TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRUYỀN THÔNG
DINH DƯỠNG TẠI CỘNG ĐỒNG
MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, sinh viên có thể:
1. Trình bày được các mục đích của hoạt động truyền thông giáo dục dinh dưỡng
và áp dụng các phương pháp truyền thông giáo dục dinh dưỡng (TTGDD) vào
trong chương trình dinh dưỡng ở tuyến cơ sở (xã, phường)
2. Có khả năng thực hành được một buổi giáo dục dinh dưỡng thông qua các hoạt
động tư vấn, thăm gia đình đối tượng, trao đổi nhóm
NỘI DUNG
1. GIÁO DỤC TRUYỀN THÔNG DINH DƯỠNG
1.1.
Khái niệm về giáo dục truyền thông dinh dưỡng (GDTTDD)
Là biện pháp can thiệp nhằm thay đổi những tập quán thói quen và các hành
vi liên quan đến dinh dưỡng, nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng trong quá trình
phát triển kinh tế và xã hội. Giáo dục dinh dưỡng là một hoạt động rất cần thiết, bởi
nguyên nhân gốc rễ dẫn đến nạn đói và suy dinh dưỡng là sự thiếu kiến thức và sự
nghèo khổ. Ở nước ta, hoạt động truyền thông giáo dục dinh dưỡng trong Kế hoạch
Hành động Quốc gia về dinh dưỡng (1995-2000), và tiếp theo là chiến lược quốc
gia dinh dưỡng 2001-2010, là một trong những giải pháp quan trọng, đã được triển
khai rộng rãi trên phạm vi toàn quốc và đã nhận được sự hưởng ứng tích cực của
cộng đồng. Hoạt động truyền thông giáo dục dinh dưỡng đã từng bước được xã hội
hoá với sự tham gia của nhiều bộ, ngành và các tổ chức đoàn thể xã hội. Kiến thức,
thực hành về dinh dưỡng hợp lý đã từng bước được nâng lên nhất là các đối tượng
như phụ nữ và bà mẹ. Tuy nhiên, dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp cũng còn rất
nhiều các vấn đề cần phải quan tâm. Bên cạnh các vấn đề thiếu dinh dưỡng như suy
dinh dưỡng, thiếu vi chất dinh dưỡng thì các bệnh mạn tính liên quan đến dinh
dưỡng như béo phì, tăng huyết áp, tiểu đường, tim mạch ... có xu hướng gia tăng.
1.2. Hoạt động giáo dục dinh dưỡng
Quá trình truyền thông dinh dưỡng là quá trình 2 chiều và được đặc trưng bởi các
yếu tố sau:
-
Nguồn truyền đạt: Tin cậy và thuyết phục.
-
Thông điệp truyền đạt: Ngắn, gọn, rõ, hấp dẫn và phù hợp.
-
Kênh truyền tải: Đảm bảo tính tiếp cận được và độ thường xuyên.
-
Nguồn nhận: Sẵn sàng và tích cực.
-
Các yếu tố ảnh hưởng: Yếu tố nhiễu cần được loại bỏ, môi trường thuận cần
được tạo dựng.
1.5. Các bước thay đổi hành vi
Một hoạt động truyền thông giáo dục hiệu quả đòi hỏi phải được xây dựng
dựa trên sự tìm hiểu và phân tích các yếu tố trên một cách thấu đáo. Mục tiêu cuối
cùng của truyền thông giáo dục dinh dưỡng là thay đổi một hành động theo hướng
có lợi về dinh dưỡng.
Sự thay đổi này là quá trình nhiều bước và tiến triển dưới tác động của các
yếu tố tâm lý, xã hội và các hoạt động truyền thông giáo dục.
tiện thông tin
đại chúng
Truyền
thông trực
tiếp
212
Truyền
thông trực
tiếp
Truyền
thông trực
tiếp
2. CÁC HÌNH THỨC TRUYỀN THÔNG
2.1. Hình thức truyền thông trực tiếp
2.1.1. Tư vấn dinh dưỡng
Là quá trình trao đổi giúp cho đối tượng thấy được sai lầm và tìm cách khắc
phục. Tư vấn là trao đổi thông tin hai chiều. Với cộng tác viên tư vấn là trao đổi và
giúp bà mẹ giải quyết những khó khăn vướng mắc trong chăm sóc và nuôi dưỡng
trẻ.
Những cơ hội đẻ cộng tác viên có thể tư vấn cho bà mẹ là ở trạm y tế, khi bà
mẹ đưa con đi khám bệnh, tiêm chủng, cân, uống vitamin A, bà mẹ đi khám thai …
hoặc khi cộng tác viên đi thăm gia đình đối tượng hoặc gặp gỡ ngẫu nhiên (đi làm
đồng, đi chợ, bất cứ khi nào khi cộng tác viên có cơ hội gặp đối tượng một cách
thích hợp).
Sau buổi tư vấn : Bà mẹ cảm thấy tự tin, thoải mái và cố gắng làm theo
-
Lắng nghe và tìm hiểu kỹ tình huống của đối tượng
-
Ngắn gọn, rõ ràng, thực tế
-
Khích lệ, động viên
-
Chọn từ ngữ ngắn, quen thuộc
-
Dùng các ngôn ngữ biểu cảm
-
Quan sát trạng thái tiếp nhận của đối tượng
-
Kiểm tra sự tiếp thu bằng cách hỏi lại
-
-
Các hình thức sáng tạo khác (hội thao, văn nghệ, thể thao, các sự kiện …)
2.3. Các hình thức đặc biệt khác
-
Lễ phát động
-
Mở các lớp học cách nuôi con khoẻ
-
Tổ chức câu lạc bộ và vận động bà mẹ tham gia câu lạc bộ phòng chống suy
dinh dưỡng (SDD)
-
Hội thi kiến thức và thực hành nuôi con toàn xã
2.4. Sử dụng tài liệu truyền thông
2.4.1. Sử dụng tranh lật
-
Cuốn tranh lật là tập hợp một loạt những bức tranh trên giấy cứng; cuốn tranh lật
thường có đế cứng để có thể đặt đứng lên bàn.
không có nhiều lời khuyên và phần hướng dẫn như tranh lật.
-
Khi sử dụng: Treo áp phích trên một bề mặt phẳng hay bức tường để mọi người
dễ quan sát. Cộng tác viên luôn đứng quay mặt về phía mọi người.
-
Tập trung vào bức tranh trên tờ áp phích: áp phích có hai phần tranh và chữ.
Thông thường, phần tranh quan trọng hơn, phần chữ rất nhỏ. Vì thế muốn đọc
phần chữ, cộng tác viên có thể chỉ một bà mẹ đọc to, chỉ vào từng chữ để mọi
người có thể đọc theo.
-
Dùng áp phích để minh họa cho một chủ đề.
-
Khuyến khích học viên trình bày kinh nghiệm và ý kiến theo những vấn đề trên
bức tranh. Kết thúc buổi trao đổi nhắc lại những ý chính, điều này giúp cho đối
tượng nhớ được những thông tin quan trọng.
3. NỘI DUNG TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC DINH DƯỠNG
3.1. Mười lời khuyên dinh dưỡng hợp lý 2001-2005
1. Ăn phối hợp nhiều loại thực phẩm và thường xuyên thay đổi món
2. Cho trẻ bú mẹ ngay sau khi sinh, bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu; cho
trẻ ăn bổ sung hợp lý và tiếp tục cho bú tới 18-24 tháng
3. Ăn thức ăn giầu đạm với tỷ lệ cân đối giữa nguồn thực vật và động vật; tăng
lượng) cần có đủ 3 món nữa là rau quả (cung cấp vitamin, chất khoáng và
chất xơ); đậu phụ, vừng, lạc, cá, thịt, trứng (cung cấp chất đạm, béo) và canh
cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung giúp ăn ngon miệng
7. Thực hiện vệ sinh môi trường, dùng nguồn nước sạch, tẩy giun theo định kỳ,
rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiểu tiện; đảm bảo vệ sinh thực phẩm,
thức ăn không phải là nguồn gây bệnh.
8. Thực hiện gia đình hạnh phúc, có nếp sống văn hoá, năng động, lành mạnh.
Có biểu đồ tăng trưởng để theo dõi sức khoẻ của trẻ. Không có trẻ suy dinh
dưỡng, không sinh con thứ 3.
3.3. Mười lời khuyên vệ sinh thực phẩm bảo vệ gia đình bạn
1. Chọn các thực phẩm tươi, sạch
2. Thực hiện “ăn chín, uống sôi”, ngâm kỹ, rửa sạch rau quả ăn sống
3. Ăn ngay sau khi thức ăn vừa nấu xong
4. Che đậy, bảo quản cẩn thận thức ăn đã nấu chín
5. Đun kỹ thức ăn trước khi dùng lại
6. Thức ăn sống, chín phải để riêng, không dùng lẫn dụng cụ chế biến
7. Rửa tay trước khi chế biến và trước khi ăn
8. Giữ dụng cụ và nơi chế biến thực phẩm luôn khô sạch
9. Không ăn thức ăn ôi thiu, mốc hỏng
10. Chế biến thức ăn bằng nước sạch
216
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế,(2001), Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2001-2010 , Nhà
xuất bản y học, Hà Nội.
2. Viện Dinh dưỡng Quốc gia, (1997), Tập bài giảng về Kế hoạch TTGDDD dùng
cho sinh viên cao học Dinh dưỡng cộng đồng.
phẩm nguồn gốc động vật hơn, đậm độ calo cao hơn, mặt khác hoạt động thể lực
giảm đi, thời gian tĩnh tại tăng lên làm tăng nguy cơ về thừa cân, béo phì và các
bệnh mạn tính.
Các bệnh mạn tính gắn liền với các yếu tố như dân số, dịch tễ và dinh
dưỡng. Việc sinh ít con, đời sống khá lên, tuổi thọ trung bình tăng lên làm giảm
tỷ lệ các bệnh truyền nhiễm chủ yếu trong giai đoạn đầu của cuộc đời và làm tăng
tỷ lệ các bệnh mạn tính vào giai đoạn cuối của cuộc đời.
Các bệnh mạn tính có liên quan đến dinh dưỡng có nguyên nhân khá phức tạp
không dễ gì chỉ rõ ra được. Nó có thể là di truyền, là lối sống và là chế độ ăn. Lối
sống và chế độ ăn có thể điều chỉnh được. Một lối sống lành mạnh, vận động, với
218
một chế độ ăn hợp lý có thể giúp làm giảm tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính. Ví dụ một
nghiên cứu tại 7 nước đã chứng minh được mối liên quan rõ rệt giữa lượng mỡ bão
hoà (S.F.A) ăn vào và tỷ lệ bệnh tim do mạch vành trong 10 năm và rõ rệt hơn khi
thời gian theo dõi kéo dài đến 20 năm. Nếu quần thể có lượng mỡ bão hoà ăn vào
chiếm từ 3-10% tổng số năng lượng ăn vào thì cholesterol toàn phần huyết thanh
dưới 5,17 mmol/l và tỷ lệ tử vong do bệnh mạnh vành thấp. Khi lượng mỡ bão hoà
ăn vào chiếm trên 10% tổng số năng lượng ăn vào thì người ta thấy có sự tăng dần
và rõ rệt tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành tim ...
II. Tình hình bệnh mạn tính trên thế giới hiện nay
Nếu như năm 1990, gánh nặng bệnh tật của các bệnh mạn tính không lây
trên thế giới là 41% thì năm 2001 là khoảng 46% và ước tính sẽ tăng lên 57%
vào năm 2020, trong đó gần một nữa tổng số ca tử vong do các bệnh mạn tính là
các bệnh thuộc nhóm bệnh tim mạch, béo phì và đại tháo đường.
Có khoảng 79% tổng số ca tử vong do các bệnh mạn tính xảy ra ở các nước
đang phát triển. Tại các nước này, năm 1995 có 84 triệu người bị đái tháo đường thì
ước tính đến năm 2025 sẽ tăng lên 2,5 lần, vào khoảng 228 triệu người. Đây là một
95
220
105
115Huyết áp tối thiểu (mm Hg)
Khi huyết áp dưới 90/60mmHg-huyết áp thấp. Từ 130-139/ 85-89 mmHg-huyết áp
bình thường cao. Từ 140-159/90-94 mmHg-tăng huyết áp giới hạn. Từ 160-179/95104 mmHg-tăng huyết áp độ I. Từ 180-199/105-114 mmHg –tăng huyết áp độ II. Từ
200/115 trở lên tăng huyết áp độ III.
3.1.3. Độ mạnh của bằng chứng về các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tim
mạch
Bằng chứng
Thuyết
phục
Giảm nguy cơ
Tăng nguy cơ
Hoạt động thể lực thường Acid myristic và palmitic
xuyên
Acid linoleic
Các acid béo thể trans (chất béo được
hydorogen hóa)
Không đủ
Các sản phẩm đậu nành
Bổ sung beta caroten
Canxi, Magie
Carbonhydrat
Vitamin C
Sắt
221
• EPA - acid eicosapentaenoi
• DHA - acid docosahehexaenoic
• NSP - các polysaccharid không tinh bột
3.1.4. Các khuyến nghị cụ thể
-
Giảm chất béo: Lipid 20 - 25% năng lượng khẩu phần (VN: 17,5%).
-
Acid béo no dưới 10% năng lượng khẩu phần, PUFA 6 - 10% năng lượng
khẩu phần trong đó PUFAn - 6 5 - 8%, PUFAn-3 1 - 2%.
Chú ý ăn cá (đều đặn 1 - 2 lần/tuần) sẽ có tác dụng chống lại bệnh mạch
vành tim và đột quỵ do thiếu máu cục bộ.
-
Cần đạt 200 – 500 mg acid eicosapentaenoic (EPA) và acid hexaenoic
(DHA). Với những người ăn chay cố gắng đủ acid alpha linoleic thực vật.
-
Rượu - uống rượu ít hoặc vừa phải đều đặn có tác dụng bảo vệ, chống lại
bệnh mạch vành tim. Các nguy cơ tim mạch và sức khoẻ khác thì không
nhất quán cho một khuyến nghị chung về rượu.
-
Hoạt động thể lực: Hoạt động thể lực có liên quan đến nguy cơ các bệnh tim
mạch, đặc biệt là động mạch vành tim. Hiện nay, khuyến nghị nên có ít nhất
30 phút hoạt động thể lực tối thiểu mỗi ngày là để có thể tạo ra tác dụng bảo
vệ. Các cá thể không quen với tập thể dục thường xuyên hoặc có nguy cơ
cao với bệnh tim mạch cần tránh những đợt hoạt động thể lực đột xuất với
cường độ cao.
222
3.2.
Bệnh ung thư
Giảm nguy cơ
Tăng nguy cơ
Hoạt động thể lực (đại tràng)
Thừa cân béo phì (thực quản, đại trực
tràng, vú đối với phụ nữ sau mãn kinh,
nội mạc tử cung, thận).
Rượu (khoang miệng, hầu, họng, thanh
quản, thực quản, gan, vú).
Aflatoxin (gan)
Cá muối kiểu Trung Quốc (mũi, hầu)
Gần như
chắn
Có thể,
đầy đủ
chắc Trái cây và rau (khoang họng, Thịt bảo quản (đại trực tràng)
thực quản, dạ dày, đại trực
Thực phẩm muối (dạ dày)
tràng)
ăn, uống quá nóng (khoang miệng, hầu,
họng)
không -Chất xơ, đậu nành, cá, acid Chất béo động vật
béo Omega-3
Carotenoid, vitamin B2, Các amin khác vòng
ĐTĐ typ 2 đặc biệt tăng mạnh ở các xã hội đang công nghiệp hóa và các nước đang
phát triển. Tỷ lệ tử vong theo tuổi ở người ĐTĐ tăng hơn 1,5 đến 2,5 lần so với quần
thể dân cư nói chung. Ở bệnh viện Hữu Nghị (Việt Nam) năm 1994 - 1995 tử vong
do ĐTĐ là 6,21% trong khi tử vong chung toàn viện là 5,41% số bệnh nhân nội trú.
3.3.1. Chẩn đoán
Để chẩn đoán xác định chủ yếu dựa vào xét nghiệm đường máu:
- Sẽ không phải là ĐTĐ khi glucoza huyết thanh (G.120) < 100 mg/dl (5,5
mmol/l).
- Chắc chắn là ĐTĐ khi G.120 ≥ 200mg/dl (11mmol/l)
- Nếu ở khoảng giữa 2 mức đó - làm nghiệm pháp tăng đường huyết (uống 75 g
glucoza + 250 ml nước) sau 120 phút xét nghiệm lại: Nếu G.120 > 200 mg/dl
chẩn đoán là ĐTĐ. Nếu G.120 < 200 mg/dl (11,1 mmol/l) nhưng > 140 mg/dl
(7,8 mmol/l) chẩn đoán là giảm dung nạp đối với glucoza.
3.3.2. Độ mạnh của bằng chứng
Bằng chứng
Thuyết phục
Giảm nguy cơ
Tăng nguy cơ
Giảm cân tự nguyện ở người thừa cân Thừa cân, béo phì, béo bụng
béo phì
Hoạt động thể lực
Không hoạt động thể lực
Đái tháo đường bà mẹ
Gần như chắc NSP
chắn
Thực hành hoạt động thể lực chịu đựng ở mức vừa phải (đi bộ) hoặc với cường
độ lớn hơn trong 1h hoặc nhiều hơn/ngày và vào tất cả các ngày trong tuần
-
Đảm bảo khẩu phần chất béo không no không vượt quá 10% năng lượng, nên
dưới 7% đối với các nhóm nguy cơ cao
-
Đạt đủ NSP trong khẩu phần thông qua việc thường xuyên sử dụng ngũ cốc toàn
phần, đậu, trái cây và rau (tối thiểu 20g NSP/ngày)
IV. Nguyên tắc chung dự phòng các bệnh mãn tính bằng ăn uống ở Việt Nam
4.1. Mười lời khuyên dinh dưỡng hợp lý giai đoạn 2001 - 2005
-
Ăn phối hợp nhiều loại thực phẩm và thường xuyên thay đổi món
-
Cho trẻ bú mẹ ngay sau khi sinh, bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu; cho trẻ
ăn bổ sung hợp lý và tiếp tục cho bú tới 18 - 24 tháng
-
ăn thức ăn giàu đạm với tỷ lệ cân đối giữa nguồn thực vật và động vật; tăng
cường ăn đậu phụ và cá
-
4. 2. Sử dụng tháp dinh dưỡng cân đối giai đoạn 2001 – 2010
226
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hà Huy Khôi (2004), Những đường biên mới của dinh dưỡng học, NXB Y
học, Hà Nội, tr 63-73, tr 209-219.
2. Hội Dinh dưỡng Việt nam (2002), Mười lời khuyên dinh dưỡng hợp lý, NXB
Hà Nội, Hà nội.
3. Phạm Khuê (chủ biên) (2000), Cẩm nang điều trị nội khoa, NXB Y học, Hà
Nội, tr103-145, tr 524-529, tr 735-752.
4. Trần Đình Toán (1995), Chỉ số khối cơ thể (BMI) ở cán bộ viên chức trên 45
tuổi và mối liên quan giữa BMI với mốt số chỉ tiêu sức khỏe, bệnh tật, Luận
án PTS khoa học Y Dược, Hà nội,103 tr.
5. Trần Đình Toán, Nguyễn Trung Chính (1996), Khảo sát về bệnh đái tháo
đường điều trị tại bệnh viện Hưu Nghị trong 2 năm 1994-1995, Tạp chí Y
học thực hành số 6, tr 1-4.
6. Trần Đình Toán (2003), Tình trạng thừa cân, béo phì, một số chỉ tiêu hóa
sinh của cán bộ viên chức đến khám bệnh tại bệnh viện Hữu Nghị năm 2002,
Tạp chí Y học Việt Nam số 9+10, tr 92-99.
7. Viện Dinh dưỡng (1997), Thực đơn chế độ ăn trong một số bệnh nội khoa,
NXB Y học, Hà Nội, tr30-38, tr 43-59.
8. Viện Dinh dưỡng (2000), Bảng thành phần dinh dưỡng thực phẩm Việt Nam,
NXB Y học, Hà Nội , tr 23-92.
9. WHO (1993), Chế độ ăn, dinh dưỡng và dự phòng các bệnh mạn tính, Báo
cáo kỹ thuật số 797 của WHO-Geneva 1990, Bản dịch của NXB Y học và
viện Tim mạch, Hà Nội, tr 7-21, tr 41-60 và tr 77-128.
10. WHO/FAO (2004), Chế độ ăn, dinh dưỡng và dự phòng các bệnh mạn tính,
Báo cáo kỹ thuật số 916 của WHO/FAO-Geneva 2003, Bản dịch và xuất bản
c¸ch gi¶m bít sè m¸u ph¶i l−u th«ng vµ sè m¸u ph¶i ®Õn läc ë thËn. V× mơc ®Ých ®ã
mµ ca-ren ®· x©y dùng mét chÕ ®é s÷a h¹n chÕ n−íc vµ kh«ng dïng mi. ChÕ ®é
nµy dïng s÷a (300-1000ml) vµ n−íc qu¶, bét ngò cèc. Mét lÝt s÷a cã 1,6g NaCl. Khi
®· ®ì ca-ren cho thªm trøng, khoai. ChÕ ®é ca-ren cã 4 thùc ®¬n, tõ Ýt ®Õn nhiỊu
dïng theo sù tiÕn triĨn cđa bƯnh, thùc ®¬n I chØ cã s÷a vµ n−íc qu¶, nh−ng thùc ®¬n
sau thªm ch¸o, trøng, ngò cèc, b¸nh m× kh«ng mi (nÕu kh«ng cã b¸nh m× kh«ng
mi th× cho ¨n c¬m). ChÕ ®é nµy rÊt tèt cho nh÷ng bƯnh nh©n suy tim cã phï nhiỊu
kÌm theo suy thËn, gan v× nã cã kh¸ nhiỊu protid, nhiỊu lactoza, cã kali vµ calci lỵi
tiĨu.
2. chÕ ®é ¨n hoµn toµn láng.
Chế độ ăn đủ các chất dinh dưỡng nhưng chế biến thành dạng lỏng như là
một thức uống, là một biện pháp rất có tác dụng để nuôi dưỡng bệnh nhân mắc
các chứng chán ăn, suy nhược toàn thể và suy nhược tiêu hóa và dinh dưỡng,
2.1. Cơ sở sinh lý của chế độ ăn lỏng.
- Vì thức ăn lỏng nên bệnh nhân không phải nhai và đỡ mệt.
214
Mét sè chÕ ®é ¨n c¬ b¶n trong bƯnh viƯn
- Ăn xong, bệnh nhân không có những mảnh vụn của thức ăn đọng lại ở đường
tiêu hóa trên và có thể gây nhiễm khuẩn.
- Chế độ ăn lỏng rất có lợi trong trường hợp hẹp thực quản vì tổn thương thực thể
hoặc vì co thắt do rối loạn thần kinh
- Trong trường hợp bộ tiêu hóa mất trương lực hoặc giảm bài tiết dòch tiêu hóa ,
chế độ lỏng không gây rối loạn chức năng.
- Bệnh nhân mất cảm giác đói cho nên chán ăn tuy thế họ vẫn còn cảm giác khát;
ta lợi dụng đặc điểm này để cho bệnh nhân “uống” các chất dinh dưỡng.
2.2. Chỉ đònh điều trò.
- Suy nhược nặng hoặc bán hôn mê. Bệnh nhân uống dễ dàng hơn là nhai rất mệt.
Uống vẫn tốt hơn là ăn bằng ống thông qua mũi nó làm cho bệnh nhân khó
Dinh d−ìng céng ®ång vµ An toµn VƯ sinh thùc phÈm
Trong hỗn hợp trên có thể thay sữa bột bằng sữa đặc có đường. 100g sữa bột
thay thế bằng 300g sữa đặc (trong trường hợp này không cần pha thêm đường)
hoặc thay bằng sữa đậu nành (100g sữa bột thay bằng 0,60 lít sữa đậu nành pha
thêm 10% đường).
+Hỗn hợp có thòt, rau, khoai (có thể dùng cá thay thòt).
Thòt bò (hoặc thòt lợn nạc)
120g
Nước luộc thòt, rau
300g
Bột gạo
10g
Trứng (1 quả to)
50g
Khoai tây
100g
Rau xanh
Hiện nay người ta đã chế được các loại ống thông bằng chất dẻo (polyvinil
hoặc polyetylen), đường kính rất nhỏ 1-3mm không kích thích niêm mạc, để được
lâu tại chỗ có khi hàng tháng. Điều quan trọng là làm được các hỗn hợp chất dinh
dưỡng rất lỏng, rất đồng nhất để thoát qua được ống thông mà không làm tắc.
3.1.
Cách cho ống thông qua mũi:
Ống thông dài 1mét, đường kính bên trong là 1,5-2mm. Bôi glycerin hoặc dầu
vaselin cho trơn đút ống thông qua lỗ mũi rất nhẹ nhàng, bệnh nhân ngồi hoặc
nằm vừa nuốt vừa thở hít vào mạnh. Đưa ống thông thẳng vào phía sau, không
nên đưa ngược lên vì bệnh nhân sẽ hắt hơi. Để tránh nôn, khi đút ống thông đồng
thời ta bảo bệnh nhân hút một ít nước trong cái cốc bằng một cái ống nhỏ ngậm ở
mồm. Trước khi đổ hỗn hợp dinh dưỡng qua ống thông cần phải thử xem ống có
vào đúng tại dạ dày chưa, bằng cách đổ thử một ít nước vào ống.
3.2.
Cách cho ăn:
- Ăn nhỏ giọt liên tục, cách làm giống như khi tiêm truyền tónh mạch nhỏ giọt, 1
phút cho 60 giọt hoặc 30 giọt, hoặc cho ăn nhỏ giọt không liên tục làm 5-6 lần
trong 1 ngày.
- Có thể lấy ống bơm tiêm để bơm dung dòch dinh dưỡng qua ống thông ngày 5-6
lần, mỗi lần 300-400ml.
Sau khi cho ăn cần bơm một ít nước qua ống thông để rửa và khỏi tắc.
Sau đó dán đầu trên của ống thông vào má hoặc trán bệnh nhân.
- Hỗn hợp dùng: Phải pha hàng ngày và để dùng trong 24 giờ.
+ Hỗn hợp sữa trứng có 750 kcal và 75g protid. Công thức như sau:
Sữa bột
3.3.
Số lượng hỗn hợp cho qua ống thông.
Số lượng cho dần dần, từ thấp lên cao. Nếu bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng
thì bắt đầu mỗi ngày cho 500kcal và 15g protid, sau tăng dần lên mỗi ngày hoặc
2 ngày một, cho thêm 250-500kcal để cuối cùng có 2000kcal với 120g protid.
Thời gian cho ăn bằng ống thông: 8-15 ngày. Gặp trường hợp đặc biệt như
hôn mê lâu, u ác tính đường tiêu hóa trên, có thể cho ăn trong nhiều tháng, nhưng
phải thay ống thông mỗi tháng 1 hoặc 2 lần.
3.4.
Tai biến.
- Đau bụng, đầy hơi, ỉa lỏng nhất là khi bắt đầu cho ăn nhanh quá: Chỉ cần bớt số
lượng cho ăn, thay hỗn hợp dinh dưỡng (tránh sữa) thì bệnh nhân sẽ khỏi.
- Hội chứng “dumping-syndrom” thường xảy ra trên bệnh nhân bò cắt dạ dày,
bệnh nhân sau khi ăn bò mệt, nhức đầu, toát mồ hôi, run ở bắp cơ, do thức ăn
thoát khỏi dạ dày quá nhanh, hoặc dạ dày bò dãn, hoặc thức ăn quá đặc, bởi vậy
không nên dùng hỗn hợp có trên 1kcal cho 1ml.
- Nôn mửa do bệnh nhân không chòu được sự dùng ống thông. Để tránh tai biến
này cần cho ống thông vào tới tá tràng hoặc ruột non (điểm này khó thực hiện
trên thực tế thông thường...).
3.5.
Chỉ đònh của sự nuôi dưỡng bằng ống thông.
- Chỉ đònh chủ yếu là hôn mê và rối loạn sự nuốt thức ăn, bài tiết dòch ở trẻ em.
Trong hai trường hợp trên, cho ăn bằng ống thông tránh được tai biến viêm phổi
do thức ăn vào nhầm đường hô hấp khi cho bệnh nhân ăn theo kiểu thông
4. 1.1. Cách thực hiện.
* Cấm dùng:
- Đậu đỗ khô (đậu đen, xanh, trắng, đậu nành).
- Sắn, ngô, khoai phơi khô.
- Cá rán, khoai rán, thòt nguội có nhiều gân, sụn.
- Các thức rau sợi to (rau cải, dưa, rau cần, hành...).
- Quả: Dưa, lê, táo, v v...
* Nên dùng:
- Sữa, bơ.
- Khoai nghiền bỏ xơ, rau non mềm.
- Trứng.
- Quả thật chín (chuối), nước quả.
* Cách nấu:
-
Rau, quả nghiền nhỏ hoặc nấu chín để loại cellulose và lignin. Nếu bệnh nhân
chán khoai nghiền, rau nghiền thì phải băm nhỏ.
-
Thòt, cá nấu thật kỹ để biến các chất colagen của gân, sụn thành keo lỏng.
Thòt thái nhỏ.
-
Bánh mì phải dùng loại bột tốt, đủ tinh khiết để loại cám. Khi ăn nên nhúng
vào nước canh, nước súp cho mềm.
Đó là chế độ không sợi, không xơ cải tiến thêm:
-
Thức ăn nấu nướng thật mềm, nhừ.
-
Không có gia vò: Hạt tiêu, ớt, rau thơm, dấm, chanh (trừ muối).
-
Không có các chất kích thích: Cà phê, chè đặc.
-
Không dùng rau có mùi thơm: Cải, hành, tỏi.
-
Khi nấu: Không rán, không dùng thức ăn sống. Nhiệt độ thức ăn không nóng
quá, không lạnh quá.
Chế độ ăn không kích thích là chế độ ăn của bệnh loét dạ dày và tá tràng
trong thời gian ngoài cơn đau. Khi đau, dùng chế độ hạn chế chặt chẽ xơ và sợi
(chế độ sữa, bột tinh khiết).
Ví dụ: Một thực đơn hạn chế xơ rất chặt chẽ
Sữa, cháo, đường
Sữa tươi
500g
Protid
52g
Sữa tươi
200g
Lipid
40,5g
Đường
50g
Glucid
261g
Khoai tây nghiền
200g
Năng lượng 1543kcal
Chia làm 4 bữa: Sáng, tối: Sữa. Trưa, chiều: cháo, trứng, khoai nghiền trứng
máu ở một mức độ rất cố đònh.
Mỗi thức ăn có nhiều gốc toan hoặc kiềm, nó thay đổi trong khi nấu nướng
(ví dụ rau bò giảm nhiều tính kiềm nếu nấu chín) hoặc trong khi tiêu hóa hoặc
chuyển hóa trong cơ thể. Do đó, chúng ta không thể chỉ dựa vào công thức hóa
học mà phải dựa vào thực tiễn thí nghiệm thì mới biết được thứ nào toan hoặc
kiềm.
-
Nói chung các thức ăn động vật thì toan (trừ sữa và tiết). Các loại tinh bột chế
từ ngũ cốc (gạo, mì), các loại quả có dầu đều toan. Các chất béo, mỡ dầu đều
toan. Chế độ ăn toan là một chế độ rất giàu về protid và lipid.
-
Chế độ sữa và rau quả là chế độ kiềm. Thực phẩm này có nhiều muối
khoáng. Nhiều quả chua như quả chanh, mận có tính kiềm.
5.1. Chế độ toan.
-
Thòt: Rất tốt trừ khi có nhiều máu quá
-
Trứng: Cũng tốt
-
Bơ, mỡ: Dùng nhiều.