BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐỀ ÁN
ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN
TRUNG HỌC CƠ SỞ, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Hà Nội, tháng 3 năm 2014
MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ ...........................................................................................................3
II. QUAN ĐIỂM ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ..........................................6
III. MỤC TIÊU ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ............................................7
IV. PHẠM VI CỦA ĐỀ ÁN ..........................................................................................8
V. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ ÁN ........................................................................................8
VI. NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN .......................................................................................8
1. Cơ sở đề xuất đổi mới chương trình đào tạo của Trường ĐHSP Hà Nội...............8
1.1 Những định hướng đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau 2015 của ngành
giáo dục và đào tạo .................................................................................................8
1.2. Xu thế quốc tế trong đổi mới giáo dục phổ thông và đào tạo, bồi dưỡng giáo
viên.........................................................................................................................9
1.3. Đôi nét về thực trạng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội .................................11
1.3.1. Những ưu điểm, thuận lợi............................................................................11
1.3.2. Những hạn chế, khó khăn............................................................................12
1.3.3. Thực trạng chương trình đào tạo của Trường ĐHSP Hà Nội .......................13
2. Đề xuất khung chương trình đào tạo mới của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội...14
3. Các giải pháp thực hiện đề án...............................................................................20
3.1. Đổi mới cơ cấu tổ chức ..................................................................................20
hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ
thống giáo dục đại học. Chú trọng phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo
đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội, từng bước tiếp cận trình độ khoa học và công nghệ
tiên tiến của thế giới”.
- Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 (được ban hành
theo Quyết định số 579/QĐ-TTg, ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ) đề
ra giải pháp đột phá là: “Xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển giáo dục và Chiến
lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020”; “Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục là
1
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tr. 131.
2
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 04 tháng 11 năm
2013 về Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
3
khâu đột phá. Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ trọng
tâm xuyên suốt”.
- Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011 – 2020 và Chỉ thị số 02/CT-TTg
ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo đặt ra nhiệm vụ quan trọng: “Triển khai thực hiện Chương trình phát triển
ngành sư phạm và các trường sư phạm đến năm 2020”.
- Giáo dục phổ thông nước nhà đã trải qua 3 cuộc cải cách giáo dục (1950, 1956
và 1979). Song đối với hệ thống đại học nói chung và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
nói riêng, hầu như chưa có một cuộc cải cách hay đổi mới nào diễn ra trong nội tại nhà
trường. Như vậy, các cuộc cải cách, đổi mới giáo dục trước đây mới chỉ giải quyết các
trường có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Yêu cầu của công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay đặt ra nhiệm vụ đặc biệt quan
trọng cho Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trước hết là đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Gắn liền với yêu
cầu này là đào tạo mới và đào tạo lại đội ngũ giáo viên các cấp đáp ứng yêu cầu xã hội.
Việc chuyển từ cách dạy nặng về truyền thụ kiến thức sang cách dạy chú trọng phát
triển năng lực từng cá nhân đòi hỏi cần phải đổi mới mạnh mẽ mô hình đào tạo, chương
trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương thức kiểm tra, đánh giá và thi cử.
Điều này đồng nghĩa với việc đổi mới cách dạy của giảng viên và thay đổi cách học của
sinh viên.
Chương trình đào tạo, giáo trình của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã được
xây dựng, phát triển theo yêu cầu đào tạo của mỗi thời kỳ lịch sử, góp phần từng bước
đổi mới sự nghiệp giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và đội ngũ giáo
viên, cán bộ quản lý các cấp; đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành trong giai
đoạn vừa qua. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, chương trình đào tạo, giáo
trình hiện hành còn nhiều hạn chế và đã bộc lộ nhiều bất cập trước những đòi hỏi mới của
ngành giáo dục, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ và đặc biệt là
yêu cầu đổi mới của chương trình, sách giáo khoa hiện nay. Do vậy, việc phải cơ cấu lại
hệ thống đào tạo, triển khai chương trình đào tạo mới của Nhà trường là đòi hỏi tất
yếu.
Đổi mới chương trình đào tạo, giáo trình giáo dục đại học của Nhà trường là một
công việc trọng đại, cần huy động trí tuệ, tâm huyết của toàn thể cán bộ, công chức,
viên chức, sinh viên toàn Trường; đầu tư nhiều nguồn lực, với sự phối hợp và tập trung
sức mạnh đoàn kết của toàn bộ hệ thống chính trị trong Nhà trường, sự ủng hộ, giúp đỡ
và tạo điều kiện của các cơ quan, ban ngành và các tổ chức xã hội, đặc biệt là Bộ Giáo
dục và Đào tạo.
5
II. QUAN ĐIỂM ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
6
- dạy học ở phổ thông. Do đó, chương trình đào tạo phải có sự phù hợp giữa khoa học
cơ bản và nghiệp vụ sư phạm; chương trình đào tạo lại phải tinh giản, thiết thực và hiệu
quả, hình thức thích hợp với từng đối tượng; ngành học phải có tính liên thông để sinh
viên phát triển nghề nghiệp và chuyên môn trong tương lai.
- Chương trình đào tạo mới của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội phải bảo đảm
hình thành được cho người học:
+ Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống đúng mực của nhà giáo: Yêu nước, yêu
chủ nghĩa xã hội, chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước, thực hiện tốt
các nghĩa vụ công dân, yêu nghề, gắn bó với nghề dạy học, yêu thương, công bằng với học
sinh, đoàn kết với đồng nghiệp, lối sống lành mạnh, văn minh..
+ Năng lực dạy học: Có năng lực xây dựng chương trình môn học, xây dựng kế
hoạch dạy học, đảm bảo chương trình, kiến thức môn học, vận dụng các phương pháp dạy
học tích cực sáng tạo, có năng lực kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của học sinh, có
năng lực dạy học theo hướng hình thành năng lực ở học sinh, thúc đẩy tự học của học sinh.
Có khả năng dạy các môn học tích hợp và phân hóa.
+ Năng lực giáo dục: Có năng lực giáo dục qua các môn học, năng lực xây dựng
kế hoạch và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, đánh giá kết quả giáo dục học sinh
theo cách tiếp cận năng lực.
+ Năng lực nghiên cứu khoa học: Năng lực phát hiện các vấn đề giáo dục thực
tiễn, tổ chức nghiên cứu, giải quyết vấn đề và vận dụng, chuyển giao trong hoạt động nghề
nghiệp.
+ Năng lực phát triển cộng đồng và năng lực phát triển bản thân: Phối hợp được
với các lực lượng giáo dục khác để giáo dục học sinh, tham gia vào các hoạt động chính trị,
xã hội của cộng đồng để thúc đẩy phát triển xã hội học tập; có khả năng hiểu bản thân,
quản lý bản thân và tạo động lực để phát triển bản thân.
III. MỤC TIÊU ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
7. Triển khai thực hiện chương trình đào tạo mới.
VI. NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
1. Cơ sở đề xuất đổi mới chương trình đào tạo của Trường ĐHSP Hà Nội
1.1 Những định hướng đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau 2015 của
ngành giáo dục và đào tạo
- Quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi
mới giáo dục nói chung, đổi mới chương trình, sách giáo khoa nói riêng, những định
hướng chủ yếu như sau:
- Phát triển phẩm chất và năng lực người học, đảm bảo hài hòa giữa “dạy chữ”,
“dạy người” và tiếp cận nghề nghiệp.
8
- Cấu trúc, nội dung chương trình, sách giáo khoa phải đảm bảo chuẩn hóa, hiện
đại hóa, hội nhập quốc tế và đảm bảo tính chỉnh thể, linh hoạt, thống nhất trong và giữa
các cấp học
- Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục nhằm phát triển phẩm chất
và năng lực học sinh
- Đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục theo yêu cầu
phát triển phẩm chất và năng lực học sinh
- Quản lý việc xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo tính khả thi, linh
hoạt, phù hợp địa phương và đối tượng học sinh.
Chương trình giáo dục phổ thông của hầu hết các nước tiên tiến đều được thiết
kế tổng thể nhất quán và xuyên suốt từ mầm non đến hết trung học phổ thông. Trên cơ
sở tiếp thu các thành tựu giáo dục tiên tiến, chương trình giáo dục phổ thông của Việt
Nam chú trọng những vấn đề khả thi sau:
+ Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng
lực người học
+ Tăng cường dạy học tích hợp và dạy học phân hóa
học tập kết hợp này đặc biệt phát huy hiệu quả trong việc bồi dưỡng và tự bồi dưỡng
của giáo viên.
Theo báo cáo của ETS (Hoa Kỳ)3 trong một nghiên cứu khảo sát các cơ sở đào
tạo giáo viên ở Hoa Kỳ, Úc, Anh, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan và
Singapore cho thấy những nét cơ bản như:
- Số cơ sở đào tạo giáo viên ở các nước là rất khác nhau: Singapore có 1 cơ sở;
Hòa Kỳ có 1.500 cơ sở; Hà Lan có 12 cơ sở đại học, 12 cơ sở đào tạo nghề; Úc có 35 cơ
sở; Anh có 123 cơ sở và Nhật Bản có 138 cơ sở;
- Số năm đào tạo giáo viên chủ yếu là 4 năm;
- Cấu trúc chương trình đào tạo về cơ bản cũng giống nhau gồm các khóa học về
kiến thức cơ bàn và các khóa học về phương pháp dạy học, nghiệp vụ và thực tập;
- Phần lớn các chương trình đều đòi hỏi sinh viên sư phạm phải có những giờ
thực hành sư phạm nhưng với thời lượng rất khác nhau từ 3 – 4 tuần (Nhật Bản) đến 12
– 18 tháng (Hà Lan);
- Chương trình đào tạo đều do các trường tự xây dựng và được sự phê duyệt của
cấp quản lý trực tiếp. Trong đó, ở Hoa Kỳ sinh viên sư phạm cần học từ 120 – 134 tín
chỉ với khoảng 51 tín chỉ kiến thức cơ sở, 38 tín chỉ kiến thức chuyên môn, 28 tín chỉ về
nghề nghiệp, 14 tín chỉ về thực tập sư phạm. Ở Nhật Bản, chương trình gồm 26 tín chỉ
kiến thức đại cương, 20 tín chỉ về kiến thức chuyên môn, 22 tín chỉ về giáo dục học, 12
3
Preparing Teachers Around the World – ETS – 2003 – Hoa Kỳ
10
tín chỉ về phương pháp, 40 tín chỉ tự chọn và 5 tín chỉ về dạy học. Tương tự ở Hàn
Quốc, sinh viên sư phạm cần học tối thiểu 42 tín chỉ về kiến thức chuyên môn, 4 tín chỉ
về phương pháp, 80 tín chỉ tự chọn.
- Sinh viên tốt nghiệp sư phạm cũng cần hoàn thành các tín chỉ về kiến thức
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là đơn vị có thế mạnh về nghiên cứu khoa
học (khoa học giáo dục và khoa học cơ bản), có quan hệ hợp tác với nhiều trường đại
học và viện nghiên cứu có uy tín trong nước và quốc tế. Hoạt động nghiên cứu khoa
học thực sự là động lực và tiền đề quan trọng để Trường phát triển và đào tạo các
chuyên gia khoa học giáo dục – khoa học cơ bản trình độ cao.
- Trong hệ thống các trường sư phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội được Bộ
Giáo dục và Đào tạo ưu tiên đầu tư nên cơ sở vật chất, trang thiết bị khá tốt, phục vụ tốt
cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu.
1.3.2. Những hạn chế, khó khăn
- Do chưa nhận thức một cách sâu sắc về quan điểm đào tạo sư phạm nên thực tế
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chưa hình thành được bản sắc sư phạm của mình.
Điều này dẫn đến nhiều hệ lụy trong chương trình, trong cách thức đào tạo, trong tổ
chức thực hiện và cuối cùng là sinh viên ra trường còn thiếu nhiều kỹ năng sư phạm,
chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giáo dục.
- Tư duy kinh nghiệm khá nặng nề, chưa tập trung xây dựng mô hình và chương
trình một cách hệ thống, còn có tư tưởng thỏa mãn với những gì đang có. Một số ít
giảng viên chưa chịu khó học tập, nghiên cứu để vươn lên tạo nên sức ỳ, thậm chí cản
trở những tư tưởng tiến bộ.
- Sự thiếu năng động của hệ thống, của từng cá nhân, ngay cả với một số cán bộ
quản lí vẫn còn nặng nề. Công tác tuyển dụng cán bộ đã có những cải thiện nhưng chất
lượng chưa thật tinh. Ngày càng khó tuyển các cán bộ xuất sắc. Cách tạo nguồn giảng
viên nếu không sớm thay đổi sẽ dẫn đến tư duy theo lối mòn, khó bứt phá và nếu không
điều chỉnh kịp thời sẽ dẫn đến sự thoái hóa đội ngũ. Một bộ phận giảng viên chưa xác
định vai trò, vị trí của mình là giảng viên của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nên
trong quá trình chuẩn bị giáo trình, tài liệu và đặc biệt trong giảng dạy chỉ hướng đến
nghiên cứu đơn thuần, xa rời với chương trình phổ thông, không chú trọng hướng dẫn
nghề nghiệp cho sinh viên.
- Chưa chú trọng xây dựng bộ môn phương pháp dạy học ở các khoa một cách đủ
mạnh, việc đào tạo cán bộ ở các bộ môn này chưa hợp lí, chưa trải nghiệm dẫn đến tình
trạng chưa vững đã đi dạy người khác. Một trong những điểm mạnh của các khoa ở
- Chưa có cấu trúc hợp lí giữa chương trình cơ bản và chương trình nghiệp vụ.
Hơn nữa, chương trình nghiệp vụ sư phạm vẫn còn mang tính hàn lâm, giáo điều, chậm
đổi mới, kéo dài tình trạng đọc chép, thuyết trình một chiều; các phương pháp dạy học
hiện đại chưa được thường xuyên cập nhật, ngay cả với giảng viên.
13
- Chương trình chưa chú trọng phát triển năng lực của sinh viên, nhất là năng lực
tự học, tự nghiên cứu; chưa đề cập đến năng lực dạy học tích hợp và phân hóa trong
giảng dạy.
- Sinh viên chưa được trang bị một cách hợp lí các kỹ năng về giáo dục toàn
diện, nhất là về kỹ năng nghề nghiệp, về tham vấn học đường, về các tổ chức hoạt động
trải nghiệm.
- Hình thức kiểm tra, đánh giá vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể; sự phản hồi của
người học, của xã hội chưa được chú trọng. Công tác kiểm định đảm bảo chất lượng
đào tạo và khảo thí vẫn chưa thực sự bám sát yêu cầu của thực tiễn, chưa tạo những sức
ép đòi hỏi phải thường xuyên đổi mới và nâng cao chất lượng dạy – học và cách thức
kiểm tra, đánh giá, thi cử.
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, với tư cách là một trường có bề dày
về đào tạo giáo viên trong cả nước, Trường ĐHSP Hà Nội cần phải đổi mới chương
trình đào tạo để đào tạo và đạo tạo lại đội ngũ giáo viên đáp ứng những đổi mới của
giáo dục phổ thông.
2. Đề xuất khung chương trình đào tạo mới của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Với mục tiêu cụ thể là đào tạo giáo viên có khả năng dạy tích hợp và dạy phân
hóa đáp ứng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 của Việt Nam, khung
chương trình đào tạo mới của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cần được xây dựng theo
định hướng được trình bày trong sơ đồ 1.
14
TIN-CÔNG NGHỆ (Kiến
thức cơ sở, phát triển các
năng lực chung) (7)
Thực tập THCS (8)
Tiểu luận thực tập 1
CHUYÊN NGÀNH VÀ GIÁO DỤC
Năng lực dạy học chuyên ngành, tạo tiền đề phát triển chuyên sâu (9)
TỐT NGHIỆP (11)
Thực tập THPT (10)
Tiểu luận thực tập 2
Đạt chuẩn của GV THPT, cấp bằng đại học
Sơ đồ 1: Khung chương trình đào tạo mới của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Giải thích sơ đồ:
(1) Chương trình đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội bao gồm các
ngành sư phạm.
(2) Môn chung bao gồm: Những nguyên lí cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam; Ngoại ngữ.
Việc học ngoại ngữ sẽ bố trí lớp học theo trình độ thay vì xếp lớp học theo khoa như
hiện nay. Sau khi, học sinh phổ thông đạt trình độ 3 thì sẽ thay đổi.
(3) Chuyên môn theo các ngành học, ở đây không chỉ đơn ngành mà có thể các
môn học đáp ứng cho tích hợp hợp như chỉ rõ ở (5), (6), (7).
(4) Chương trình nghiệp vụ sư phạm bao gồm cả kiểm tra, đánh giá và quản lí.
Nghiệp vụ ở đây đáp ứng cho dạy học trung học cơ sở và trung học phổ thông. Các kỹ
năng trình bày bảng, thuyết trình, thu thập tài liệu, soạn bài, sử dụng công nghệ thông
Hoàn thành các phần này cần 90 tín chỉ. Kết thúc phần này, sinh viên sẽ đạt
chuẩn của giáo viên THCS và có thể được cấp bằng cao đẳng.
(9) Phần nội dung này chủ yếu đáp ứng cho đào tạo sinh viên có khả năng dạy
học phân hóa theo chuyên môn của từng môn học ở trung học phổ thông. Các chuyên
đề này thực chất là các môn học nhằm trang bị kiến thức và kỹ năng chuyên ngành hẹp
16
(như vật lí, hóa học, sinh học…) cho sinh viên giúp họ có nền tảng trong việc vận dụng
vào giảng dạy chương trình trung học phổ thông.
Yêu cầu cần đạt của phần này là mỗi chuyên ngành chọn lựa các môn học phù
hợp và sinh viên phải được trang bị kiến thức về ngành học, có các năng lực chuyên
biệt vận dụng trong giảng dạy, tự phát triển chuyên môn thuộc chuyên ngành hẹp và có
khả năng thích nghi khi có những thay đổi về chương trình.
Phần này cũng trang bị cho sinh viên các chuyên đề chuyên sâu của từng chuyên
ngành, chuyên đề về nghiên cứu khoa học nhằm chuẩn bị cho sinh viên có khả năng độc
lập làm việc và phát triển trong tương lai. Yêu cầu của phần này là sinh viên phải có
được khả năng độc lập nghiên cứu, hiểu biết và vận dụng các phương pháp nghiên cứu,
biết tổ chức hoạt động nghiên cứu, trình bày chuyên đề nghiên cứu và viết báo cáo
nghiên cứu về các lĩnh vực khoa học chuyên ngành và khoa học giáo dục làm tiền đề
cho phát triển chương trình, tự đào tạo của giáo viên tương lai.
(10) Thực tập ở trường THPT nhằm thực hiện việc thực hành giáo dục và giảng
dạy phân hóa.
Yêu cầu cần đạt của phần này là sinh viên phải thực thụ đảm đương được tổ
chức giáo dục và dạy học ở trường phổ thông trung học, biết tổ chức các hoạt động, chủ
nhiệm, tư vấn hỗ trợ cho học sinh trung học phổ thông.
(11) Để tốt nghiệp, dù bằng hình thức chọn môn thi hay luận văn đều phải có thi
giảng trực tiếp.
Hoàn thành các phần này cần 60 tín chỉ. Kết thúc phần này, sinh viên sẽ đạt
chuẩn giáo viên trung học phổ thông và được cấp bằng đại học.
Toán học, Vật lí, Hóa
học, Sinh học,
Địa lí TN, Các chuyên
đề chung
Kiến thức cơ sở
Ngữ văn, Lịch sử,
Địa lí XH,
Các chuyên đề
chung
Kiến thức cơ sở
Tin học, Công
nghệ,
Các chuyên đề
chung
Các
chuyên
đề
nâng
cao về
chuyên
ngành
hóa
học và
NCKH
Các
chuyên
NCKH
Các
chuyên
đề nâng
cao về
chuyên
ngành
Công
nghệ và
NCKH
Theo cách sắp xếp trên có thể lấy ví dụ về kết cấu chương trình đào tạo và tiến
trình đào tạo giáo viên ngành Địa – Sử như sơ đồ 2.
Tuyển sinh đầu vào
khối ngành KHXH
Đạt chuẩn GV
THCS, có thể cấp
bằng cao đẳng
Đạt chuẩn GV
THPT, cấp bằng
đại học
Thạc sĩ sư
phạm Lịch
sử
Khối kiến thức cơ sở về
KHXH
Thạc sĩ KHGD
(chuyên ngành
PPDH Địa lí)
Sở đồ 2: Kết cấu chương trình và tiến trình đào tạo giáo viên ngành Địa – Sử
Đối với các ngành đào tạo chuyên biệt (Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ, Giáo dục
Tiểu học, Giáo dục mầm non, Giáo dục đặc biệt, Quản lí Giáo dục, Giáo dục Đặc biệt,
Giáo dục Thể chất, Giáo dục Quốc phòng, Giáo dục Chính trị, Giáo dục Công dân, Sư
phạm Tâm lý, Sư phạm Triết học) thì chương trình sẽ được sắp xếp lại và tiến trình
cũng thay đổi để đáp ứng chuẩn đầu ra của các đối tượng giáo viên THCS (Sơ đồ 3).
Tuyển sinh đầu vào
theo chuyên ngành
Cử nhân sư phạm
chuyên ngành
Thạc sĩ sư phạm
chuyên ngành
Đạt chuẩn GVTHCS
Có thể cấp bằng cao đẳng
Đạt chuẩn GVTHPT
Có thể cấp bằng ĐH
Thạc sĩ KH chuyên
ngành
Đạt chuẩn GVTHCS
Có thể cấp bằng CĐ
Đạt chuẩn GVTHPT
Có thể cấp bằng ĐH
Thạc sĩ Khoa học
Toán học
Thạc sĩ khoa học giáo
dục (chuyên ngành
PPDH Toán học)
Tiến sĩ Toán học và Tiến sĩ khoa
học giáo dục (chuyên ngành
PPDH Toán học)
Sơ đồ 4: Kết cấu chương trình và tiến trình đào tạo cụ thể ngành sư phạm Toán học
3. Các giải pháp thực hiện đề án
3.1. Đổi mới cơ cấu tổ chức
Cần có những linh hoạt trong cơ cấu bộ môn, trong điều hành của ban chủ nhiệm
các khoa, sự liên kết giữa các khoa. Hiện nay, một số bộ môn hình thành “cát cứ” gây
khó khăn trong việc phát triển chương trình, điều động giảng viên. Giao cho trưởng
khoa quyền điều hành giảng dạy ở đơn vị sau khi thống nhất của Hội đồng khoa học
khoa.
Cải tổ các Bộ môn Phương pháp dạy học: Thay đổi cách tuyển chọn, bồi dưỡng
và đào tạo ở các bộ môn này. Mỗi giảng viên được làm việc ở bộ môn này bắt buộc
phải thực hành giảng dạy chương trình đại cương và đi thực tế phổ thông. Hội đồng
3.4. Chuẩn bị tốt các điều kiện về cơ sở vật chất
- Xây dựng chiến lược tổng thể về cơ sở vật chất, trang thiết bị, rà soát lại những
gì đã có, những gì cần bổ sung, xác định những gì trọng yếu cần có để xây dựng kế
hoạch mua sắm phù hợp.
21
- Hoàn chỉnh Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nghiệp vụ Sư phạm, trường
thực hành, phòng thí nghiệm,…
- Xây dựng Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất học liệu thành mô hình điển hình
trong hệ thống các trường sư phạm, phục vụ đắc lực cho việc triển khai các công tác
của trường và của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Hình thành mạng lưới các trường thực hành, chú trọng tận dụng hoạt động của
trường Nguyễn Tất Thành và trường Mầm non Búp sen xanh.
- Chuẩn bị tốt điều kiện để thực hiện nghiêm túc quản lí theo yêu cầu tín chỉ như
giảng đường tự học, thu viện, internet... (chuyên cần, quản lí thời gian tự học, thu
hoạch…)
VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
- Tạo sự đồng thuận trong toàn trường. Cụ thể hóa Nghị quyết số 29-NQ/TW
ngày 04/11/2013 và đưa ra được các chủ trương cụ thể đối với nhà trường trong mối tương
quan với ngành giáo dục. Tổ chức học tập, phổ biến Nghị quyết một cách khoa học, cụ thể,
tạo các diễn đàn khoa học để cùng phân tích hướng phát triển của nhà trường.
- Thành lập các Tổ công tác về xây dựng chương trình, về bồi dưỡng, về tổ chức…
- Xây dựng hệ thống chương trình (đào tạo, đào tạo lại, nghiệp vụ) một cách
khoa học, hiện đại và có tính thực tiễn cao. Chương trình đào tạo phải đạt hai mục tiêu:
(1) Phục vụ đắc lực cho giảng dạy phổ thông; (2) Hình thành tầm nhìn dài hạn cho việc
phát triển hệ thống giáo dục đất nước. Trong đó, chương trình gồm hai phần cơ bản và
nghiệp vụ. Phần cơ bản phải thể hiện tính chất “cốt lõi” gồm những môn học nền tảng
phục vụ cấp thiết cho giáo dục phổ thông và phát triển của sinh viên trong tương lai.
VIII. ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ
- Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm trình Chính phủ phê duyệt cơ chế cho
trường đại học sư phạm trọng điểm, sắp xếp lại hệ thống các trường sư phạm.
- Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm thực hiện cơ chế tài chính mới để Nhà
trường giảm bớt các hoạt động khác, tập trung cho đào tạo lại và đào tạo sau 2015 nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo; tạo điều kiện tăng kinh phí đào tạo đối với mỗi sinh viên
của Trường vì việc thực hiện chương trình đào tạo mới sẽ tăng số lượng tín chỉ, do vậy,
kinh phí đào tạo sẽ tăng.
- Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị
để triển khai nhiệm vụ của nhà trường.
HIỆU TRƯỞNG
PGS.TS. Nguyễn Văn Minh
Tài liệu này là bản thảo, bản quyền thuộc Trường ĐHSP Hà Nội
23
PHỤ LỤC
Mô tả dự kiến chương trình NVSP.
Học phần
Các học phần nền tảng cho việc đào tạo năng lực sư phạm
Tâm lý học giáo dục: cơ sở tâm lý học của dạy học, giáo dục, sự phát triển tâm lý của
học sinh.
Giáo dục học: triết học giáo dục, những vấn đề của giáo dục, giáo dục trong nhà trường,
giáo dục xã hội, lịch sử giáo dục Việt Nam
PPNCKHGD: Nghiên cứu sư phạm thực hành.
Kiểm tra và đánh giá trong giáo dục: kiểm tra và đánh giá kết quả học tập, kết quả rèn
Thực tập tốt nghiệp:
1. Thiết kế, tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
2. Giảng trên lớp
Tỉ lệ trong toàn bộ chương trình: 25% /tổng tín chỉ
Kế hoạch thực hành, rèn luyện kỹ năng
Năm thứ 1.
STT
Mục tiêu
Nội dung thực
Mục tiêu cụ thể cần đạt được
hành
1
Thực hành và
1.Kỹ năng khai thác,
lưu trữ và xử lý
thông tin.
2. Kỹ năng viết và
trình bày bảng.
- Biết cách khai thác thông tin
Thực hành và
ngữ
phục vụ môn học, bài học.
- Trình bày bảng theo đúng quy
cách sư phạm
- Có khả năng thuyết trình một
vấn đề.
Năm thứ 2
STT
Mục tiêu
Nội dung thực
Mục tiêu cụ thể cần đạt được
hành
1
Thực hành và
Rèn luyện kỹ
- Hiểu biết công việc người giáo
rèn luyện kỹ
năng làm công tác