Nghiên cứu đánh giá khả năng chịu tải và đề xuất các giải pháp bảo vệ chất lượng nước sông vàm cỏ đông tỉnh long an - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
_______________________________

NGUYỄN MINH LÂM

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU TẢI VÀ ĐỀ
XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ CHẤT LƯỢNG NƯỚC
SÔNG VÀM CỎ ĐÔNG TỈNH LONG AN

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KỸ THUẬT

TP. Hồ Chí Minh năm 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
_______________________________

NGUYỄN MINH LÂM

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU TẢI VÀ ĐỀ XUẤT
CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG VÀM
CỎ ĐÔNG TỈNH LONG AN

Chuyên ngành : SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Mã só : 62.85.15.01

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KỸ THUẬT


của toàn LVS, nhất là trong bối cảnh các tỉnh, thành trên lưu vực đang đẩy nhanh
tiến trình CNH, HĐH đến năm 2020 và xa hơn nữa.
Trong khi đó, trên phạm vi toàn lưu vực thì việc bảo vệ dòng sông VCĐ chưa
được quan tâm đúng mức, công tác quản lý LVS có rất nhiều hạn chế, nhân lực,
phương tiện thiếu thốn, dữ liệu quản lý nghèo nàn, thiếu các giải pháp quản lý phù
hợp và các nỗ lực tổng hợp của các tỉnh, thành, cũng như vai trò của cộng đồng trên
LVS còn chưa được chú trọng phát huy và chưa có tính đồng thuận cao.
Tuy Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2008/NĐ-CP ngày 01/12/2008
về Quản lý LVS và đã thành lập Uỷ ban BVMT lưu vực hệ thống sông Đồng Nai,
song cho đến nay vẫn chưa có một tổ chức điều phối LVS nào chính thức đảm nhận
trách nhiệm quản lý LVS Vàm Cỏ Đông, bởi vì về nguyên tắc, Uỷ ban BVMT lưu


2
vực hệ thống sông Đồng Nai chỉ có chức năng và nhiệm vụ thực hiện Đề án bảo vệ
môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai đã được phê duyệt, và chưa được trao
quyền quản lý các nhóm LVS liên tỉnh trực thuộc, trong đó có nhóm LVS VCĐ.
Tại các địa phương trên lưu vực, thì công tác quản lý và bảo vệ chất lượng
nước sông VCĐ cũng còn nhiều yếu kém và thiếu sót. Việc đánh giá khả năng chịu
tải, dự báo diễn biến chất lượng nước sông và công tác quản lý các nguồn thải đổ
vào nước sông VCĐ còn chưa được thực hiện. Các giải pháp bảo vệ và cải thiện
chất lượng nước sông VCĐ chưa được áp dụng đúng mức và chưa được triển khai
một cách bài bản, đầy đủ, hiệu quả.
Vì vậy, nhận thức rõ được tầm quan trọng và tính cấp thiết của các vấn đề này,
đề tài Luận án tiến sỹ kỹ thuật “Nghiên cứu đánh giá khả năng chịu tải và đề xuất
các giải pháp bảo vệ chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông, tỉnh Long An” đã
được đề xuất thực hiện.
Theo Đề cương Luận án tiến sỹ đã được Hội đồng Khoa học Viện Môi trường
và Tài nguyên, phê duyệt thông qua tháng 9/2009, nội dung chính luận án gồm 03
chuyên đề cơ bản như sau: (1) Chuyên đề 1 - Tổng quan về quản lý và bảo vệ các

- Tổng quan về các công trình nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước có liên
quan tới đề tài của Luận án;
- Tổng quan cơ sở lý thuyết về tải lượng ô nhiễm các nguồn thải và khả năng
chịu tải của dòng sông;
- Khảo sát, điều tra, đánh giá bổ sung về hiện trạng chất lượng nước mặt năm
2009 trên địa bàn huyện Bến Lức;
- Ứng dụng các phương pháp toán phù hợp để tính toán lưu lượng, tải lượng ô
nhiễm từ các nguồn thải chính trên địa bàn huyện Bến Lức;
- Ứng dụng mô hình toán phù hợp (MIKE 11, chỉ số chất lượng nước WQI) để
tính toán, đánh giá khả năng chịu tải và diễn biến chất lượng nước sông Vàm Cỏ
Đông - đoạn chảy qua huyện Bến Lức, tỉnh Long An;
- Đề xuất các giải pháp quản lý thống nhất và tổng hợp bảo vệ chất lượng
nước sông Vàm Cỏ Đông;


4
4. Phạm vi nghiên cứu
Tải lượng ô nhiễm các nguồn thải, khả năng chịu tải và chất lượng nguồn nước
sông Vàm Cỏ Đông được giới hạn nghiên cứu chi tiết và trọng tâm của đề tài ở
phạm vi đoạn sông Vàm Cỏ Đông chảy qua huyện Bến Lức, tỉnh Long An, dài 36,5
km tính kể từ điểm đầu chảy vào ở huyện Đức Huệ và điểm cuối chảy ra ở huyện
Cần Đước. Đoạn sông Vàm Cỏ Đông chảy qua huyện Bến Lức được chọn là trọng
tâm để nghiên cứu với các lý do như sau:
Đây là đoạn sông trung tâm ở vùng trung – hạ lưu sông VCĐ, nên chịu các
tác động rất tập trung từ các nguồn thải thượng nguồn (Tây Ninh) và trung – hạ
nguồn (huyện Đức Hoà, Đức Huệ, Thủ Thừa, TP.HCM), cũng như chịu tác động
tháu chua, rửa phèn thường xuyên từ vùng Đồng Tháp Mười, nguy cơ ô nhiễm rất
cao, nên cần được ưu tiên quản lý và bảo vệ chất lượng nước sông
Nghiên cứu sinh là người nắm rỏ địa bàn nghiên cứu, có số liệu kế thừa và
thực nghiệm và đây còn là vùng đang phát triển nhanh về mặt kinh tế xã hội và có

- Dự báo diễn biến chất lượng nước sông (chỉ số WQI) và khả năng chịu tải
của sông Vàm Cỏ Đông.
Quy chuẩn để xem xét và đánh giá các thành phần nghiên cứu này là QCVN
08:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (cột A1,
A2, B1, B2) [35], cùng các phương án kịch bản dự báo khác nhau theo điều kiện và
bối cảnh phát triển cụ thể của LVS Vàm Cỏ Đông đến năm 2020, thể hiện trước hết
ở khả năng xử lý nước thải sinh hoạt đáp ứng QCVN 14:2008/BTNMT [36] và
nước thải công nghiệp đáp ứng QCVN 40:2011/BTNMT [37].
6. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Cách tiếp cận
- Tiếp cận toàn diện, hệ thống, thực tiễn và tổng hợp: Khu vực nghiên cứu của
Luận án là một hệ thống thống nhất, trong đó các điều kiện cấu thành hệ thống gồm
địa hình, địa chất, khí hậu, thuỷ văn, đất, nước, sinh vật, con người, phương thức
quản lý, khai thác…, là các thành phần của hệ thống tương tác quan hệ ràng buộc và
tác động lẫn nhau. Để đạt được mục tiêu đặt ra, đòi hỏi luận án phải xem xét bối
cảnh chung của toàn lưu vực một cách toàn diện, hệ thống, thực tiễn và tổng hợp, để


6
làm rõ các nguồn tác động đến môi trường nước và từ đó đề xuất các giải pháp kiểm
soát tác động xấu đến môi trường và sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý.
Trong đó, đối với một LVS thì cách tiếp cận phổ biến là cách tiếp cận hệ thống
quản lý tổng hợp LVS, gồm cả hệ thống quản lý tổng hợp tài nguyên nước LVS và
hệ thống quản lý chất lượng nước LVS.
- Tiếp cận hệ kinh tế – sinh thái – môi trường và phát triển bền vững: Mục
tiêu cơ bản của Luận án là đánh giá khả năng chịu tải và đề xuất các giải pháp bảo
vệ chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông - đoạn chảy qua huyện Bến Lức, tỉnh Long
An phục vụ quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nước sông nhằm thích
ứng và có lợi cho đời sống kinh tế - xã hội của khu vực. Việc phát triển kinh tế - xã
hội, đặc biệt là quy hoạch và triển khai các khu dân cư và sản xuất, nhà máy, khu

BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (cột A2, B1).
Việc điều tra, khảo sát phục vụ tính toán khả năng chịu tải của nguồn nước
sông Vàm Cỏ Đông trên địa bàn huyện Bến Lức được tiếp cận như sau:
Sơ đồ tiến trình nghiên cứu chung của Luận án như trên hình i:
Tính toán khả năng chịu tải của nguồn nước tiếp nhận
Tải lượng ô nhiễm
tối đa chất ô nhiễm

Tải lượng ô nhiễm sẵn
có trong nguồn nước

Hiện trạng mạng lưới sông

Quan trắc, đánh giá
chất lượng nước

Tải lượng ô nhiễm có khả
năng thải vào nguồn nước

Thống kê nguồn gây ô nhiễm

Đo đạc các yếu tố thủy
văn, thủy lực, địa hình,..

Lựa chọn các thông số chỉ
thị và phương pháp tính

Điều tra, khảo sát, thu mẫu, thu thập số liệu

Kế hoạch nghiên cứu

Hệ thống sông VCĐ qua huyện Bến
Lức
Lựa chọn các thông số/chỉ thị để
tính toán và dự báo tải lượng ô

Thống kê các nguồn gây ô nhiễm
Lựa chọn các nguồn gây ô nhiễm
chính cần tiếp cận nghiên cứu

Lựa chọn phương pháp tính toán và dự báo tối ưu
Thu thập thông tin, số liệu về các nguồn thải
Nguồn điểm
Công
nghiệp

Sinh
hoạt

Nguồn diện
Nông
nghiệp

Nước mưa
chảy tràn

Trình diễn số liệu và viết báo cáo

Hình ii: Tiếp cận tính toán tải lượng chất ô nhiễm phục vụ đánh giá khả năng
chịu tải của sông Vàm Cỏ Đông tại địa bàn huyện Bến Lức
6.3. Phương pháp nghiên cứu


Định vị bằng GPS trên bản đồ vị trí ô nhiễm, các điểm xả thải vào nguồn

nước, lấy phiếu điều tra, quay phim, chụp ảnh, thí nghiệm ngoài hiện trường và lấy
mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm về các chỉ tiêu lý hoá, sinh hóa để đánh giá
chất lượng nước, mức độ ô nhiễm, tính toán chỉ số chất lượng nước WQI.
3- Giải tích và phân tích thống kê: Dùng để lập các bảng liệt kê số liệu, phân
tích, đánh giá, xử lý và so sánh các nguồn số liệu, kết quả xử lý thống kê... quá trình
thực hiện này được sự hỗ trợ tích cực của các công cụ và phần mềm máy tính:
o Thống kê, tổng hợp và phân tích các loại dữ liệu, so sánh và chồng lớp,
phân tích và lập ma trận phục vụ cho việc tìm lời giải tối ưu;
o Tiến hành nghiên cứu sử dụng các qui trình, qui phạm và các quy chuẩn


10
hiện hành của Nhà nước Việt Nam để xây dựng các qui định, quy chuẩn chuẩn về
quy hoạch tổng hợp và sử dụng hợp lý tài nguyên nước;
o Tổng hợp, phân tích số liệu, dữ liệu về khí tượng, thuỷ văn, dân sinh, kinh
tế dựa trên phương pháp thống kê và phương pháp giải tích đang được ứng dụng để
đánh giá biến động của chúng dưới tác động của các quá trình tự nhiên, biến đổi khí
hậu và khai thác sử dụng của con người;
o Đánh giá tổng quan các nghiên cứu đã có về quản lý tổng hợp và sử dụng
hợp lý tài nguyên nước dựa trên phương pháp phân tích, đánh giá trực quan có sự kế
thừa và phát triển, nâng cấp phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam;
o Do khối lượng số liệu khảo sát và thu thập rất lớn và đa dạng, nên luận án
sử dụng các phương pháp toán phân tích hệ thống (system analysis) tích hợp trong
các phần mềm toán thống kê chuyên dụng, để trợ giúp phân tích, luận giải và đưa ra
các thống kê dự đoán và dự báo phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đầu vào
cho mô hình toán được ứng dụng;
o Xác định những vấn đề tồn tại trong nghiên cứu tài nguyên, nhất là trong

Đối với ranh giới LVS Vàm Cỏ Đông đã sử dụng mô hình số độ cao (DEM), được
xây dựng từ bản đồ địa hình tỉ lệ 1:25.000, với quy trình gồm các bước sau:
(i) Lấp đầy các phần trũng (fill sinks);
(ii) Xác định hướng dòng chảy (flow direction);
(iii) Tích tụ dòng chảy (flow accumulation);
(iv) Chiết tách mạng lưới sông suối (drainage network extraction);
(v) Chiết tách cấp độ mạng lưới sông suối (drainage network ordering) và
(vi) Chiết tách các tiểu lưu vực.
Phương pháp mô hình toán (mô hình phần mềm MIKE 11, chỉ số WQI) ứng
dụng trong nội dung nghiên cứu Chương 3 của Luận án, sẽ được giới thiệu chi tiết
trong nội dung của Chương 2.
7. Ý nghĩa khoa học, tính mới và tính thực tiễn
7.1. Ý nghĩa khoa học
Từ kết quả tổng quan về vai trò của hệ thống quản lý tổng hợp lưu vực sông
trên thế giới và trong nước, cũng như tại tỉnh Long An (trong đó có sông Vàm Cỏ
Đông), Luận án đã xác định được một trong những mục tiêu chiến lược lâu dài để


12
phát triển bền vững kinh tế - xã hội tỉnh Long An nói chung và huyện Bến Lức nói
riêng, là cần phải quản lý và bảo vệ cho bằng được nguồn nước các sông chính trên
địa bàn tỉnh, đặc biệt là lưu vực sông Vàm Cỏ Đông.
Hệ thống dữ liệu hiện tại liên quan đến chất lượng môi trường nước nói
chung, chất lượng nước mặt nói riêng và tải lượng các chất ô nhiễm thải vào hệ
thống sông rạch huyện Bến Lức còn rất nghèo nàn. Việc tính toán tải lượng ô nhiễm
của một số nguồn chính, dự báo diễn biến chất lượng nước, xác định được khả năng
tiếp nhận các nguồn thải của sông, tính toán được tải lượng tối đa được phép xả
thải…, là cơ sở khoa học quan trọng để các cơ quan quản lý xem xét hoạch định các
chủ trương, chính sách trong phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ tài nguyên và
môi trường nước sông, đặc biệt là việc kiểm soát tải lượng ô nhiễm cho phép của

và địa phương về quản lý lưu vực sông VCĐ.
Luận án góp phần cung cấp thông tin tin cậy về thực trạng chất lượng nước,
tải lượng ô nhiễm các nguồn thải chính, khả năng chịu tải và diễn biến chất lượng
nước sông VCĐ, hỗ trợ tích cực cho các cơ quan quản lý trong việc xem xét, hoạch
định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ chất lượng nước sông
VCĐ, cũng như trong việc kiểm soát, xử lý các nguồn thải chính, cấp phép đầu tư,
di dời các cơ sở gây ô nhiễm, xây dựng hạn mức xả thải tải lượng chất ô nhiễm vào
trong nước sông,… nhằm bảo vệ chất lượng nước sông VCĐ.
Luận án góp phần làm rỏ thêm việc ứng dụng hệ thống các giải pháp quản lý
thống nhất và tổng hợp bảo vệ chất lượng nước sông VCĐ khả thi trên toàn lưu vực,
là cơ sở tin cậy để các cơ quan quản lý xây dựng chương trình/kế hoạch hành động
cụ thể bảo vệ dòng sông VCĐ trong hiện tai và tương lai, và phát huy các nỗ lực
tổng hợp của các tỉnh, thành, vai trò của cộng đồng trên lưu vực sông cho nhiệm vụ
này.


14
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG VÀ QUẢN LÝ TỔNG
HỢP LƯU VỰC SÔNG VÀM CỎ ĐÔNG

1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên huyện Bến Lức
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Bến Lức nằm ở phía Đông Long An, là cửa ngõ phía Bắc của miền Tây Nam
Bộ, cửa ngõ phía Tây của TP. Hồ Chí Minh đi các tỉnh miền Tây Nam Bộ và ngược
lại [51]. Huyện Bến Lức có tọa độ: từ 10035’48’’ đến 10047’48’’ độ vĩ Bắc và từ
106019’43’’ đến 106033’55’’độ kinh Đông, diện tích 289,54 km2 và các giáp ranh:
- Phía Bắc giáp huyện Đức Hòa, huyện Đức Huệ.
- Phía Đông giáp huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

199 ngày và chia theo mùa:
- Từ tháng 12 đến tháng 3 là mùa khô, lượng mưa chỉ chiếm từ 10 – 15%
tổng lượng mưa cả năm (khoảng 150 – 200 mm).
- Từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa mưa, lượng mưa chiếm tới 85 – 90% lượng
mưa cả năm (khoảng 1.450 – 1.600 mm).
- Tháng 4 và tháng 11 là 2 tháng chuyển tiếp.
- Tháng 7 và tháng 8 tuy là các tháng trong mùa mưa, nhưng có xuất hiện
thời gian không mưa, kéo dài từ 7 đến 15 ngày, có khi dài hơn, gây hạn cho cây
trồng, mà nhân dân thường gọi là hạn Bà Chằng.
- Các tháng 8, 9, 10 là các tháng có mưa lớn, chiếm tới 49% tổng lượng mưa
cả năm, lại trùng vào mùa lũ, nên vấn đề giải quyết tiêu thoát nước là rất quan trọng
để đảm bảo sản xuất và sinh hoạt dân cư.
*. Lượng bốc hơi:
Lượng bốc hơi bình quân năm 1.054 mm. Những tháng trong mùa khô cũng
là những tháng có lượng bốc hơi cao nhất, chiếm tới 57,12% lượng bốc hơi cả năm.
Lượng bốc hơi tháng lớn nhất vào tháng 3: 127 mm/tháng.
Lượng bốc hơi tháng nhỏ nhất vào tháng 10: 65 mm/tháng.
*. Độ ẩm:


16
- Độ ẩm bình quân năm 80,5%
- Độ ẩm bình quân tháng cao nhất 91,2% (tháng 10)
- Độ ẩm bình quân tháng thấp nhất 76,1% (tháng 1)
* Số giờ nắng:
- Tổng số giờ nắng trong năm 2.700 giờ, trung bình mỗi ngày có 7,4 giờ
nắng.
- Tháng có số giờ nắng cao nhất: tháng 3 với 305 giờ nắng.
- Tháng có số giờ nắng thấp nhất: tháng 9 với 176 giờ nắng.
* Gió:

- Từ Bến Lức ngược lên phía thượng nguồn độ mặn mùa kiệt giảm. Tại Bến
Lức, trước khi có hồ, lượng muối lớn hơn 4 g/l, sau khi có hồ lượng muối đã nhỏ
hơn 4 g/l.
- Từ phía dưới ranh Bến Lức đến cửa Soài Rạp do độ mặn quá cao nên khả
năng đẩy mặn của lượng nước xả từ hồ Dầu Tiếng ít có tác dụng.
 Nước sông Vàm Cỏ Đông chua, độ pH ở các tháng 5,6,7 nhỏ hơn 5.
Số liệu đo đạc mực nước max, min, trung bình qua nhiều năm được thể hiện ở
bảng 1-PL1 đến bảng 2-PL1, trang1-PL1, phụ lục 1 của Luận án
* Lưu lượng:
Sau khi có hồ Dầu Tiếng lưu lượng nước mùa kiệt của sông Vàm Cỏ Đông
được bổ sung 1,8 lần, cải thiện được chất lượng nước cho khu vực huyện Đức Hoà,
Đức Huệ và Bến Lức. Cùng với việc xây dựng hồ Phước Hoà khả năng đẩy mặn
của sông VCĐ tiếp tục được cải thiện tốt về phía hạ nguồn ra sông Soài Rạp [1].
* Tình hình lũ:
Huyện Bến Lức ít bị ảnh hưởng của lũ, những năm lũ lớn, bão và triều cường
gây ra ngập lụt ở các xã có độ cao thấp ven sông. Để giải quyết vấn đề này, huyện
đã xây dựng hệ thống đê bao và cống dưới đê hoàn chỉnh.
* Vấn đề tưới tiêu:
- Về tưới: Nguồn nước tưới cung cấp cho huyện Bến Lức lấy từ sông Vàm
Cỏ Đông được bổ sung từ nước xả hồ Dầu Tiếng. Việc chuyển nước ngọt từ sông
Vàm Cỏ Đông vào kênh rạch nhờ hệ thống cống điều tiết, cống qua đê và nước
được dự trữ tại đó để cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt.


18
- Về tiêu: Ngập úng trong khu vực do mưa lũ và triều cường, do đó cần phải
xây dựng hệ thống đê bao, cống tiêu qua đê và lợi dụng chênh lệch triều để tiêu theo
hướng tự chảy qua các cống điều tiết dưới đê là chính.
1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Bến Lức
1.1.2.1. Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội huyện Bến Lức năm 2010

- Văn hóa thông tin - thể thao: Công tác củng cố và nâng cao chất lượng đời
sống văn hóa ở cơ sở được chú ý tăng cường, đã ra mắt 2 ấp, khu phố văn hóa, nâng
tổng số ấp, khu phố văn hóa trong toàn huyện là 66/102 ấp, khu phố.
- Chính sách xã hội: Trong năm 2010, giảm 320 hộ nghèo; đến cuối năm
2009 toàn huyện còn 1.719 hộ nghèo, đạt tỷ lệ 5,9%; giải quyết việc làm mới cho
6.323 lao động.
- Dân số và phân bố dân cư: Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở
(tháng 4/2009), huyện Bến Lức có tổng cộng 146.868 người, trong đó dân số
thường trú là 146.729 người – chiếm 99,9% (với 22.280 người ở thành thị - chiếm
16,9% và 124.449 người ở nông thôn - chiếm 86,12%), và dân số đặc thù là 139
người. Tốc độ tăng dân của toàn huyện năm 2008 ở mức khoảng 1,16%.

Hình 1.1: Mật độ phân bố dân cư trên địa bàn huyện Bến Lức năm 2009


20
Mật độ phân bố dân cư huyện Bến Lức năm 2009 không đồng đều, chủ yếu
tập trung tại trung tâm thị trấn Bến Lức.
1.1.2.2. Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội huyện Bến Lức đến năm 2020 [49]
* Quan điểm phát triển:
Tiếp tục phát triển nhanh kinh tế, từng bước điều chỉnh phát triển hướng đến
cơ cấu kinh tế công nghiệp - thương mại dịch vụ ổn định và bền vững, phát triển
mạnh kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, từng bước nâng cao mức sống và phúc lợi xã
hội, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao.
* Các mục tiêu:
- Sử dụng đất: Nhóm đất nông nghiệp đến năm 2020 còn 12.300 ha. Nhóm
đất phi nông nghiệp đạt trên 16.500 ha vào năm 2020 (sông rạch chiếm 1.398 ha).
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
+ Giai đoạn 2011 – 2015: GDP tăng bình quân 19,6%/năm.
+ Giai đoạn 2016 – 2020: GDP tăng bình quân 17,4%/năm.

viện, cơ quan có công trình hố xí hợp vệ sinh; 100% các hộ chăn nuôi đầu tư
hầm/túi biogas hoặc các công trình xử lý chất thải.
+ Đến năm 2020:
* 100% các CSCN trong các K/CCN có hệ thống tách và XLNT.
* Hoàn thành hệ thống tách tràn nước thải tại các đô thị cũ; các đô thị mới
phải có hệ thống tách nước thải riêng.
1.1.3. Khái quát về đặc điểm khu vực nghiên cứu - sông Vàm Cỏ Đông, đoạn
chảy qua huyện Bến Lức, tỉnh Long An
Sông Vàm Cỏ Đông có nguồn sinh ra độc lập, nằm trong phần đất miền
Đông Nam Bộ, nên được xem là thuộc lưu vực hệ thống sông Đồng Nai.
Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ thôn Suông thuộc địa phận tỉnh Compong
Chàm – Campuchia ở độ cao 150 m so với mực nước biển, chảy qua các huyện Tân
Biên, Châu Thành, thị xã Tây Ninh, Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng của tỉnh Tây
Ninh theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, sau đó đến cửa Rạch Tràm rồi đổ vào địa
phận tỉnh Long An qua các thị trấn Đức Huệ, Hiệp Hòa, Bến Lức, Tân Trụ, chảy


22
đến ngã ba Bần Quỳ (Cần Đước – Long An) và hợp lưu với sông Vàm Cỏ Tây, cuối
cùng theo sông Vàm Cỏ đổ ra sông Soài Rạp ra biển Đông [4,19].
Sông Vàm Cỏ Đông là sông lớn chảy qua địa bàn huyện Bến Lức. Với diện
tích lưu vực sông 6.200 km2, chiều dài sông là 168 km, đoạn qua tỉnh Long An là
145 km, độ dốc mặt nước và đáy sông nhỏ, độ rộng sông lớn dần, độ rộng trung
bình 400 m, độ sâu đáy sông ở cầu Bến Lức là -21m. Sông Vàm Cỏ Đông là phụ
lưu cấp 1 của sông Đồng Nai và LVS Vàm Cỏ Đông là LVS liên tỉnh nằm trong lưu
vực hệ thống sông Đồng Nai, hợp thành do hai nhánh: sông Vàm Cỏ Đông và Vàm
Cỏ Tây; sông Vàm Cỏ Đông nối với sông Vàm Cỏ Tây bằng các kênh ngang, nối
với sông Sài Gòn, sông Đồng Nai qua kênh Thầy Cai, An Hạ, sông Bến Lức…
Đoạn sông Vàm Cỏ Đông chảy qua huyện Bến Lức dài 36,5 km, tính từ điểm
đầu ở huyện Đức Huệ đến điểm cuối ở huyện Cần Đước, là nguồn cấp nước chính

hoạt động sản xuất công nghiệp, đăc biệt là các khu vực thuộc huyện Đức Hòa, Bến
Lức… Bên cạnh đó, sông Vàm Cỏ Đông có vai trò rất quan trọng trong việc tiêu
thoát nước, là nơi tiếp nhận nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp. Tuyến
sông này cũng dẫn đến các điểm du lịch nổi tiếng của Long An như: khu di tích lịch
sử Bình Thành huyện Đức Huệ, Vàm Nhật Tảo…
1.2. CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG VÀM CỎ ĐÔNG TẠI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU
1.2.1. Đánh giá thực trạng chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status