ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN VỀ VIỆC THỰC THI
CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT
NAM TRONG THỜI GIAN 5 NĂM TRỞ LẠI ĐÂY
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trước ngưỡng cửa của sự hội nhập, trở thành thành viên chính thức của tổ
chức thương mại thế giới (WTO), Đảng và Nhà nước ta luôn xác định chiến lược
phát triển kinh tế xã hội là sẽ tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đẩy nhanh quá
trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN, xây dựng
nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Một
trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công đường lối đổi mới là
phải ổn định môi trường kinh tế vĩ mô và có các chính sách kinh tế phù hợp.
Trong đó chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế quan trọng tác động mạnh
mẽ nhiều mặt đến các biến số kinh tế vĩ mô.
Trong nền kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ là một công cụ điều tiết vĩ
mô cực kỳ quan trọng, nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, kiềm chế lạm phát, hạn
chế thất nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta trong thời gian qua, đặc biệt
là trong 5 năm trở lại đây, đã đạt mức đáng kể song tỷ lệ lạm phát vẫn cao, đồng
nội tệ ngày càng mất giá ... Điều này đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải
có một chính sách tiền tệ đúng đắn, linh hoạt để tạo điều kiện cho nền kinh tế
nước ta phát triển nhanh, bền vững, đồng thời đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước.
Như vậy, với đề tài thảo luận “Phân tích và Bình luận về việc thực thi
chính sách tiền tệ của NHNN VN trong thời gian 5 năm trở lại đây” nhóm sẽ
có những khái quát về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính
tài chính, lãi suất, tỷ giá hối đoái…
Do lạm phát tăng cao có tác động xấu đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, trong
khi đó nguyên nhân lạm phát lại là tiền tệ. Chính vì vậy, ở hầu hết các nước, kiềm
chế lạm phát, ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu và mục tiêu dài hạn của CSTT.
Tùy vào tình hình kinh tế mỗi nước mà sẽ có một tỷ lệ lạm phát phù hợp. Bên
cạnh đó, còn 2 mục tiêu khác là tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm, giảm
tỷ lệ thất nghiệp. Để thực hiện 2 mụa tiêu này thì NHNN thường thực hiện CSTT
mở rộng.
Xét cả 3 mục tiêu thì thấy, lạm phát, bình ổn giá cả thì phải áp dụng chính
sách tiền tệ thắt chặt. Và như vậy thì trong ngắn hạn không thể thực hiện được 2
mục tiêu còn lại. Ngược lại, khi nền kinh tế mở rộng, thất nghiệp giảm, nền kinh
tế phát triển quá nóng dẫn đến lạm phát gia tăng… Tuy nhiên, xét các mục tiêu
trên trong dài hạn thì chúng lại không mâu thuẫn với nhau. Mối quan hệ giữa mục
tiêu giảm thất nghiệp và mục tiêu tăng trưởng kinh tế không mâu thuẫn cả trong
ngắn hạn và dài hạn.
3
Hầu hết NHTWW đều đật ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn
của CSTT. Nhưng trong ngắn hạn, dưới áp lực của chính trị, họ có thể tạm thời từ
bỏ mục tiêu chủ yếu để hạn chế tình trạng thất nghiệp… Ngân hàng trung ương
không thể đạt đồng thời tất cả các mục tiêu trong ngắn hạng và thường thì theo
đuổi một mục tiêu trong dài hạn và đa mục tiêu trong ngắn hạn.
1.2.
Các công cụ của chính sách tiền tệ và nguyên tắc thực thi
chính sách tiền tệ của NHNN
không vì buộc phải tính toán giữa số tiền thu được từ việc cho vay với các chi phí
liên quan trong trường hợp khách hàng có nhu cầu tiền mặt cao bất thường.
- Nếu lãi suất chiết khấu bằng hoặc thấp hơn lãi suất thị trường thì ngân
hàng TM sẽ tiếp tục cho vay đến khi dự trữ tiền mặt giảm đến mức tối thiểu cho
phép vì nếu thiếu tiền mặt họ có thể vay từ ngân hàng trung ương mà không phải
chịu bất kỳ thiệt hại nào.
- Nếu lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, các ngân hàng thương
mại không thể để cho tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm đến mức tối thiểu cho phép, thậm
chí phải dự trữ thêm tiền mặt để tránh phải vay tiền từ ngân hàng trung ương với
lãi suất cao hơn lãi suất thị trường khi phát sinh nhu cầu tiền mặt bất thường từ
phía khách hàng.
Tuy nhiên, tác dụng của CS này chỉ phát huy khi các tổ chức tín dụng có nhu cầu
vay vốn từ NHNN.
1.2.3. Dự trữ bắt buộc
Là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoản gửi ở ngân
hàng trung ương.
Sự tăng lên hay giảm xuống của tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế
tạo tiền và lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại, qua đó tác động đến
lượng tiền cung ứng.
Ưu điểm: đây là công cụ có quyền lực ảnh hưởng rất mạnh đến
lượng tiền cung ứng. Chỉ cần thay đổi nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng
-
sẽ dẫn đến sự thay đổi đáng kể khổi lượng tiền cung ứng.
Nhược điểm: Bất lợi chủ yếu của công cụ dự trữ bắt buộc là có thể
khiến cho một số ngân hàng có dự trữ vượt mức quá thấp rơi vào tình
5
tháng 6 năm 2008, lãi suất cơ bản là 14%/ năm. Điều này có nghĩa là các tổ chức
tín dụng có thể quyết định mức lãi suất cho vay của mình cao tới 21%).
Lãi suất tái cấp vốn là loại lãi suất mà ở đó NHTW áp dụng cho các nghiệp
vụ tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng trung gian (bao gồm ngân hàng TM). Ở
Việt Nam, Ngân hàng TW tái cấp vốn cho các NHTM qua hình thức: cho vay lại
theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn khác, cho vay dưới hình thức cầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn.
7
2.
VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM
TRONG 5 NĂM TRỞ LẠI ĐÂY (2006-2010)
2.1.
Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam giai đoạn 2006-2008
2.1.1. Thực thi chính sách
Nhìn chung ở giai đoạn này, thị trường tiền tệ phát triển ổn định. NHNN
can thiệp vào thị trường tiền tệ thông qua các công cụ điều tiết vĩ mô như: thị
trường mở, dự trữ bắt buộc,... chứ không sử dụng các biện pháp hành chính rõ
ràng như hạn mức tín dụng hay trần lãi suất.
2.1.1.1. Nghiệp vụ thị trường mở
Thông qua nghiệp vụ thị trường mở, NHNN đã hút được một lượng tương
đối lớn vốn ngoại tệ khả dụng dư thừa của các tổ chức tín dụng, đồng thời vẫn
điều tiết kịp thời sự thiếu hụt vốn mang tính thời điểm của một số tổ chức tín
dụng, đảm bảo duy trì ổn định tiền tệ, ổn định lãi suất thị trường.
0,34%); tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng liên doanh và chi nhánh nước ngoài là
0,8% (giảm 0,4%); tỷ lệ nợ xấu của các TCTD khác là 2,4% (giảm 0,5%).
+ Các sản phẩm dịch vụ tín dụng đã được đa dạng hơn, nhiều lĩnh vực cho
vay đầu tư được mở rộng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều điều kiện thuận
lợi tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng để phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm,
giảm tỷ lệ thất nghiệp góp phần ổn định xã hội, cho vay phát triển nông nghiệp
nông thôn, cho vay chính sách hỗ trợ các hộ nghèo, hộ sản xuất kinh doanh vùng
khó khăn cũng được mở rộng, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu xoá đói giảm
nghèo. Bên cạnh đó, việc cho vay tiêu dùng cũng được mở ra rất đa dạng đáp ứng
đầy đủ các nhu cầu của xã hội
2.1.1.4. Lãi suất
Các mức lãi suất thị trường được quyết định đều dựa trên quan hệ cung cầu
vốn vay. NHNN không quy định trần lãi suất đối với huy động, cho vay và duy trì
ổn định mức lãi suất cơ bản. Đồng thời, trong điều kiện nguồn cung ngoại tệ dồi
dào, từ 01/03/2007, NHNN đã chính thức thực hiện bỏ qui định về trần lãi suất
tiền gửi USD của pháp nhân tại tổ chức tín dụng để hoàn toàn tự do hóa lãi suất
thị trường, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế.
2.1.1.5. Tỷ giá hối đoái
9
Điều hành tỷ giá và quản lý dự trữ ngoại hối phù hợp với điều kiện mở cửa
thị trường tài chính
- Ngay từ đầu năm 2007, NHNN bắt đầu thực hiện nới lỏng biên độ tỷ giá
từ 0,25% lên 0,5% và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên 0,75%. Đồng
thời NHNN đã thực hiện việc mua ngoại tệ theo nhu cầu bán của các NHTM, Kho
bạc Nhà nước và các tổ chức quốc tế với tỷ giá phù hợp để hạn chế sức ép tăng
giá đồng Việt Nam và tăng cường mức dự trữ ngoại hối Nhà nước. Chênh lệch
giữa tỷ giá mua ngoại tệ của NHNN và tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân
2006 xuống mức 17,8% năm 2007.
+ Tỷ lệ ngoại tệ trên tổng tiền gửi từ mức 25,9% năm 2006 xuống còn
22,6% năm 2007.
- Giảm mức độ đô la hoá của nền kinh tế.
2.1.2.2. Hạn chế
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng không được kiểm soát là nguyên nhân chính
dẫn tới làm phát tăng cao vào đầu năm 2008. Nên kinh tế không được kiểm soát
chặt chẽ, cộng thêm tác động mạnh mẽ từ cuộc khủng hoảng nhà đất từ thị trường
Mỹ đã dẫn tới cuộc khủng hoảng trầm trọng năm 2008
- Chính sách tỉ giá với biên độ giao động nhỏ làm cho nền kinh tế chưa kịp
thích ứng với môi trường bên ngoài.
2.2.
Năm 2008 – Khủng hoảng kinh tế
Tổng quan kinh tế thế giới cuối năm 2007 -2008: Kinh tế thế giới đối mặt
với nhiều khó khăn: Khủng hoảng tín dụng thế chấp dưói chuẩn ở Mỹ từ tháng
7.2007 lan toả mạnh mẽ trên toàn cầu. Giá cả thế giới liên tục tăng cao, 3 nền kinh
tế lớn là Trung Quốc, Mỹ, khu vực EU đều đối mặt với lạm phát leo thang; giá
dầu tăng 57,7%, Giá gạo tăng 19%
11
KINH TẾ THẾ GIỚI 2007
Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2008: Mang biểu hiện của một nền kinh
tế quá nóng: lạm phát gia tăng, thâm hụt cán cân thanh toán vãng lãi, bong bóng
trên thị trường bât động sản, kết quả là tăng trưởng kinh tế dương nhưng thực chất
là thấp hơn những năm trước (suy giảm kinh tế). Một năm thị trường có nhiều
loại tiền gửi có kỳ hạn từ 24 tháng trở lên (trước đây chỉ có kỳ hạn 24 tháng trở
xuống mới chịu dự trữ bắt buộc)
NHNN phát hành tín phiếu NHNN bắt buộc vào ngày 17/3/2008), tổng khối
lượng phát hành: 20.300 tỷ đồng, lãi suất 7,8%/năm, kỳ hạn 364 ngày, trong đó
các NHTM Nhà nước phải mua 9.500 tỷ đồng, các TCTD khác: 10.800 tỷ đồng.
- Kiểm soát hoạt động tín dụng: NHNN đã bước đầu định hướng tốc độ
tăng trưởng tín dụng cả năm là 30% toàn hệ thống.
Tuy nhiên, một tình huống khó lường là các NHTM đã không phản ứng kịp thời
trước việc thắt chặt chính sách tiền tệ nên vẫn tiếp tục đẩy mạnh tín dụng, cùng
với việc quản lý thanh khoản của các NHTM còn bất cập đã gây nên tình trạng
thiếu khả năng thanh khoản tại nhiều ngân hàng.
Để bù đắp thiếu hụt thanh khoản, các NHTM đã đua nhau tăng lãi suất huy
động vốn trên thị trường, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng trong thời gian
này có thời điểm lên đến 37%/năm, nếu tình trạng này cứ tiếp tục kéo dài, khả
năng đổ vỡ hệ thống ngân hàng có thể xảy ra.
- Công cụ thị trường mở: trước diễn biến thị trường như vậy, NHNN đã kịp
thời tăng tính thanh khoản cho thị trường bằng cách bơm mạnh tiền qua nghiệp vụ
thị trường mở (OMO), chuyển từ đấu thầu lãi suất sang đầu thầu khối lượng, tăng
cường thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của các NHTM, thắt chặt điều kiện
mở chi nhánh... Mở rộng điều kiện cho vay tái cấp vốn (cho phép các TCTD được
cầm cố hồ sơ tín dụng trong giao dịch tái cấp vốn với NHNN)
Thêm vào đó, NHNN tăng cường giám sát thị trường tiền tệ: liên tục thanh
tra giám sát các tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại. Đây cũng là một
căn cứ để NHNN trợ giúp NHTM trong trường hợp khó khăn về khả năng thanh
toán.
- Lãi suất: NHNN sử dụng lãi suất cơ bản như một công cụ để định hướng
lãi suất thị trường, Trong năm 2008, NHNN thực hiện 3 lần tăng lãi suất cơ bản từ
mức 8,25%/năm lên 14%/năm (từ 1/2/2008 đến 11/6/2008). Từ ngày 19/5/2008,
NHNN ban hành cơ chế điều hành lãi suất mới: các TCTD ấn định lãi suất huy
Kinh tế thế giới đang từ xu hướng suy thoái kinh tế gắn lạm phát sang suy
thoái kinh tế gắn với giảm phát đang là nỗi lo của các quốc gia hiện nay. Để cứu
nguy cho tình hình này, hầu hết các nền kinh tế chủ chốt đã thực hiện chính sách
16
tiền tệ và chính sách tài khóa nới lỏng nhằm tăng tính thanh khoản cho thị trường,
khuyến khích các NHTM mở rộng cho vay, kích thích đầu tư...
Trong tình hình kinh tế thế giới như vậy, mặc dù những tháng cuối năm 2008
mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nền kinh tế Việt
Nam, nhất là thị trường tài chính Việt Nam còn nhỏ, song để ngăn chặn ảnh
hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và giảm áp lực lạm phát vẫn diễn ra ở Việt
Nam đến tận tháng 9.2008, NHNN đã phải tiếp tục áp dụng một số biện pháp hỗ
trợ thị trường như nâng lãi suất tín phiếu bắt buộc (từ 7.8%/năm lên mức
13%/năm), cho phép các TCTD thanh toán tín phiếu NHNN bắt buộc trước hạn
theo nhu cầu (21/10/2008), trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND...
Để kích thích kinh tế chống lại nguy cơ giảm phát, bắt đầu từ tháng 10.2008,
các loại lãi suất chỉ đạo đã liên tục được hạ xuống theo một lộ trình thích hợp. Lãi
suất cơ bản từ mức 14%/năm sau 4 lần hạ hiện xuống còn 8,5%/năm, lãi suất tái
chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn cũng được hạ tương ứng, biên độ dao động tỷ giá
được nâng từ từ +/-2% lên +/- 3%...
Hành động này nhằm tạo sự hợp lý giữa các công cụ CSTT, giảm một phần
chi phí hoạt động cho các NHTM, để các NHTM có điều kiện hạ lãi suất cho vay
hỗ trợ cho các doanh nghiệp duy trì và mở rộng sản xuất, khuyến khích xuất khẩu
trong điều kiện kinh tế thế giới suy thoái.
Các chỉ số thị trường tiền tệ (tốc độ tăng M2, tín dụng và lãi suất) và các chỉ
số kinh tế đạt được trong những tháng cuối năm cho thấy việc thực thi CSTT của
NHNN năm 2008, mặc dù có những bất cập nhất định, nhưng thực sự đã có những
tác động rất rõ nét đến việc ổn định thị trường tiền tệ, ngăn chặn đà lạm phát đang
nghiệp, nông dân và nông thôn, cho hộ chính sách và đặc biệt là đối với các dự án
dang dở có hiệu quả phải đầu tư nhanh để phát huy hiệu quả. Đồng thời NHNN đã
linh hoạt kịp thời nới lỏng CSTT bằng cách hạ lãi suất cơ bản, giảm tỷ lệ dự trữ
bắt buộc… khi có dấu hiệu giảm áp lực lạm phát và tăng trưởng khó khăn, nhất là
khi tình trạng suy thoái kinh tế đang lan tỏa ra toàn cầu và có thể tác động mạnh
đến nền kinh tế Việt Nam trong năm 2009 nếu Việt Nam không có giải pháp ứng
phó.
18
Về thị trường tài chính ngân hàng, thanh khoản của hệ thống ngân hàng
được đảm bảo, khả năng quản trị điều hành của các TCTD được cải thiện.
2.2.4. Hạn chế và bài học kinh nghiệm
Có thể nói, NHNN đã sử dụng một cách linh hoạt và khá hiệu quả các công
cụ chính sách tiền tệ để bình ổn nền kinh tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, lẽ ra,
NHNN nên phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô khác để điều phối nhịp nhàng
hơn sự vận hành của nền kinh tế như: chính sách tài khóa, chính sách xuất khẩu,
nhập khẩu,.... Đặc biệt, khi NHNN thắt chặt tiền tệ, hạn chế tín dụng, các doanh
nghiệp sẽ khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn, kế hoạch sản xuất kinh
doanh thì vẫn phải thực hiện trong khi nguồn vốn đầu vào lại không có. Cộng
thêm các khủng hoảng sẵn có trên thị trường là một bài toán khó tháo gỡ cho các
doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nếu thời điểm đó, NHNN
kết hợp thêm với chính sách tài khóa, như giảm thuế cho các doanh nghiệp, có
thể bức tranh thị trường sẽ đỡ ảm đạm hơn
Một bài học cũng cần rút ra cho thực thi CSTT, đó là do chưa lường trước
được phản ứng của thị trường, nên các biện pháp CSTT phần nào gây cú sốc thị
trường, làm cho các NHTM có sự chao đảo nhất định trong kinh doanh. Nhưng cú
sốc đó lại là bài học tốt cho các NHTM trong việc nâng cao hơn năng lực quản trị
điều hành của mình, tạo đà để các NHTM đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính
trình miễn, giảm và giãn thuế, bảo lãnh cho các DN vay vốn tại các Ngân hàng
thương mại, … Cụ thể như sau:
Ngày 12/5/2009, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã công bố chính thức về gói kích
cầu có giá trị 143.000 tỷ đồng (tương đương 8 tỷ USD) của Chính phủ, sau đó
tăng lên 160 nghìn tỷ đồng (tương đương 9 tỷ USD). Theo đó, gói kích cầu tương
đương 8 tỷ USD được chia thành 8 phần có các giá trị khác nhau. Cụ thể các phần
của gói kích cầu này bao gồm:
- Hỗ trợ lãi suất 4% vay vốn tín dụng khoảng tương đương 17.000 tỷ đồng;
đối tượng ưu tiên là các donh nghiệp xuất khẩu. Trước mất, có ba tiêu chí để các
công ty xuất khẩu có thể được hỗ trợ: thứ nhất là có lượng công nhân lớn, thứ hai
20
là đang sử dụng tối đa nguồn lực, nguyên liệu trong nước, thứ ba là phải đem lại
hiệu quả nhanh.
- Tạm thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước khoảng 3.400 tỷ đồng.
- Ứng trước ngân sách nhà nước để thực hiện một số dự án cấp bách
khoảng 37.200 tỷ đồng.
- Chuyển nguồn vốn đầu tư kế hoạch năm 2008 sang năm 2009 khoảng
30.200 tỷ đồng.
- Phát hành thêm trái phiếu Chính phủ khoảng 20.000 tỷ đồng.
- Thực hiện chính sách giảm thuế khoảng 28.000 tỷ đồng.
- Tăng thêm dư nợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp khoảng 17.000 tỷ
đồng.
- Các khoản chi kích cầu khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo
an sinh xã hội khoảng 7.200 tỷ đồng.
Theo NHNN, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đến 24/12/2009 là 412.179,83
tỷ đồng. Chi tiết về tình dư nợ cho vay HTLS phân chia theo đối tượng như sau:
Dư nợ theo nhóm tổ chức tín dụng: Nhóm NHTM nhà nước và Quỹ tín
phần nào phản ánh những nỗ lực hỗ trợ hoạt động kinh tế của Chính phủ. Gói kích
thích kinh tế khá lớn được đưa ra vào đầu năm 2009 bao gồm nhiều biện pháp
khác nhau, từ chương trình hỗ trợ lãi suất, miễn và giãn thuế, và đầu tư vốn bổ
sung. Kết quả là GDP tăng 4,5% trong quý II và 5,8% trong quý III, nâng tốc độ
tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm 2009 lên 4,6% so với cùng kỳ năm 2008.
Những dấu hiệu tích cực đó tiếp tục được duy trì. Theo Báo cáo Cập nhật tình
hình kinh tế Việt Nam của Tổng cục Thống kê, Việt nam đã vượt qua cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu tốt hơn nhiều nước khác. Cụ thể: GDP tăng 5,3% trong
năm 2009 trong đó quý IV đã đạt mức 6,9%. Lạm phát đã giảm từ 19,9% năm
2008 xuống còn 6,5% năm 2009. Quý I/2010 nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục đà
phục hồi của những quý cuối năm 2009 với tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
đạt 5,83%, gấp gần 1,9 lần tốc độ tăng trong quý I/2009. GDP quý II.2010 tăng
6,2-6,4%, tạo nên mức tăng trưởng kinh tế 6 tháng đạt khoảng 6,1% so với cùng
kỳ năm trước. Công nghiệp được xem là mảng tỏa sáng trong bức tranh kinh tế 6
tháng đầu năm nay. Các ngành công nghiệp đã trỗi dậy mạnh mẽ với mức tăng
22
trưởng giá trị sản xuất toàn ngành 6 tháng đầu năm 2010 ở mức 13,8%. Tóm lại,
không thể phủ nhận rằng gói kích cầu thứ nhất đã có những tác động tích cực đến
nền kinh tế Việt Nam năm 2009, góp phần đưa Việt Nam sớm thoát ra khỏi khủng
hoảng kinh tế.
* Tác động tiêu cực và các vấn đề của gói kích cầu thứ nhất
Bên cạnh những dấu hiệu khả quan, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tiềm ẩn
nhiều nguy cơ. Xuất khẩu năm 2009 giảm, thâm hụt thương mại lên đến 12 tỷ
USD, giá trị đồng Việt Nam suy giảm mạnh. Có thể thấy rằng trong thời gian qua
chính sách kích cầu của Chính phủ chưa thật sự tác động mạnh đến hoạt động sản
xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp (đặc biệt là các DN vừa và nhỏ) bởi còn có
một số hạn chế tiềm tàng đối với chính sách này. Sau đây là 10 vấn đề của gói
là ở Ngân hàng thương mại cổ phần với 5.916 tỷ đồng. Hiện nay kiểm toán nhà
nước đang thực hiện kiểm toán kết quả thực hiện gói hỗ trợ lãi suất. Con số vi
phạm thực tế có thể cao hơn rất nhiều. Thực tế là nhiều các doanh nghiệp đảo nợ
cũ vay với lãi suất cao để chuyển sang vay mới với lãi suất vay thấp hơn nhiều.
Nếu khoản vay giúp các doanh nghiệp lớn thâm dụng vốn đảo nợ, cấu phần này
của gói kích cầu lại có tác dụng như gói giải cứu, chứ không còn là gói kích cầu
nữa.
- Vấn đề thứ tư, ai là người được lợi từ gói kích cầu? Đối với gói hỗ trợ lãi
suất 4%, đứng về phương diện mục tiêu của chính sách này, người được hưởng
lợi các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng để sản xuất - kinh doanh. Hay nói cách
khác, gói hỗ trợ lãi suất 4% góp phần kích cầu đầu tư của DN. Mặc dù theo
NHNN, các NHTM chỉ đóng vai trò trung gian trong việc phân bổ vốn cho DN,
tuy nhiên, chúng ta có thể dễ dàng chứng minh bằng lý thuyết cũng như thực
nghiệm rằng NH cũng là người được lợi từ gói hỗ trợ lãi suất 4%.
- Vấn đề thứ năm, gói kích cầu có thể tạo ra cạnh tranh không lành mạnh,
bất bình đẳng giữa các DN. Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% có thể tạo ra sự bất bình
đẳng, cạnh tranh không lành mạnh giữa các Doanh nghiệp do khả năng tiếp cận
nguồn vốn được hỗ trợ lãi suất của các Doanh nghiệp không đồng đều. Báo cáo
của NHNN cho thấy, tính đến cuối năm 2009, chỉ có khoảng trên 20% trong tổng
số doanh nghiệp, tức khoảng 78.000 trong tổng số khoảng 390.000 doanh nghiệp
24
tiếp cận được vốn hỗ trợ. Theo kết quả khảo sát của Viện nghiên cứu phát triển
kinh tế xã hội Đà Nẵng vào tháng 06/2009, có trên 51% các doanh nghiệp nhỏ và
vừa hoạt động trên địa bàn được khảo sát là không nhận được hỗ trợ lãi suất6.
Theo kết quả khảo sát gần 400 DN vào tháng 7/2010 của Viện nghiên cứu phát
triển kinh tế xã hội Đà Nẵng, có đến gần 30% DN được khảo sát cho rằng đã bị
ảnh hưởng tiêu cực từ các chính sách kích cầu của Chính phủ. Lý do là các doanh