XÂY DỰNG CƠ CHẾ PHỐI HỢP GIỮA CÁC TRỪỜNG, KHOA SƯ PHẠM VỚI CÁC TRƢỜNG PHỔ THÔNG VÀ MẦM NON TRONG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIÁO VIÊN CHUẨN BỊ TRIỂN KHAI CHUƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SAU 2015 - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN GIÁO VIÊN CỤC NHÀ GIÁO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
THPT VÀ TCCN
VÀ CBQLCSGD TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KỶ YẾU

HỘI THẢO KHOA HỌC
XÂY DỰNG CƠ CHẾ PHỐI HỢP GIỮA CÁC TRƢỜNG, KHOA SƢ
PHẠM VỚI CÁC TRƢỜNG PHỔ THÔNG VÀ MẦM NON TRONG
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIÁO VIÊN CHUẨN BỊ
TRIỂN KHAI CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SAU 2015

(Lƣu hành nội bộ)

THÁI NGUYÊN, THÁNG 9/2013


DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
TT

Viết đầy đủ

Viết tắt

1

GV

Giáo viên


7

TTSP

Thực tập sư phạm

8

KNSP

Kĩ năng sư phạm

9

NVSP

Nghiệp vụ sư phạm

10

CĐSP

Cao đẳng Sư phạm

11

ĐHSP

Đại học Sư phạm


17

BDTX

Bồi dưỡng thường xuyên

18

THPT

Trung học phổ thông

19

THCS

Trung học cơ sở

20

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

21

GD & ĐT

Giáo dục và Đào tạo



Nội dung và cơ chế phối hợp giữa cơ sở đào tạo giáo viên với hệ thống
4.

giáo dục phổ thông trong xây dựng, đánh giá chuẩn đầu ra của các trường
sư phạm
PGS.TS. Nguyễn Thị Tính…………………………………………………

5.

34

Về tính đồng bộ trong giáo dục hiện nay
TS. Vũ Công Hảo…………………………………………….……………..

40

Gắn kết hoạt động giữa trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
6.

với trường phổ thông thông qua hợp tác nghiên cứu khoa học
PGS.TS. Đỗ Hồng Thái………………..………………………………..…

48

Hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học và thực hiện khóa luận - Một số
7.

vấn đề thực tiễn
TS. Trương Thị Thúy Hằng…………………………….…………………

Huỳnh Văn Sơn…………………………………………………………….

83

Chuẩn bị thích ứng trong việc giải quyết khó khăn khi thực tập tốt nghiệp
của sinh viên - Nhiệm vụ cần xác lập trong việc xây dựng cơ chế phối hợp
11. giữa trường sư phạm với trường phổ thông, mầm non
ThS. Hoàng Trường Giang, Mai Mỹ Hạnh, ThS. Nguyễn Vĩnh Khương,
PGS.TS. Huỳnh Văn Sơn………………………………….…………..…..

94

Sự phối hợp giữa trường thực hành sư phạm với trường sư phạm trong
12. công tác đào tạo giáo viên
ThS. Bùi Huy Quảng……………………….……………………………..

105

Hình thành kĩ năng sư phạm theo chuẩn nghề nghiệp cho sinh viên thông
13. qua hoạt động thực hành ở trường phổ thông
TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền………………..…………………………..

112

Nâng cao chất lượng thực tập sư phạm cho sinh viên thông qua rèn luyện
14. các kĩ năng dạy học cơ bản
TS. Nguyễn Phương Liên……………………..…………………………..
15.

120

19. đào tạo giáo viên
PGS.TS. Phạm Hồng Quang, TS. Nguyễn Danh Nam………………….

iii

164


20.

21.

22.

23.

24.

25.

26.

27.

28.

29.

30.


Việt Nam
ThS. Nguyễn Văn Chiến…………………………………………….…….
Từ mô hình đào tạo giáo viên của Đại học Texas Tech (Hoa Kỳ) nghĩ về mối
quan hệ giữa các cơ sở đào tạo và sử dụng giáo viên ở nước ta hiện nay
TS. Bùi Minh Đức, TS. Vũ Công Hảo, ThS. Phạm Thị Tuyết Nhung…..
Mô hình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên hướng tới tiêu chuẩn quốc tế
TS. La Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thị Ngọc Bích……………………..….
iv

177

186

192

199

205

209

215

226
232

233

243
252

tài liệu này được hoàn thiện. Xin trân trọng cảm ơn các tác giả đã viết bài tham
gia Hội thảo.
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 9 năm 2013

BAN TỔ CHỨC

v


Phần 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1


PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THÍCH ỨNG NGHỀ CHO SINH VIÊN
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO Ở CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
GS.TSKH. Nguyễn Văn Hộ
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

1. Đặt vấn đề
Trong quá trình thực hiện đường lối của Đảng về đổi mới căn bản và toàn
diện hệ thống giáo dục quốc dân, nhóm vấn đề liên quan tới hoạt động đào tạo
đội ngũ GV tại các trường Đại học và Cao đẳng sư phạm là một trong những vấn
đề cấp thiết cần được tập trung nghiên cứu bởi sản phẩm của quá trình đào tạo sư
phạm sẽ là đội ngũ nhà giáo - lực lượng cốt yếu trong sự nghiệp “trồng người”,
giữ vai trò quyết định đối với chất lượng giáo dục thế hệ trẻ trong tương lai. Tuy
nhiên, với tính chất phức tạp của vấn đề bao gồm trong đó những yếu tố then
chốt của quá trình đào tạo GV (mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình

trình tổ chức môi trường học tập, tiếp nhận các nhiệm vụ học tập của giảng viên
giao, thực hiện các hoạt động quan sát, làm thử, luyện tập, thực hiện các giờ dạy
trên lớp, tiến hành công tác GV chủ nhiệm lớp, tập giải quyết các tình huống sư
phạm, đánh giá kết quả công việc của bản thân và của người khác để lĩnh hội
kiến thức nghiệp vụ, kỹ năng và thái độ mà chính họ cần phải có trong hoạt động
nghề nghiệp tương lai. Có thể nói, quá trình học tập của SV trong quá trình được
đào tạo ở trường ĐHSP là quá trình thích ứng của họ đối với nghề dạy học.
Trong quá trình đào tạo này, những đòi hỏi về nghề sẽ được cụ thể hoá trong hoạt
động học tập, rèn luyện nghề nghiệp của SV, đặc biệt thể hiện rõ nét trong các
môn có tính chất NVSP chuyên biệt như các môn Tâm lý học, Giáo dục học, Lý
luận dạy học bộ môn và các hoạt động đó phải gắn kết với hoạt động dạy học,
giáo dục ở trường phổ thông.
2. Phát triển năng lực thích ứng nghề cho SV
Trong quá trình đào tạo ở trường ĐHSP, việc phát triển năng lực thích ứng
nghề sẽ giúp SV nâng cao nhận thức hiểu biết về nghề, những yêu cầu của nghề,
hình thành và củng cố lòng yêu nghề, có được tâm thế sẵn sàng tham gia vào
hoạt động nghề nghiệp, nhờ đó sẽ giúp SV nhanh chóng thích nghi với môi
trường học tập ở trường sư phạm, tích cực rèn luyện những phẩm chất nhân cách
của người thầy giáo trong tương lai. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng SV trong
nhà trường sư phạm, nghề mà họ đang được đào tạo cho dù chỉ là mô hình chứa
đựng những đòi hỏi cơ bản nhất của hoạt động sư phạm trong thực tế ở nhà
3


trường phổ thông, song mô hình đó lại có ý nghĩa quyết định đối với tương lai
nghề nghiệp của họ trong việc trang bị kiến thức, kỹ năng cơ bản để họ có thể
hành nghề trong môi trường giáo dục thực tế sau này ở nhà trường phổ thông. Do
đó, quá trình học tập của SV sư phạm chính là quá trình chủ động rèn luyện của
bản thân họ về phẩm chất, năng lực, các đặc điểm tâm - sinh lý để hướng tới sự
phù hợp với nghề dạy học. Với CTĐT GV hiện nay ở trường ĐHSP, có thể đề

trong thực tế đào tạo để đảm bảo hiệu quả cho sự thích ứng ban đầu của SV với
hoạt động dạy học, chúng ta chỉ có đủ thời gian định hướng cho SV vào một số
kỹ năng cơ bản nhất mà bất cứ người GV nào cũng cần phải nắm vững như: kỹ
năng soạn giáo án; tổ hợp các kỹ năng giảng bài trên lớp; các kỹ năng kiểm tra,
đánh giá trình độ nhận thức của HS. Để có được kỹ năng này, người SV cần
được rèn luyện theo các tiêu chí sau:
- Nắm vững hệ thống tri thức môn học mà mình giảng dạy, đồng thời có
sự hiểu biết về những tri thức có liên quan.
- Trên cơ sở những tri thức khoa học về lý luận dạy học và PPDH bộ môn,
biết vận dụng vào bài giảng dạy một môn học, một giờ học cụ thể.
- Dựa trên lịch trình đào tạo khóa học, mỗi SV cần chủ động xây dựng kế
hoạch rèn luyện các kỹ năng dạy học như tiến hành soạn giáo án tổ chức tập
giảng, tự đánh giá và tiếp nhận sự đánh giá của người khác.
- Nhận biết mặt mạnh và mặt yếu về sử dụng ngôn ngữ, biểu cảm của bản
thân để có được sự nỗ lực phát huy hoặc khắc phục những ưu, nhược điểm đó
cho phù hợp với hoạt động dạy học.
* SV sư phạm cùng với việc tích lũy tri thức chuyên môn còn cần có sự
rèn luyện kỹ năng và tích lũy tri thức về giáo dục phẩm chất, đạo đức HS, giúp
các em trở thành những nhân cách tốt đẹp trong cuộc sống. Do đó, trong quá
trình được đào tạo ở trường sư phạm cần hình thành năng lực thích ứng với các
hoạt động giáo dục và có được kỹ năng tổ chức giáo dục cho HS. Để thực hiện
được nhiệm vụ này, người SV cần đạt tới những tiêu chí sau:
- Nắm vững tri thức về lý luận giáo dục HS theo cấp học tương ứng.
- Có hiểu biết về sự phát triển tâm - sinh lý của HS.
- Có được một hệ thống các kỹ năng giáo dục cơ bản như: xây dựng kế
hoạch giáo dục; Tổ chức các hoạt động giáo dục cho HS trong trường và ngoài xã
hội; Phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm tạo được sức mạnh đồng bộ tác động
tới sự phát triển nhân cách của HS; …

5

điều kiện cho SV cập nhật với sự phát triển của trường phổ thông trong điều kiện
biến đổi không ngừng của đời sống xã hội, có điều kiện làm quen với môi trường
thực tế - nơi sau này SV sẽ thực thi các hoạt động dạy học và giáo dục HS.

6


Dựa trên cơ sở kế hoạch đào tạo, thông qua các hoạt động thực hành, các
đợt kiến tập, TTSP, SV sẽ được tiếp nhận các kinh nghiệm dạy học và giáo dục
của GV phổ thông, được dự giờ, tập giảng và trực tiếp đứng lớp, tập làm công tác
chủ nhiệm lớp và tổ chức các hoạt động xã hội,… Những hoạt động này của SV
diễn ra trong môi trường thực tế hết sức sinh động, phong phú với sự chứng kiến
và trực tiếp tham gia của chính họ với vai trò của người GV thực thụ. Do vậy,
những gì mà SV tiếp nhận được về vị trí, vai trò, về năng lực, KNSP mà ở họ cần
có là cực kỳ bổ ích. Sự đánh giá của GV phổ thông, của cán bộ hướng dẫn và của
tập thể SV về những ưu điểm và thiếu hụt trong thực tế thử nghiệm hoạt động
giáo dục sẽ giúp cho các em có được ý thức rèn luyện các phẩm chất và năng lực
sư phạm để đạt tới hiệu quả về sự thích ứng với nghề dạy học mà các em đang
vươn tới.
Để đưa quá trình rèn luyện năng lực sư phạm mà trước hết là đạt được các
tiêu chí về sự thích ứng với nghề dạy học, theo chúng tôi, có thể có những bước
tiến hành như sau:
- Tạo ra môi trường sư phạm thuận lợi có tính chất như một hoàn cảnh
mẫu để SV có được những hiểu biết ban đầu về nghề nghiệp (trang phục, nói
năng, giao tiếp trong sinh hoạt tập thể, …).
- Xây dựng ý thức nghề nghiệp trong học tập và rèn luyện tu dưỡng theo
chuẩn mực của trường sư phạm (giờ giấc học tập, sinh hoạt tập thể, thái độ học
tập trên lớp và ở ký túc xá; Thái độ với thầy giáo, cô giáo và cán bộ công chức
nhà trường,…).
- Rèn luyện theo các chuẩn mực kỹ năng thực hành sư phạm trong các đợt

BỐI CẢNH HIỆN NAY: NHẬN DIỆN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
VƢỢT QUA CÁC THÁCH THỨC
PGS.TS. Đặng Quốc Bảo
Học viện Quản lý Giáo dục

1. Quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN và tác
động của nó tới giáo dục, tới đội ngũ GV
1.1. Vi nhân và vi phúc
(i) Từ những năm 90 của thế kỉ trước, nước ta được thế giới xếp vào khu
vực các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi. Theo ngôn từ trong các văn bản
chính thống ở nước ta thì gọi đó là “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”.
Trong nền kinh tế thuần túy thị trường, cơ chế hoạt động ưu tiên cho mục
tiêu “vi phúc”, vì vi phúc thì thường dẫn đến hậu quả “bất nhân”. Trong nền kinh
tế XHCN, cơ chế hoạt động ưu tiên cho mục tiêu “vi nhân”, mà vi nhân do phải
thực hiện kế hoạch hóa tập trung nên “bất phú”.
Như vậy, xây dựng nền “Kinh tế thị trường với định hướng XHCN”, đất
nước ta muốn thực hiện mục tiêu kép “vi nhân và vi phúc”.
(ii) Một thị trường hoàn chỉnh phải gồm sự đồng bộ cả ba lĩnh vực: Thị
trường hàng hóa; thị trường lao động; thị trường vốn.
Trên thực tế đất nước ta mới có thị trường hàng hóa còn chưa có thị
trường lao động và thị trường vốn. Luận điểm “Sức lao động là hàng hóa” còn
được phát triển rất dè dặt nếu chưa muốn nói là không dám khẳng định điều này.
Thị trường vốn thì còn manh nha và không ít khuyết tật. Tóm lại, kinh tế thị
trường ở nước ta còn ở vào trạng thái chưa hoàn chỉnh và do đó cái gọi là “cơ chế
kinh tế thị trường” vẫn chưa tường minh.

9


1.2. Quy luật giá trị


10


phạm trù “thị trường” thúc đẩy các hoạt động sản xuất dịch vụ, vừa dùng “quyền
lực nhà nước” (với ý tưởng Nhà nước của dân, do dân, vì dân) điều tiết sự bất
kham của thị trường.
1.3. Giáo dục, đào tạo và sử dụng GV trong nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN
(i) Nền kinh tế của các quốc gia, vô luận đi theo chế độ chính trị nào, được
phân thành 3 khu vực: kinh tế khai thác; kinh tế chế biến; kinh tế dịch vụ. Giáo
dục được xếp vào kinh tế dịch vụ.
(ii) Sứ mệnh nói chung của giáo dục cần phải thực hiện tam nhân: nhân
cách; nhân lực; nhân tài. Nhân cách là bệ phóng cho nhân lực, nhân tài. Cuộc thi
đua trong kinh tế rút cục là cuộc thi đua trong giáo dục. Nước nào thắng trong
giáo dục là thắng trong kinh tế vì giáo dục tạo nên nguồn nhân lực kĩ thuật cao và
tầng lớp người ưu tú của xã hội (nhân tài).
Tuy giáo dục là thiết chế chủ đạo tạo nên nhân lực kĩ thuật cao và nhân
tài, song “nhân cách” luôn luôn là bệ phóng cho hai phạm trù này. Giáo dục phải
thực hiện hài hòa hai nhiệm vụ phân hóa và xã hội hóa. Quá chú ý nhiệm vụ phân
hóa, tức là chỉ chú ý cơ cấu nhân lực mà coi nhẹ nhân cách (xã hội hóa), đất nước
có thể dẫn đến sự phân cực tạo ra xung đột xã hội. Song quá chú ý nhiệm vụ xã
hội hóa, tức là chỉ chú ý vấn đề nhân cách mà coi nhẹ vấn đề nhân lực, đặc biệt
nguồn nhân lực kĩ thuật cao, đất nước sẽ trì trệ và rơi vào sự khủng hoảng.
Giáo dục phổ thông luôn luôn có vai trò là nền móng cho sự đoàn kết xã
hội, cho việc kiến tạo nền văn hóa dân tộc.
1.4. GV là nhân tố chủ yếu và có vai trò then chốt trong việc thực hiện sứ
mệnh giáo dục
Nhân tố này theo quan điểm “Kinh tế học giáo dục” phải được nhìn nhận
trên hai chiều cạnh:

- GV THCS đạt chuẩn 99,22%; trên chuẩn 46,2%.
- GV THPT đạt chuẩn 99,6%; trên chuẩn 6,93%.
2.2. Ba mâu thuẫn trong đào tạo, sử dụng GV phổ thông
Thành tựu của phát triển giáo dục phổ thông nói chung, GV phổ thông nói
riêng là rất đáng trân trọng. Tuy nhiên như đã chỉ ra ở trên: Nước ta phát triển
giáo dục phổ thông trong điều kiện đang tồn tại nền kinh tế thị trường chưa hoàn
chỉnh lại còn nhiều khó khăn do thu nhập thấp (GDP bình quân đầu người thấp)
nên đào tạo, sử dụng GV phổ thông đang có nhiều mâu thuẫn.
12


Có thể kể đến những mâu thuẫn sau:
(i) Mâu thuẫn giữa quan điểm giáo dục đối với người GV và quan điểm
kinh tế đối với người GV. Quan điểm giáo dục đối với người GV là coi họ như
một kĩ sư tâm hồn, một người thầy. Trong lúc quan điểm kinh tế coi GV như một
người làm công trong khu vực kinh tế. Nhiều chính sách đối với GV chưa tìm
được một sự tương đồng trong cả kinh tế giáo dục.
Lương cho GV thường được khẳng định ở bậc cao nhất, song thực tế
không phải vậy. Lương nhiều ngành cao hơn lương GV, chưa kể ngoài lương còn
các phụ cấp khác mà đại bộ phận GV không được hưởng các “phụ cấp” đặc biệt
mà thường các ngành khác đều có “bất thành văn”. Ví dụ như thưởng lễ, Tết.
Tệ nạn dạy thêm, học thêm để vụ lợi, vụ thành tích đã xảy ra mà không có
biện pháp hữu hiệu để ngăn lại. Những năm gần đây, Trường ĐHSP không thể
thu hút HS giỏi thi vào do người thi vào không nhìn thấy viễn cảnh sáng lạng cho
nghề làm thầy.
(ii) Mâu thuẫn giữa sự bùng nổ của tri thức, yêu cầu rất cao đối với nội
dung giáo dục của nhà trường phổ thông. Trong đó, sự cải cách sư phạm không
theo kịp sự phát triển thực tế khối GV được đào tạo ra rồi về công tác tại trường
phổ thông luôn luôn bị coi là lạc hậu so với thực tiễn.
(iii) Trường phổ thông ngày nay không đơn thuần chỉ thực hiện các nhiệm


Lao

=

Lao động

13


Kỹ

=

Kỹ thuật

Hôn

=

Giáo dục hôn nhân

Quân

=

Giáo dục quân sự

Môi


=

Giáo dục pháp luật, chế độ chính sách

Si

=

Giáo dục phòng chống AIDS

Ma

=

Giáo dục phòng chống ma túy

(iv) Theo đề tài “01-2012” do Quỹ Hòa Bình phát triển Việt Nam thực
hiện thì GV phổ thông Việt Nam phải làm rất nhiều việc ngoài công việc dạy
học:
- Lao động sư phạm của GV Tiểu học là 62,95 giờ/ tuần.
- Lao động sư phạm của GV THCS là 68,82 giờ/ tuần.
- Lao động sư phạm của GV THPT là 72,48 giờ/ tuần.
- Trong khi đó CBVC thông thường chỉ có định mức 40 giờ/ tuần
Thời gian làm việc phụ trợ của GV hình như không được thanh toán cho
lao động đã bỏ ra.
(v) Mâu thuẫn về việc quản lý sử dụng GV phổ thông: Thực tế thì hiện
nay các trường phổ thông vẫn chưa được thực sự trao quyền tự chủ quản lý GV.
GV Tiểu học và THCS do Phòng Giáo dục quản lý, tuyển dụng. GV THPT do Sở
GD & ĐT quản lý, tuyển dụng; Phòng Giáo dục tuyển GV Tiểu học và THCS rồi
giao cho trường Tiểu học, THCS phân công và điều khiển việc dạy học.

bước so với phổ thông về các xu hướng đổi mới PPDH.
* Thách thức về cơ cấu: Có một thời do nhận thức cản trở về kinh tế hoặc
lao động, người ta quan niệm “Ngành Giáo dục” thích hợp với nữ, cho nên đa số
vào ngành là nữ, tuyển sinh vào trường sư phạm đa số là nữ. Nhiều HS suốt từ
lớp 1 đến lớp 12 GV chủ nhiệm đều là “cô”. Tác động đến “nhân cách” HS chưa
tạo ra hiệu ứng tích cực. Sự không cân bằng về giới đã làm cho chất lượng giáo
dục tổng thể chưa thật hài hòa.
Ngoài sự thách thức về cơ cấu giới đã kể trên cần phải kể đến các thách
thức về cơ cấu môn học. Nhìn chung sự xác định “toán”, “văn” là môn chủ công

15


nên GV Toán và Văn bao giờ cũng có quy mô lớn. Thật ra đến cấp 2, cấp 3 đã có
yêu cầu dạy “liên môn”, “môn tích hợp”. Tiếc rằng nhận thức này đối với nước ta
hơi chậm, nên sự đào tạo sư phạm chưa bắt kịp với yêu cầu phát triển phổ thông.
Thực trạng chung là trường phổ thông cấp 2, cấp 3 đang có tình trạng vừa thừa,
vừa thiếu GV.
Những thách thức về “số lượng”, “chất lượng”, “cơ cấu” một phần do
khách quan: nền giáo dục trong mấy thập niên phải tư duy lại trên con đường
phát triển, song có phần do chủ quan: các nhà làm chính sách cho GV theo các
khâu đào tạo - sử dụng trên cả hai lĩnh vực kinh tế - giáo dục ít có những dịp bàn
soạn với nhau một cách chia sẻ, ít được tham vấn nhau trong việc đề ra chính
sách chung.
3. Giải pháp để vƣợt qua thách thức
3.1. Xây dựng triết lý về đào tạo - sử dụng GV phổ thông thích hợp với
đất nước trong hoàn cảnh mới.
Việc xây dựng triết lý này không phải chỉ có sự tham gia của giới Giáo
dục học mà cần có sự tham gia của giới Kinh tế học. Người GV phổ thông có vai
trò đặc biệt trong kinh tế hoặc lao động: Là nhân công nhưng đó là loại nhân

nâng cao trình độ NVSP, trang bị cho mọi GV máy tính xách tay phục vụ việc
nâng cao trình độ chuyên môn và xây dựng nhà công vụ cho GV.
3.6. Lập Hội giáo chức Việt Nam (thay vì hiện nay là hội Cựu giáo chức).
Hội này có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi cho GV, như một kênh hỗ trợ cho công
đoàn giáo dục, vinh danh mọi GV có quá trình phục vụ phát triển giáo dục ở các
vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, đặc biệt là những GV đã tham gia công tác ở
vùng đồng bào dân tộc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Nguyễn Thị Bình (2013). Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải cách công tác
đào tạo bồi dưỡng GV phổ thông. Đề tài Độc lập cấp Nhà nước. Mã số 01/2010.
[2]. Phạm Minh Hạc (2011). Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đến thế kỷ XXI.
NXB Giáo dục Việt Nam.

17


SỰ KẾT NỐI GIỮA CƠ SỞ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN
VÀ TRƢỜNG PHỔ THÔNG TRONG TRIỂN KHAI CHƢƠNG TRÌNH
THỰC HÀNH NGHỀ SƢ PHẠM
TS. Tôn Quang Cƣờng
Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Đặt vấn đề
Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc hạn chế về chất lượng đào tạo
GV hiện nay chính là ở khâu thực hành nghề trong các trường sư phạm. Nói cách
khác, chính là ở khía cạnh thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa lí luận và thực hành
(bao gồm thực hành tại trường sư phạm và tại cơ sở giáo dục phổ thông). Hiện
nay hầu hết các tài liệu về lí luận dạy học đều sử dụng thuật ngữ “clinical
practicum” (tạm dịch là “thực hành lâm sàng” để chỉ quá trình thực tập tay nghề

hướng dẫn của các chuyên gia sư phạm, giáo dục chuyên nghiệp.
(3) Mô hình “Đối tác” dựa trên một thỏa thuận giữa trường sư phạm và
trường phổ thông địa phương (được lựa chọn kĩ lưỡng, đáp ứng các yêu cầu về
điều kiện, năng lực tổ chức TTSP). Nhà trường sẽ cung cấp các cơ hội triển khai
TTSP, kể cả GV hướng dẫn, chỉ đạo thực tập.
(4) Mô hình “Phát triển cộng đồng” (Community Development Model): Là
mô hình thường được áp dụng ở những vùng địa phương có khó khăn về kinh tế,
văn hóa giáo dục. Trong quá trình đi TTSP, các giáo sinh vừa thực hành nghề,
vừa góp phần nâng cao nhận thức, dân trí, phương pháp sư phạm... cho HS và
GV tại nhiệm. Trong quá trình này, giáo sinh sẽ có cơ hội đối mặt, tìm hiểu và
học hỏi từ thực tế giáo dục đa dạng, đồng thời cũng đóng góp một phần vào việc
phát triển cho một nhà trường cụ thể tại địa phương.
(5) Mô hình “Tích hợp” (Integrated Model): Là mô hình kết hợp giữa
nhà trường sư phạm và cộng đồng địa phương trong việc chia sẻ trách nhiệm
đào tạo GV. Chính quyền địa phương có thể “đặt hàng” một số cơ sở để tổ
chức TTSP, trường sư phạm chịu trách nhiệm cử giáo sinh, giám sát và đánh
giá kết quả thực tập.
(6) Mô hình “Thực tập điển hình” (Case Based Model): Dựa trên ý tưởng
thực hành lâm sàng trong đào tạo bác sĩ, chương trình TTSP được thiết kế dựa
trên một số lượng lớn các nội dung, trường hợp, tình huống xác thực (authentic
cases). Giáo sinh sẽ phải tự đối mặt, thực hiện giải quyết các nhiệm vụ này trong

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status