pháp và
khái quát địa bàn nghiên cứu

Khâs. Peuple inculte du Laos Francais. Bull. hist. et descriptive, 1904 ).
Học giả người Mỹ Frank Proschan, nghiên cứu về lịch sử tộc người Khơ mú ở
địa bàn Đông Dương. Đây là nhà nghiên cứu có thời gian và điều kiện đến nhiều
cộng đồng Khơ mú tại nhiều tỉnh của Việt Nam và Lào1 để tìm hiểu các vấn đề dân
số, dân cư, ngôn ngữ, v.v…Đáng chú ý là báo cáo khoa học của ông “Chương văn
học dân gian, trong lịch sử và tiềm thức của người Khơ mú” được Frank Proschan
Frank Proschan đã có dịp trình bày các kết quả khảo sát về ngôn ngữ, lịch sử tộc người Khơ mú ở
Tây Bắc Việt Nam và Lào tại Viện Dân tộc học, năm 1992; Cụ thể là thuyết trình:”Đặc điểm phân
bố và văn hóa tộc người Khơ mú ở Đông Dương tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (2000)”.
1

5


trình bày ở báo cáo khoa học tại Hội thảo Thái học (Tai Study Worshop), năm 1990
ở Băng Cốc (Thái Lan). Trong Báo cáo khoa học này, Frank Proschan đã liệt kê tài
liệu về “nạn giặc Chương” diễn ra tại một số địa phương của Việt Nam vào cuối Thế
kỷ XIX ở địa bàn Mường Lay và Mường Thanh (thuộc tỉnh Điện Biên, Lai Châu hiện
nay) diễn ra từ năm 1874 – 1876, do Tạo Lả Xanh Xen Hoa cầm đầu. Còn ở Nghệ
An, “nạn giặc Chương” diễn ra từ năm 1884 – 1887, do Tạo Cớt cầm đầu. Giả
thuyết nói đến nguồn gốc lịch sử tộc người này ở mức độ nào đó cho thấy, dân tộc
Khơ mú có một truyền thuyết bi tráng gắn liền với lịch sử người Khơ mú ở Việt Nam
nói riêng và Đông Dương nói chung. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là giả thuyết dựa trên
huyền thoại lịch sử dựa trên dữ liệu bất thành văn và một vài tư liệu được đề cập trên
các ấn phẩm viết về tộc người Khơ mú ở Đông Dương thời thuộc Pháp.
Tác giảHenri Roux (1927) viết về Les tsa Khmu. Tác giả đã đề cập đến nơi cư
trú, những nét đặc trưng về làng bản, nhân chủng, trang phục, trang sức, hôn nhân,
tang ma, ngôn ngữ, từ vựng. Bên cạnh đó, ông cũng nêu lên một số ví dụ về thuyết
luân hồi của người Khơ mú và người Mèo (Hmông) ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, có tác phẩm Thelife of Shong Lue Yang (Cuộc đời của Shong Lue

Ngoài những nghiên cứu trên, khi nghiên cứu về người Khơ mú ở tỉnh Côn
Minh, Tây Nam Trung Quốc, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập khu vực
thuộc công trình hợp tác nghiên cứu về các dân tộc thiểu số ở Tiểu vùng sông Mê
Kông giữa các học giả Việt Nam, Lào, Thái Lan và Trung Quốc, Giáo sư LiJiang
(Đại học Dân tộc Côn Minh). Ông đã nghiên cứu bản sắc và sự bảo tồn văn hóa của
tộc người Khơ mú trong bối cảnh toàn cầu ở Trung Quốc cụ thể ở Dilemma vùng
Xishuangbana. Bên cạnh khảo sát và phân tích cộng đồng Lilemma dưới góc độ
sinh thái, kinh tế và các yếu tố văn hóa truyền thống biến đổi mạnh mẽ như thế nào,
cũng như các quan hệ xã hội. Ông cho rằng, là nhóm dân tộc có dân số ít ở Trung
Quốc, người Khơ mú ở đây có quan hệ chặt chẽ hơn với người Khơ mú vùng biên
giới Trung - Lào cả về họ hàng, tính chia sẻ, tương trợ và văn hóa hơn là với người
Thái ở Trung Quốc (3, tr.255).
Như vậy, cho đến hiện nay với những công trình nghiên cứu về người Khơ mú
của học giả nước ngoài mà NCS tiếp cận được, về cơ bản cho thấy, các công trình
nghiên cứu cũng đã đề cập đến địa bàn cư trú của người Khơ mú đầu tiên là ở Lào,
nghiên cứu đến các biến cố nạn giặc Chương dẫn đến sự cư trú phân tán của người
Khơ mú ở một số nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Bên cạnh đó, đề cập
đến đặc điểm địa bàn cư trú sau biến cố trên và phương thức sản xuất, nét văn hóa
cơ bản của người Khơ mú. Nghiên cứu về hôn nhân và gia đình của người Khơ mú
đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách có hệ thống với tư cách một
chuyên khảo.

7


1.1.2. Nghiên cứu của tác giả trong nước
Có thể nói rằng, cho đến thời điểm nghiên cứu những nghiên cứu về người Khơ
mú ở Việt Nam chiếm khối lượng không lớn như các tộc người có dân số đông
thuộc nhóm ngôn ngữ Tày- Thái và Ka đai hay Hmông – Dao, nhất là các tộc người
cùng nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me khác, nhưng cũng khá toàn diện ở các lĩnh vực


biên năm 1999 [20] là cuốn sách chuyên khảo đầu tiên về người Khơ mú ở Việt
Nam. Những công trình này đã khái quát lịch sử tộc người Khơ mú có mặt ở Việt
Nam khoảng thế kỷ XVII – XVIII. Năm 2006, nhà xuất bản Trẻ xuất bản ấn phẩm
Người Khơ mú của Chu Thái Sơn (Chủ biên) và Vì Văn An. Tuy nhiên, đây chỉ là
tài liệu giới thiệu giản lược mang tính phổ thông, chưa cập nhật được tư liệu gì mới
về dân tộc Khơ mú ở Việt Nam [75].
Như vậy, từ những năm 1970 trở lại đây, dựa trên các cứ liệu dân tộc học, ngôn
ngữ học và nhân chủng học, các nhà nghiên cứu trong nước đã tương đối thống nhất
về nguồn gốc người Khơ mú ở Việt Nam là tộc người di cư từ Lào đến các tỉnh
Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn La, Lai Châu và Điện Biên cách đây khoảng 2 – 3 thế
kỷ. Đồng thời, khẳng định, người Khơ mú ở các tỉnh biên giới Việt Nam có quan hệ
đồng tộc và đồng văn tương đối chặt chẽ với người Khơ mú ở các tỉnh ở vùng
Trung và Thượng Lào. Mối quan hệ này vẫn được duy trì cho đến hiện nay.
Về lĩnh vực dân số, văn hóa (vật chất, tinh thần) và hoạt động sản xuất kinh tế,
đã có những đề cập đáng kể cả trong các tác phẩm của Vương Hoàng Tuyên, Đặng
Nghiêm Vạn, Khổng Diễn (chủ biên), Luận án tiến sỹ Lịch sử của Trần Tất Chủng.
Những công trình này đã đề cập văn hóa, dân số và phân bố dân cư người Khơ mú ở
Việt Nam, tuy chưa có nghiên cứu sâu về lĩnh vực cụ thể nhưng những công trình
này đã cung cấp tư liệu để hiểu được khái quát người Khơ mú ở Việt Nam. Khi
nghiên cứu về văn hóa vật chất của người Khơ mú ở tỉnh Nghệ An, Trần Tất Chủng
trong luận án tiến sĩ của ḿnh bên cạnh miêu tả khá toàn diện nhà cửa, làng bản,
trang phục của người Khơ mú ở điểm nghiên cứu là miền Tây Nghệ An, đã đặt ra
vấn đề về không gian xã hội của ngôi nhà liên quan đến quan hệ của các thành viên
trong gia đình và lễ nghi liên quan đến cặp hôn nhân. Đây là nguồn tư liệu giúp
chúng tôi so sánh với người Khơ mú ở các cộng đồng Khơ mú được khảo sát của
huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Ở một chiều cạnh khác, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, Đặng Minh
Ngọc(2000, 2004) khi nghiên cứu về canh tác nương rẫy truyền thống của người
Khơ mú bản Co Chai, xã Hát Lót, huyện Mai Sơn có đề cập đến sự biến đổi của

đến thời điểm nghiên cứu. Hơn nữa, công trình cũng góp phần tổng kết truyền thống
đấu tranh cách mạng của các dân tộc ở một huyện miền núi biên giới, trong đó có
dân tộc Khơ mú trong mấy chục năm qua ở Nghệ An dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tiếp đến là những nghiên cứu tại Tây Nghệ An về cộng đồng Khơ mú ở Bình
Sơn I, xã Tà Cạ, huyện Kỳ Sơn, Nghệ An thuộc khuôn khổ dự án do Viện Dân tộc
học thực hiện, được tài trợ bởi Quĩ Rockfeller (2006). Dựa trên các cứ liệu khảo sát
về cộng đồng sau ĐCĐC từ một bản gần biên giới với những vấn đề liên quan đến
an toàn lương thực, các tác giả đã cho người đọc hiểu được bức tranh toàn diện
trong hoạt động sinh kế, đất đai, nghề nghiệp,v.v… của nhóm Khơ mú đặc biệt khó
khăn này. Với sự chuyển đổi lối canh tác và định cư, nhưng văn hóa liên quan đến
10


ứng phó với tình trạng khan hiếm lương thực của cộng đồng Khơ mú một lần nữa
không mấy thay đổi mà vẫn phải dựa vào cứu đói hàng năm của địa phương và
Chính phủ. Vấn đề đặt ra, theo các tác giả là cần phải có chính sách xóa đói giảm
nghèo ưu tiên đặc thù đối với người Khơ mú tại điểm nghiên cứu và Tây Nghệ An
nói chung trong phát triển sản xuất. Chẳng hạn như trợ giúp tài chính, kỹ thuật và
chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong khuôn khổ chương trình lâu dài mới hy vọng đảm
bảo an toàn về lương thực bền vững [40].
Liên quan đến phát triển kinh tế nông nghiệp phải kể đến dự án Tìm hiểu tập
quán sử dụng phân bón trong phát triển sản xuất nông nghiệp của các cộng đồng
Khơ mú ở huyện Tuần Giáo, Điện Biên (Trần Văn Hà, 2000, Toyota Foundation)
[37]. Nghiên cứu này đã đề cập đến vấn đề chuyển đổi tập quán sản xuất nông
nghiệp, đưa tiến bộ kỹ thuật vào canh tác cây lương thực, cây màu và những vấn đề
đang đặt ra trong phát triển nông nghiệp bền vững ở người Khơ mú xã Mùn Chung
(Điện Biên), Hát Lót (Sơn La) trong bối cảnh kinh tế hàng hóa. Một nghiên cứu
khác cũng của Trần Văn Hà liên quan đến vấn đềtrong lao động sản xuất và đời
sống của vềtri thức địa phương của người Khơ mú ở Việt Nam, cho biết vấn đề đặt
ra trong sử dụng tri thức địa phương kết hợp với tiến bộ khoa học công nghệ để phát

quản lý ở vùng biên giới cần chú ý tới đặc điểm này.
Những công trình nghiên cứu về quan hệ giữa dân tộc Khơ mú với các dân tộc
sinh sống xen cài hoặc đồng tộc vùng biên giới tuy chưa nhiều, đặc biệt là quan hệ
trong nội bộ dân tộc còn bỏ ngỏ. Tuy vậy, những tư liệu có được từ góc nhìn dân
tộc học/nhân học bước đầu đã cung cấp một bức tranh khái quát về địa bàn cư trú,
mối quan hệ tộc người Khơ mú với tộc người khác hoặc cùng dân tộc có truyền
thống đoàn kết, bang giao, nhất là ở vùng biên giới Việt – Lào thời hiện đại. Hơn
nữa, gợi mở cho những nghiên cứu tiếp theo về góc độ này đối với quá trình tộc
người ở Việt Nam, từ dân tộc Khơ mú.
Hai là, nghiên cứu về hôn nhân và gia đình của người Khơ mú ở Việt Nam.
Việt Nam một quốc gia đa dạng vùng và tộc người. Nghiên cứu về gia đình và
hôn nhân ở các dân tộc là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và
nhân văn được phát triển vào những năm nửa cuối Thế kỷ XX. Từ những năm đầu
Thế kỷ XXI đến nay, nghiên cứu về hôn nhân và gia đình (hay gia đình và hôn
nhân) và các nghi lễ liên quan được quan tâm đặc biệt với nhiều công trình chuyên
khảo trong lĩnh vực nhân học/ dân tộc học về các dân tộc thiểu số.
Vào những thập niên cuối Thế kỷ XX, phải nói đến các công trình nghiên cứu
của Đặng Nghiêm Vạn về lĩnh vực hôn nhân truyền thống của người Khơ mú ở Việt
Nam được công bố trên Tạp chí nghiên cứu Lịch sử. Tuy chưa phải là chuyên khảo
riêng biệt sâu và hệ thống về hôn nhân và gia đình, nhưng dữ liệu bước đầu được
công bố ở tạp chí có uy tín về hôn nhân giữa các dòng họ trong cộng đồng và giữa
các cộng đồng trong một địa bàn khác tô tem mà tác giả đã chỉ ra các quan hệ hôn
12


nhân thuận chiều và ngược chiều ở người Khơ mú như là bức tranh khá điển hình
khi nói đến những tàn dư nguyên thủy của dân tộc này [102]. Đến công trình tập thể
do ông chủ biên Những nhóm dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Tây Bắc Việt Nam
[103] đã được đề cập đến hôn nhân và gia đình của người Khơ mú ở Việt Nam một
cách tổng quát hơn. Tuy vậy, cũng chỉ là sự kế thừa dữ liệu đã công bố ở Tạp chí


trong nghiên cứu của Đặng Nghiêm Vạn là ở chỗ, đã mở ra một xu hướng nghiên
cứu logic khi nghiên cứu về hôn nhân và gia đình với những mối liên hệ của dòng
họ, dấu tích tô tem nguyên thủy và ở hai họ: họ nội và họ ngoại. Từ góc độ dân tộc
học/nhân học, dưới cách tiếp cận mới cũng đặt ra những vấn đề cần tìm tòi tiếp trên
cơ sở nguyên tắc hôn nhân, quy mô gia đình, quan hệ gia đình là những biến đổi
trong điều kiện kinh tế thị trường và toàn cầu hóa về văn hóa.
Đến năm 1978, trong công trình Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía
Bắc) của Viện Dân tộc học, khi viết về dân tộc Khơ mú, Đặng Nghiêm Vạn đã kế
thừa tài liệu trước, nên phần hôn nhân gia đình cũng được tác giả đề cập, tuy nhiên
không có nhiều tư liệu mới bổ sung kể cả những biến đổi trong hôn nhân và gia
đình ở các địa phương hay vùng khác.
Nghiên cứu về Đặc trưng văn hóa và truyền thống cách mạng các dân tộc ở Kỳ
Sơn Nghệ An [50], Phạm Quang Hoan và Moong Văn Nghệ đã trình bày tư liệu
khảo sát khá kỹ lưỡng về cấu trúc, loại hình và quan hệ trong gia đình của tộc người
Khơ mú. Phần gia đình đối với người Khơ mú, tác giả đã đưa ra hai loại hình gia
đình, trong đó loại hình gia đình nhỏ (hạt nhân) là chủ yếu và đã đưa ra các dạng
thức của gia đình hạt nhân. Gia đình lớn vẫn còn tồn tại nhưng là đại gia đình mở
rộng. Việc tổ chức sản xuất và phân công lao động trong gia đình thực hiện theo
nguyên tắc giới - tuổi rõ rệt. Gia đình theo chế độ phụ hệ (hay phụ quyền), nhưng
biểu hiện không đậm nét như trong gia đình người Hmông, người Thái tại địa
phương này. Tính chất phụ quyền thể hiện qua quan hệ của chủ gia đình với các
thành viên khác, trong thừa kế tài sản. Sự quan tâm nuôi dưỡng của bố mẹ đối với
con trai và con gái biểu hiện là như nhau, mặc dù tâm lý họ thích con trai đầu lòng
vì là người trụ cột trong gia đình, người đảm đương được những công việc nặng
nhọc, người nối dõi dòng giống.
Phần hôn nhân, các tác giả đã phản ánh tập tục ràng buộc qua nguyên tắc để
bảo đảm tính thuần khiết của dòng giống: nguyên tắc cơ bản là ngoại hôn dòng họ,
nếu vi phạm sẽ mắc tội loạn luân và bị phạt theo luật tục của cộng đồng tộc người
Khơ mú. Nguyên tắc hôn nhân dây chuyền và thuận chiều là nguyên tắc phổ biến.

họ. Tuy nhiên, đến nay vẫn thiếu vắng một khảo cứu mang tính hệ thống, chuyên
sâu về hôn nhân và gia đình của người Khơ mú với những nét riêng và nét tương
đồng ở một địa bàn cụ thể trên cơ sở kế thừa kiến thức về lĩnh vực này của các học
giả trước đã đạt được. Đặc biệt là những khía cạnh liên quan như hôn nhân truyền
thống, gia đình truyền thống và biến đổi hôn nhân và gia đình, nguyên nhân của sự
biến đổi,v.v… cũng như những vấn đề đang đặt ra về mặt chính sách, đóng góp cho
Luật Hôn nhân và Gia đình ở các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ - me
nói chung và người Khơ mú ở nước ta nói riêng. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu hôn
nhân và gia đình của người Khơ mú ở một địa bàn cụ thể trong mối liên hệ với các
tộc người khác dưới tác động của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của
15


Đảng và Nhà nước, tác động của CNH, HĐH và toàn cầu hóa hiện nay, góp phần
nêu dự báo về khuynh hướng của nó là những vấn đề còn bỏ ngỏ. Việc đi sâu tìm
hiểu một cách hệ thống mang tính chuyên sâu, có tính đa dạng vùng và các địa
phương về hôn nhân và gia đình của dân tộc Khơ mú trong bối cảnh mới là hết sức
cần thiết và có ư nghĩa khoa học và thực tiễn.
1.2. Cơ sở lý thuyết về hôn nhân và gia đình
1.2.1. Khái niệm về hôn nhân
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Hôn nhân là thể chế xã hội kèm theo nghi
thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác
nhau (nam, nữ), được coi nhau là chồng và vợ, quy định mối quan hệ và trách
nhiệm giữa họ với nhau và giữa họ với con của họ. Sự xác nhận đó, trong quá trình
phát triển của xã hội, dần dần mang thêm những yếu tố mới [97, tr.389-390].
Từ điển Nhân học (The Dictionary of Anthropology) của Thomas Barfield, định
nghĩa rằng, Hôn nhân là mối quan hệ gắn bó được thừa nhận về mặt xã hội giữa một
người đàn ông và một người đàn bà, nhằm mục đích duy trì nòi giống một cách hợp
pháp, tạo lập gia đình hạt nhân mới hoặc nhằm tạo ra hộ gia đình mới [Thomas
Barfield, 2006, tr. 519]. Tuy nhiên, hiện nay trên thực tế lại xảy ra tình trạng hôn

Hôn nhân chị em vợ (sororate) hay anh em chồng (lévirate). Hiện tượng không
may nếu trong gia đình có người chồng chết hoặc người vợ chết thì người còn sống
sẽ tái hôn với anh chị em của người đã chết, được coi là hình thức vừa phức hôn,
vừa đơn hôn. Hai trường hợp này đều duy trì được quan hệ thân tộc, không phải trả
lại đồ dẫn cưới, không tốn kinh phí cưới lại, đồng thời cũng không tốn tiền bạc và
thời gian cho vấn đề ngoại giao với họ hàng mới nảy sinh sau hôn nhân, thêm vào
đó, những đứa con của người trước sinh ra được nuôi dưỡng, quyền kế tục vị thế và
tài sản [98].
Phần tiến tới một định nghĩa về hôn nhân hai nhà nghiên cứu về Nhân học xã
hội và văn hóa Emily A.Schultz và Robert H.Laveda, đã viết: Một hôn nhân mẫu
(1) đòi hỏi phải có một người nam và (2) một người nữ và quy định mức độ tính
giao các thành viên trong hôn nhân có thể có với nhau, xếp từ quan hệ độc quyền
đến đến quan hệ ưu tiên. Hôn nhân cũng (3) tạo nên tính hợp pháp của con cái do
người vợ sinh ra, và (4) thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàng
bên chồng [77, tr.306]. Theo G.Endruweit và G.trommsdorff thì “Hôn nhân là một
dạng liên kết khác giới thuộc loại đặc biệt được tập quán và luật pháp công nhận, có
gia trị lâu dài [77, tr.222].
Hôn nhân là mối quan hệ xã hội mang tính văn hóa và trải qua những thay đổi
trong lịch sử. Trước hết, hôn nhân đòi hỏi những quy tắc nhất định (như tuổi kết
hôn, phải lấy người trong họ hay ngoài họ, cùng dân tộc và tôn giáo hay không…)
những thủ tục nhất định (về tôn giáo và theo phong tục tập quán…). Vì vậy, hôn
nhân vừa là những quy tắc mang tính xã hội,vừa là quá trình tiến hành thủ tục, nghi
17


lễ cần thiết của các bên liên quan, để một người nam và một người nữ được trở
thành vợ chồng và hình thành nên một gia đình mới.
Từ những nhận định trên cho thấy, hôn nhân là một quy tắc xã hội đồng thời là
một quy trình thực hiện các thủ tục, nghi thức nhất định để một người đàn ông và
một người đàn bà trở thành vợ chồng với những quyền, nghĩa vụ đối với nhau và

chế độ hôn nhân và gia đình là Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ
chồng bình đẳng.
1.2.2. Khái niệm về gia đình
Gia đình là một đơn vị xã hội thành lập trên cơ sở cùng dòng máu, bắt đầu từ
thời đại thị tộc mẫu hệ; trong thời đại phong kiến, thường có cha, mẹ, con cháu,
chắt nữa, trong thời đại tư bản thường chỉ có vợ chồng và con cái.
Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam nêu rõ tại mục 2 của Điều 3, Gia đình là
tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan
hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định
của Luật này [73].
Định nghĩa về gia đình trong xu thế hội nhập toàn cầu ngày nay được mở
rộng hơn bởi gia đình thực tế đang tồn tại nhiều dạng thức. Xét từ góc độ những
người cùng chung sống trong một gia đình: Gia đình có thể chỉ có cha mẹ và con
cái, con đẻ hoặc con nuôi; gia đình có thể đầy đủ các thế hệ tam, tứ, ngũ đại đồng
đường cùng chung sống; gia đình cũng có thể chỉ có ông bà và cháu nhỏ; gia đình
cũng có thể chỉ có hai người đồng giới cùng chung sống với nhau hoặc có những
gia đình đã ly dị, ly thân chỉ còn cha với con hoặc mẹ với con.
Cho dù gia đình giới hạn trong số lượng người sống chung nhiều hay ít, một
hay nhiều thế hệ cùng huyết thống, đủ mọi thành tố gia đình hay khuyết vắng vì
những lý do chủ quan hay khách quan… thì gia đình trong ý thức mỗi cá nhân vẫn
là một tổ ấm không thể thay đổi, vẫn là nơi chốn đi về để mỗi cá nhân có thể thư
giãn, sống thật là mình nhất, vẫn là bệ phóng bình yên, an toàn nhất, hội đủ mọi yếu
tố cơ hội nhất để mỗi cá nhân có thể đạt tới đích khát khao, tới chân trời mơ ước của
mình. Và trên hết, gia đình là một tế bào nhỏ nhất cấu thành nên xã hội.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, sự sản xuất và tái sản xuất không ngừng ra tư
liệu sản xuất và con người là nhân tố nền tảng có tính quyết định của xã hội. Sự
phát triển của gia đình cũng gắn với sự phát triển của sản xuất, tái sản xuất vật chất
và tinh thần cũng như tái sản xuất ra con người. Trong “Nguồn gốc của gia đình,
của sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước” Ph.Ănghen đã chỉ rõ: “Theo quan điểm
duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, suy đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status