3
MỞ ĐẦU
Ngay từ khi ra đời, ôtô đã chứng tỏ được tầm quan trọng của mình trong
cuộc sống của con người. Sản xuất ôtô trên thế giới ngày nay tăng vượt bậc, ôtô
trở thành phương tiện vận chuyển quan trọng về hành khách và hàng hoá cho
các ngành kinh tế quốc dân, đồng thời đã trở thành phương tiện giao thông tư
nhân ở các nước có nền kinh tế phát triển. Ngay ở nước ta số ôtô cũng đang phát
triển cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, mật độ xe trên đường ngày càng
cao. Từ đó đến nay ngành công nghiệp ôtô không ngừng phát triển về số lượng
cũng như chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày một cao và khắt khe hơn của
người sử dụng. Ngành công nghiệp ôtô đóng vai trò rất quan trọng trong sự tăng
trưởng của nền kinh tế ở các quốc gia, đặc biệt ở một số nước phát triển đã chọn
ngành công nghiệp ôtô là ngành mũi nhọn.
Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa rất mạnh
mẽ, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam mới ra đời còn non trẻ khi mới chỉ dừng
lại ở quy mô lắp ráp, sửa chữa, chế tạo một số chi tiết nhỏ với tỷ lệ nội địa hóa
tăng dần theo thời gian nhưng tương lai hứa hẹn có nhiều khởi sắc. Hiện nay các
loại xe được khai thác sử dụng trong nước bao gồm nhập khẩu từ nước ngoài và
một phần lắp ráp trong nước, các loại xe này có các thông số kỹ thuật phù hợp
với điều kiện địa hình và khí hậu Việt Nam. Do đặc thù khí hậu nước ta là nhiệt
đới gió mùa ẩm, địa hình nhiều đồi núi, độ ẩm cao nên nhìn chung là điều kiện
khai thác tương đối khắc nghiệt. Chính vì vậy việc tìm hiểu, đánh giá và kiểm
nghiệm các hệ thống, các cụm trên xe là việc hết sức cần thiết để đảm bảo khai
thác sử dụng xe có hiệu quả cao góp phần nâng cao tuổi thọ xe cũng như tính
kinh tế.
Hệ thống lái của ôtô là một hệ thống quan trọng dùng để thay đổi hướng
chuyển động hoặc giữ cho ôtô chuyển động theo một quỹ đạo xác định nào đó.
Cơ cấu lái bánh răng – thanh răng được sử dụng phổ biến trên các xe ôtô du lịch
và xe tải nhỏ, xe SUV và Ford Ranger cũng nằm trong số đó. Nó là một cơ cấu
cơ khí khá đơn giản. Một bánh răng được nối với một ống kim loại, một thanh
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ XE FORD RANGER
1.1 Giới thiệu chung về xe Ford Ranger
Ford Ranger là xe bán tải hai cầu . Dòng xe pick-up (bán tải) đang được
người Việt Nam ưa chuộng bởi tính đa dụng của nó, nó vừa có thể được dùng
làm chiếc xe vận chuyển hàng hóa vừa có thể sử dụng như một chiếc xe du lịch
cho cả gia đình nếu làm một phép tính đơn giản pick-up khá đa dụng và tiện lợi
trong thời buổi bão giá hiện nay. Xe pick-up là dạng xe bán tải kiểu dạng như 1
chiếc xe đa dụng hàng ghế ngồi có 5 chỗ (tính cả ghế lái) nó có thêm 1 thùng
chở hàng phía sau tách biệt hẳn với khoang ghế hành khách có thể chở được
hàng hóa với kích thước quá khổ mà những chiếc xe đa dụng khác không thể
đảm nhiệm, khung gầm tương tự như xe tải thiết kế phù hợp với nhiều địa hình,
vận chuyển hàng hóa trọng lượng vừa phải (500 – 700kg).
Thái Lan là một trong 5 quốc gia sản xuất Ranger sau đó xuất khẩu ra các
thị trường lân cận, trong đó có Việt Nam. Việc nhập khẩu xe từ Thái Lan không
quá xa lạ, với Ranger cũng được nhập nguyên chiếc cách đây 3 năm.
Ford bắt đầu sản xuất mẫu Ranger vào tháng Giêng năm 1982 tại nhà
máy Ford ở Bắc Mỹ và bắt đầu sản xuất bên ngoài lãnh thổ nước Mỹ từ năm
1995. Nhưng đến 6/2001 sau gần 6 năm có mặt tại Việt Nam, nhà máy Ford Việt
Nam tại Hải Dương mới bắt đầu xuất xưởng những chiếc Ford Ranger đầu tiên.
Ranger thích ứng được với mọi loại địa hình, nhờ vào khả năng lội nước vượt
trội đến 800mm và các công nghệ hỗ trợ xuống dốc và leo dốc; khả năng kéo
mạnh mẽ lên nhất trong các xe cùng phân khúc, lên tới hơn 3.350 kg ở một số
các phiên bản động cơ dầu. Với 3 kiểu cabin đơn-mở-kép và 2 loại hệ thống
truyền động 4x2 và 4x4 cùng với hai kiểu chiều cao xe, Ford đã cho ra mắt 5
phiên bản Ranger để phù hợp với các thị trường khác nhau.
Trong vòng 10 năm từ khi là chiếc xe bán tải hai cầu đầu tiên ra mắt,
Ford Ranger đã qua 5 lần thay đổi, với hơn một vạn xe bán ra. Mẫu xe
này chiếm khoảng 25% thị phần bán tải tại Việt Nam với nhiều mục đích sử
dụng, nhưng tập trung chủ yếu trong việc chuyên chở.
Kiểu dáng bên ngoài xe được thể hiện trên hình 1.1
Động cơ Turbo Diesel 2.5L
Số tay 5 cấp
Ranger 4x2 XLT AT Canopy
Động cơ Turbo Diesel 2.5L
Tự động 5
cấp
7
Ranger 4x2 XL MT Canopy
Động cơ Turbo Diesel 2.5L
Số tay 5 cấp
Điểm nổi bật về công nghệ của FR là được trang bị động cơ Duaratorq
diezel 2.2L TDCi trục cam kép 16 van có làm mát khí nạp Intercooler. FE mang
lại sự hài lòng cho người sử dụng khi vận hành trong các điều kiện đường sá và
địa hình khác nhau nhưng lại rất tiết kiệm nhiên liệu. Một chiếc Ranger 4x4
trung bình tiêu hao khoảng 8 lít nhiên liệu cho 100km đường trường. Hộp số 6
cấp trên phiên bản máy dầu không chỉ tang hiệu suất tiêu thụ nhiên liệu mà còn
mang lại tính năng lái hoàn hảo. Ngoài những vấn đề về động cơ và hộp số đã
nói ở trên FR còn là một chiếc xe đột phá về công nghệ khi được thiết kế về mặt
khí động học hoàn hảo, lốp xe được cải tiến chống lật và tang độ bám đảm bảo
độ an toàn cho người lái, hệ thống quản lý bình ắc qui, được trang bị nút gài cầu
tự động, bộ vi sai cầu sau khóa điện được khởi động dễ dàng trên bảng điều
khiển đều là những công nghệ mới nổi trội và tiện lợi được ứng dụng vào chiếc
xe FR này.
1.2. Đặc tính kỹ thuật của xe Ford Ranger 2011
Bảng 1.1. Bảng kích thước tiêu chuẩn của xe Ford Ranger [9]
Đặc điểm
Dài x Rộng x Cao (mm)
x 465
5170 x 1723
x 1632
1530 x 1456
x 465
0.952
0.952
0.952
195
195
152
1445-1475
1440-1470
3000
1445-1475
1440-1470
3000
1445
1450
2985
245/70R16
235/75R15
Vành hợp kim
Bánh xe
Vành thép
nhôm đúc
V thùng nhiên liêu (lít)
63 lít
63 lít
Bảng 1.2. Bảng trang thiết bị chính của xe Ford Ranger [9]
Đặc điểm
Túi khí
Trợ lực lái
Trục lái điều chỉnh
được độ nghiêng
Cửa kính điều khiển
điện
Gương điều khiển điện
Điều hòa nhiệt độ
Số chỗ ngồi
Ghế trước
Ghế sau
Vật liệu ghế
Khóa cửa điều khiển từ
xa
Đèn sương mù
Tay nắm cửa mạ Crôme
Gương chiếu hậu
mạ Crôme
Có
Có
Có
5 chỗ
Điều chỉnh được
độ nghiêng và độ
cao của tựa đầu
Ghế băng gập
được có tựa đầu
Nỉ
Có
Có
Có
Có
5 chỗ
5 chỗ
Điều chỉnh được Điều chỉnh được
độ nghiêng và độ độ nghiêng và độ
cao của tựa đầu cao của tựa đầu
Ghế băng gập
Ghế băng gập
được có tựa đầu được có tựa đầu
Vải
Vải
Có
Không
Hệ thống âm thanh
9
lại sự hài lòng cao nhất khi vận hành trong các điều kiện đường sá và địa hình,
nhưng lại rất tiết kiệm, trung bình tiêu hao khoảng 8 lít diezel/100km.
Hệ thống động cơ kiểu cam đơn SOHC đã được thay thế bằng kiểu trục
cam kép DOHC. Công nghệ phun nhiên liệu đơn đường tăng áp TCDi (Turbo
Direct Common - Rail Injection) chưa được trang bị cho các phiên bản trước đó
nay đã được Ford Việt Nam tích hợp trên phiên bản mới này.
Ford Ranger mới còn được trang bị động cơ diesel mới sử dụng công
nghệ phun nhiên liệu Common - rail. Động cơ 2.5L có công suất 143 mã lực,
mô-men xoắn cực đại 330 Nm ở vòng tua 1800 không chỉ mạnh mẽ hơn so với
các mẫu cùng phân khúc, Ford Ranger tự tin với phiên bản 2.5 có mức tiêu hao
nhiên liệu thấp hơn 22% so với phiên bản cũ và đáp ứng tiêu chuẩn Euro 2.
- Hệ thống làm mát: Có hệ thống làm mát khí nạp Intercooler. Hệ thống
làm mát bằng nước theo phương pháp tuần hoàn cưỡng bức.
- Hệ thống bôi trơn hỗn hợp cưỡng bức: bôi trơn cưỡng bức kết hợp bơm
và vung té, có dung lượng 4,7 lít.
1.3.2. Hệ thống truyền lực
Hệ thống truyền lực của xe bao gồm: ly hợp, hộp số, truyền lực chính và vi sai, các
đăng.
- Ly hợp: Đĩa ma sát đơn, điều khiển bằng thủy lực với lò xo đĩa.
- Hộp số: hộp số sàn 5 cấp Ford MT75.
- Truyền lực chính và vi sai: sử dụng truyền lực chính một cấp bánh
răng trụ răng nghiêng vi sai thường.
- Các đăng: Xe sử dụng các đăng đồng tốc bi kiểu Rơ xép pơ và Tripot
để truyền lực cho bánh xe chủ động ở cầu trước (cầu dẫn hướng).
1.3.3. Hệ thống điều khiển
Hệ thống đèn: đèn khu vực chính bên trong, đèn xi nhan, đèn phanh, đèn
báo đi thẳng, đèn sương mù, đèn pha tự động tắt mở...Thiết bị điều hòa phân
vùng khí hậu, máy lọc không khí trong xe.
1.3.6. Thiết bị phụ
Thiết kế nội thất xe điển hình cho dòng xe bán tải nhưng vẫn đầy đủ tính
năng, tiện nghi. Chỗ ngồi được bố trí hợp lý với một hoặc hai dãy ghế tùy vào
điều kiện sử dụng.
11
Hình 1.4 Bố trí nội thất trên xe.
Ford Ranger có bình xăng với dung tích lớn 63 lít, tiện cho chuyến đi dài mà
không phải đổ xăng nhiều lần. Dàn CD 1 đĩa cho xe 4x2 và dàn CD 6 đĩa cho xe 4x4,
Ford Ranger mang lại sự thư giãn qua âm nhạc trên đường xa (hình 1.8).
Hình 1.5 Hệ thống giải trí trên xe.
Các trang thiết bị an toàn cao cấp gồm có: dây đai an toàn, hai túi khí bảo
vệ. Ghế lái được thiết kế với điểm gập phần hông (H-point) bố trí cao, tạo tầm
quan sát tối đa cho người ngồi lái, nhất là ở hai phía trái, phải của đầu xe. Trang
thiết bị của Ford Ranger gồm khoá cửa điều khiển từ xa, gương kính điều khiển
điện, đèn sương mù.
Kính trước được thiết kế hai lớp với một lớp nhựa mỏng ở giữa, không bị
vỡ vụn khi va chạm, giảm tối đa thương tích có thể gây ra cho người ngồi trong
xe. Các vùng biến dạng được thiết kế để hấp thụ lực va chạm, tự biến dạng trong
trường hợp có va chạm mạnh, giảm thiểu ảnh hưởng lên khoang hành khách
nhằm đảm bảo an toàn cho tài xế và người ngồi trong xe.
12
ốc.Trục lái của xe Ford Ranger dạng ống lồng liên kết với cơ cấu lái nhờ khớp các
đăng.
+ Lực trên vành tay lái khi trên đường xấu không quá 20 KG..
+ Hành trình tự do của vành lái 300.
Trên xe Ford Ranger được trang bị hệ thống lái có khả năng thay đổi góc
nghiêng của tay lái. Cấu tạo của hệ thống này như hình 2.1 dưới đây.
14
Hình 2.1. Bố trí trục lái loại điểm tựa dưới.
Cấu tạo cơ bản của cơ cấu này bao gồm một cặp cữ chặn nghiêng, bulông khoá
nghiêng, giá đỡ kiểu dễ vỡ, cần nghiêng v.v...Các cữ chặn nghiêng xoay đồng thời với
cần nghiêng. Khi cần nghiêng ở vị trí khoá, đỉnh của các cữ chặn nghiêng được nâng
lên và đẩy sát vào giá đỡ dễ vỡ và gá nghiêng, khoá chặt giá đỡ dễ vỡ và bộ gá
nghiêng. Mặt khác, khi cần gạt nghiêng được chuyển sang vị trí tự do thì sẽ loại bỏ sự
chệnh lệch độ cao của các cữ chặn nghiêng và có thể điều chỉnh trục lái theo hướng
thẳng đứng.
2.2.2. Cơ cấu lái
Cơ cấu lái sử dụng trên xe Ford Ranger là loại bánh răng trụ - thanh răng. Cơ
cấu lái bánh răng trụ - thanh răng sử dụng chủ yếu trên các xe công suất bé. Vỏ của cơ
cấu lái được làm bằng gang, trong vỏ có các bộ phận làm việc của cơ cấu lái, gồm trục
răng ở phía dưới trục lái chính ăn khớp với thanh răng, vỏ của cơ cấu lái bánh răng trụ
- thanh răng kết hợp làm luôn chức năng của thanh lái ngang trong hình thang lái.
15
Trục răng được chế tạo bằng thép, trục răng quay trơn nhờ 2 ổ bi đặt trong vỏ
của cơ cấu lái. Điều chỉnh các ổ này dùng một êcu lớn ép chặt các ổ bi, trên vỏ êcu có
+ Ma sát trượt và lăn nhỏ kết hợp với sự truyền mômen tốt nên lực điều khiển
trên vành lái nhẹ.
+ Cơ cấu lái được bao kín hoàn toàn nên ít phải bảo dưỡng.
* Nhược điểm
+ Chế tạo phức tạp nên giá thành cao.
+ Sử dụng cho xe có tải trọng bé.
Cơ cấu lái kiểu này thì tỉ số truyền có thể thay đổi được. Bước răng (khoảng
cách giữa các răng) giảm từ từ về hai phía đầu của thanh răng và độ sâu bước ăn khớp
mà tại đó răng của trục răng ăn khớp với răng của thanh răng trở nên lớn hơn. Vì vậy
đường kính ăn khớp thực tế của trục răng giảm khi nó tiến gần tới hai đầu của thanh
răng. Điều đó có nghĩa là, cùng với một góc quay của vô lăng như nhau, ở phần giữa
của thanh răng, nó sẽ di chuyển thoải mái hơn so với hai đầu của thanh răng.
2.2.3. Hình thang lái
Hình thang lái được bố trí phía sau đường tâm trục cầu trước. Hình thang lái
truyền động từ cơ cấu lái tới các bánh xe dẫn hướng với tỉ số truyền là 0,984. Bộ phận
chính của hình thang lái là cơ cấu hình thang lái, đó là cơ cấu 6 khâu bao gồm: hai
thanh kéo bên, thanh răng, hai đòn quay bên (cam quay) và dầm cầu là đường thẳng
tưởng tượng nằm trên đường tâm trục cầu trước vì hệ thống treo trước của xe là hệ
thống treo độc lập.
Hình 2.3. Sơ đồ bố trí hình thang lái xe Ford Ranger
1- Khớp cầu; 2- Thanh răng; 3- Thanh kéo bên; 4- Cam quay.
17
Các thanh kéo bên nối với thanh răng qua các khớp cầu, ở đầu thanh kéo bên có
ren để nối với đầu thanh lái, trên đầu thanh lái có khớp cầu để nối với cam quay. Các
thanh kéo bên có độ dài như nhau, chúng có cơ cấu điều chỉnh chiều dài để thay đổi độ
chụm của hai bánh xe dẫn hướng, cơ cấu điều chỉnh chiều dài thanh kéo bên thường
18
ngăn dầu khỏi lọt giữa hai bên của khoan công tác làm giảm hiệu suất của trợ lực lái. Ngoài
ra, ở hai đầu xi lanh có lắp thêm 2 phớt làm kín (1), (3) để ngăn dầu rò rỉ ra ngoài.
Hình 2.4. Đặc điểm kết cấu của xi lanh lực.
1, 3- Phớt làm kín; 2- Pít tông; 4- Trục van điều khiển.
2.2.4.2. Bơm thủy lực
a/ Cấu tạo
Bơm dầu trợ lực lái là bơm kiểu cánh gạt dẫn động bằng đai từ trục khuỷu động
cơ. Bơm thủy lực là nguồn cung cấp năng lượng cho bộ phận trợ lực lái. Trên xe sử
dụng bơm thuỷ lực là loại bơm kiểu rôto cánh gạt và được dẫn động bằng dây đai từ
puly trục khuỷu (Hình 2.5).
Hình 2.5. Đặc điểm kết cấu bơm trợ lực.
1- Cánh gạt; 2- Rô to; 3- Trục bơm; 4- Stato;5- Van điều chỉnh lưu lượng.
19
Bình chứa dầu lắp tách biệt với bơm được nối với bơm bằng hai ống mềm, một
đường ống cung cấp dầu cho bơm, một đường ống dầu hồi về bình chứa. Trên thành
bình có ghi các vạch giới hạn mức dầu, nếu mức dầu trong bình chứa giảm dưới mức
chuẩn thì bơm sẽ hút không khí vào gây ra lỗi trong vận hành. Vì vậy phải định kỳ
kiểm tra mức dầu trợ lực lái, nếu thấp hơn mức cho phép phải bổ xung ngay bằng loại
dầu thích hợp.
Van điều chỉnh lưu lượng điều chỉnh lượng dòng chảy dầu từ bơm tới van phân
phối, duy trì lưu lượng dầu không đổi cung cấp cho van phân phối mà không phụ
thuộc tốc độ bơm (v/ph). Bởi vì lưu lượng của bơm tỷ lệ với tốc độ động cơ, khi tốc độ
trục van điều khiển và van quay. Trên trục van điều khiển có mặt vát, trên mặt vát có
lỗ xuyên tâm để dẫn dầu vào lõi trục van điều khiển, dầu từ cửa vào qua các lỗ hướng
tâm trên van quay thông với lõi trục van điều khiển qua các mặt vát này. Trên trục van
điều khiển cũng có lỗ xuyên tâm để dẫn dầu ra cửa hồi (10) về bình chứa. Ngoài ra
21
trên trục van điều khiển và van quay còn có các vòng găng cao su để ngăn cách dầu
giữa các cửa.
Van điều khiển kiểu quay trong cơ cấu lái quyết định dầu từ bơm sẽ đi đến
buồng nào của xy lanh lực. Thanh xoắn có tiết diện nhỏ và dài nên đóng vai trò phần
tử đàn hồi. Khi quay vành tay lái, sức cản quay vòng của bánh xe làm thanh xoắn biến
dạng, trục van điều khiển xoay tương đối so với van quay gây ra sự trùng các mặt vát
của trục van điều khiển với các lỗ hướng tâm của van quay để đóng mở các đường
dầu.
2.3. Nguyên lý làm việc trợ lực lái xe Ford Ranger
2.3.1. Trường hợp xe đi thẳng
Khi xe đi thẳng thì trục van phân phối sẽ không quay mà nó sẽ nằm ở vị trí
trung gian so với van quay. Dầu do bơm cung cấp quay trở lại bình chứa qua cổng "D"
và buồng "D". Các buồng trái và phải của xi lanh bị nén nhẹ nhưng do không có sự
chênh lệch áp suất nên không có lực trợ lái.
Hình 2.7. Nguyên lý hoạt động van phân phối ở vị trí trung gian.
22
2.3.2. Trường hợp xe rẽ phải
24
2.3.4.2. Tính tùy động
Khi đang đánh tay lái, người lái xe dừng lại (không quay tiếp tục) xu hướng của
momen cản đang gia tăng sẽ tác động lên pít tông của cụm xi lanh lực theo chiều
ngược lại với chiều điều khiển của người lái. Đồng thời khi người lái không đánh tay
lái nữa cũng có nghĩa là áp suất dầu trong khoang xi lanh lực sẽ không tăng lên nữa và
thanh xoắn được giữ ở một góc xoắn nhất định. Khi đó lực do momen cản sinh ra sẽ
cân bằng với lực do áp suất dầu sinh ra làm cho pit tông được giữ ở một vị trí cố định
theo góc quay của người lái đồng thời độ biến dạng của thanh xoắn sẽ tạo cảm giác
cho người lái là phải giữ một lực nào đó khi đang quay vòng.
Trong trường hợp một bánh dẫn hướng bị nổ lốp, lúc này có sự dịch chuyển
lệch bên của bánh xe về phía bánh bị nổ lốp. Sự chuyển động lệch bên nguy hiểm của
ôtô sẽ tránh được nếu người lái không buông lỏng tay lái. Vì sự lệch bên ban đầu tác
dụng vào van phân phối tạo nên sự dịch chuyển tương đối giữa trục van điều khiển và
van quay.
Van sẽ hướng dầu chảy vào khoang của một bên xy lanh lực mà ở đó áp suất
thuỷ lực tạo lên sẽ tác dụng lên pit tông chống lại sự lệch bên của bánh xe.
25
Chương 3
TÍNH TOÁN KIỂM NGHIỆM HỆ THỐNG LÁI XE FORD RANGER
3.1. Mục đích tính toán kiểm nghiệm
Như chúng ta đã biết, hệ thống lái có nhiệm vụ giữ xe chuyển động ổn
định theo yêu cầu của người lái, đảm bảo an toàn cho người và hàng hóa trên xe
trong quá trình vận chuyển. Vì vậy để đảm bảo điều kiện động học, kiểm tra khả
năng quay vòng đúng của hệ thống lái ta tiến hành tính toán kiểm nghiệm các
cụm, cơ cấu của hệ thống. Tuy nhiên do vấn đề hạn hẹp về thời gian cũng như
921
kg
18
0.984
215/70R15
360
250
170
mm
mm
mm
16
độ
Góc hợp bởi đòn bên hình thang lái
và đường tâm cầu trước (θ).
26
3.3. Tính toán kiểm nghiệm hệ thống lái
3.3.1. Kiểm nghiệm động học hình thang lái
3.3.1.1. Điều kiện quay vòng đúng
α
1250
= 0.437
2860
3.3.1.2. Động học hình thang lái 6 khâu
a/ Khi xe đi thẳng
27
y
γ
θ
x
B
m
p
Hình 3.2. Sơ đồ hình thang lái khi xe chạy thẳng.
Từ sơ đồ dẫn động lái trên hình 3.2 ta có thể tính được mối quan hệ giữa
các thông số theo các biểu thức sau:
X = B − 2.( m. cos θ + p. cos γ )
(3.2)
bánh xe bên trái là (θ +α).
α A
D
θ−β
ϕ
ψ
γ
B
C
β
X
Hình 3.3. Sơ đồ hình thang lái khi xe quay vòng.