Ứng dụng mô hình WEAP tính toán cân bằng nước cho lưu vực sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận - Pdf 34

CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
1.1.

Tinh cấp thiết của đề tài
Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng của loài người và sinh vật trên Trái Đất.

Nước chiếm trên 70% diện tích bề mặt của Trái Đất. Nhưng ngày nay, khi kinh tế, xã
hội và cả con người có nhiều sự thay đổi, phát triển hơn thì nước lại là một mối lo
ngại. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra phức tạp, nguồn nước cũng bị tác động
trực tiếp như nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm do hiện tượng nước biển dâng,
nhiệt độ tăng, thời tiết cực đoan. Do đó con người cần phải nhanh chóng có các biện
pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước.
Hiện nay các cơ quan quản lý nhà nước về quản lý môi trường, tài nguyên thiên
nhiên đã và đang có những nỗ lực đáng kể nhằm bảo vệ môi trường, tài nguyên,
nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng với sức ép ngày càng lớn về lượng thải chất ô nhiễm
tác động xấu đến môi trường và sự phát triển của các loại ngành. Để khắc phục tình
trạng đó, Chính Phủ nước ta đã đẩy mạnh quá trình quản lý môi trường, tài nguyên
thiên nhiên với việc sử dụng phương pháp tiếp cận lưu vực sông, đó là quản lý bảo vệ
lưu vực sông, là tiếp cận cân bằng, phân bổ nguồn nước tới các ngành sử dụng nước,
phòng tránh việc xả thải trực tiếp đến lưu vực sông.
Sông La Ngà có diện tích toàn lưu vực là 4170 km 2, có chiều dài gần 299 km chảy
qua địa bàn ba tỉnh là Lâm Đồng, Bình Thuận và Đồng Nai, sự hợp thành của nhiều
sông suối ở tả ngạn sông Đồng Nai đã tạo cho sông La Ngà một dòng chảy quanh co
uốn khúc với lưu lượng lớn nước khá lớn, trở thành phụ lưu cấp một cho hệ thống
sông Đồng Nai. Sông La Ngà bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh (Bảo Lộc – Lâm
Đồng), Sông La Ngà là một trong những phụ lưu quan trọng của sông Đồng Nai. Đây
là con sông dồi dào về nguồn nước, phong phú về cảnh đẹp, lưu vực của nó là vùng
kinh tế nông lâm nghiệp phát triển, có nhiều cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
có nhiều loại cây công nghiệp ngắn… nhưng thực trạng trên lưu vực sông đã xuất hiện
nhiều điểm ô nhiễm ảnh hưởng đến nguồn nước, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp,
nhiều loài sinh vật mất nơi cư trú đang bị đe dọa nghiêm trọng. Nạn ô nhiễm môi


- Đề xuất đánh giá để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên nước trên lưu vực
sông.
Kết luận và kiến nghị
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG LA NGÀ – TỈNH BÌNH
THUẬN
2.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
Sông La Ngà là tên một con sông ở miền Đông Nam Bộ, Việt Nam, là phụ lưu
cấp I của sông Đồng Nai. Sông La Ngà bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh ven khu vực
thuộc thị xã Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng. Diện tích lưu vực sông La Ngà, thuộc ba
huyện Đức Linh và Tánh Linh, và Hàm Thuận Bắc phân bố ở phần phía Tây Tây Bắc
và Tây tỉnh Bình Thuận. Giới hạn diện tích nghiên cứu trong tọa độ địa lý:
11008'40'' độ vĩ bắc
107030'00'' độ kinh đông
Diện tích này thuộc các tờ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 (hệ UTM) có danh
pháp: Tánh Linh (6531 III và Madagui 6531 IV).

Hình 1. Bản đồ lưu vực sông Đồng Nai
4

4


Sông La Ngà có chiều dài 299 km. Diện tích lưu vực 4.170km 2, trong đó có một
bộ phận lưu vực thuộc tỉnh Lâm Đồng là 1.250km 2 và thuộc tỉnh Bình Thuận
2.700km2. Độ cao trung bình lưu vực khoảng 468m. Mật độ lưới sông trung bình
khoảng 0,58km/km2, thuộc loại sông có lưới sông tương đối thưa so với cả nước.
Từ thượng nguồn đến địa giới tỉnh Bình Thuận, sông chảy theo hướng Bắc Nam hơi lệch Đông, sau đó chuyển hướng Đông Bắc - Tây Nam qua hồ La Ngà, đến
trạm Tà Pao sông lại uốn khúc chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, đến ranh giới


01

Huyện Đức Linh

53.491,20

13

02

Huyện Tánh Linh

117.422,00

14

03

Huyện Hàm Thuận Bắc

128.693,60

17

Nguồn: Niên giám thống kê 2012
2.1.2.Đặc điểm địa hình- địa mạo
Thung lũng sông La Ngà về địa hình, địa mạo thuộc vùng trũng phân bố ở hạ lưu
sông La Ngà. Đây là vùng đồng bằng trũng, độ cao từ 100m đến 120m với những nón
lũ tích rộng vây bọc diện tích rộng lớn chủ yếu là các trầm tích sông - hồ (hoặc hồ sông) và bên trong có những đầm lầy ngập úng, có nhiều khúc sông chết dạng "hố

Lượng mưa trung bình trong năm tương đối cao, từ 2.000 - 2.500 mm, ít gió bão
và không có mùa đông lạnh. Mùa mưa bắt đầu từ trung tuần tháng 5 và kết thúc vào
tháng 10. Năm mưa nhiều nhất lượng mưa đạt khoảng từ 2.300 - 3.000 mm. Năm mưa
ít nhất lượng mưa chỉ đạt khoảng 1.500 - 2.000 mm. Số ngày mưa trong năm vào
khoảng 170 - 190 ngày.
Có 2 mùa mưa và khô: Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa
mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10.
Độ ẩm không khí trung bình trong năm từ 70 - 85%, độ ẩm không khí cao từ tháng
6 đến tháng 11 đạt khoảng 84 - 87%.
Mùa khô vào các tháng 1, 2, 3 trong các tháng này độ ẩm không khí trung bình từ
76 - 77%.
Hàng năm độ ẩm trung bình tối cao vào khoảng 92% và tối thấp trung bình và
khoảng 61%. Độ ẩm thấp nhất tuyệt đối có khi xuống tới 15% và xuất hiện vào mùa
khô.
Tóm lại khí hậu Tánh Linh diễn biến theo 2 mùa rõ rệt. Lượng mưa phân hoá theo
mùa đã chi phối mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp. Mùa mưa (vụ hè thu và vụ mùa),
cây cối phát triển tốt và là mùa sản xuất chính, ngược lại mùa khô cây cối phát triển rất
kém. Vì vậy ngoại trừ những diện tích đất được tưới, còn lại hầu hết chỉ sản xuất được
trong mùa mưa.
+ Huyện Hàm Thuận Bắc
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhưng khí hậu của huyện mang nét đặc trưng
của chế độ khí hậu bán khô hạn vùng cực Nam trung bộ, tuy nhiên do phân hoá về địa
hình nên khí hậu của huyện được chia thành hai tiểu vùng gồm vùng khí hậu miền núi
và vùng khí hậu đồng bằng ven biển. Trong năm khí hậu được chia thành 2 mùa rõ rệt:
Mùa mưa: Từ tháng 5 đến tháng 10.
Mùa khô: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm: 26,70C, Nhiệt độ cao nhất : 37,70C
- Lượng mưa mưa trung bình năm: 1.300 mm
- Số giờ nắng trung bình năm: 2.280 giờ
Nhìn chung, chế độ nhiệt ẩm của huyện thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vật

Bảng 2. Các chi lưu, chiều dài và diện tích lưu vực của nó trên sông La Ngà thuộc tỉnh
Bình Thuận
tt

Tên
suối

sông, Chảy ra

Sông La Ngà

Sông
Đồng
Nai

C.dài
(km)

D.tích lv

143

1759

Sông La
17
Ngà

1




Hàm Thuận Bắc

3

4

5

6

7

Sông Da Tro

Sông Lập Lại

Sông La
16
Ngà

Suối Da To

Sông La
13
Ngà

Sông Đa Mi



Sông La
12
Ngà

Sông Đa
10
Rgnao

Suối
Lăng Sông La
30
Quăng
Ngà

10

41

Bắt nguồn từ tỉnh Lâm Đồng
qua xã Đa Mi thuộc huyện
Hàm Thuận Bắc và xã La
Ngâu thuộc huyện Tánh Linh

51

Bắt nguồn từ Núi (Huy Khiêm
và Bắc Ruộng) chảy qua Huy
Khiêm, Bắc Ruộng, Đức Tân,
Gia An Tánh Linh


Bắt nguồn từ Lâm Đồng chảy
qua xã Đa Mi thuộc huyện
Hàm Thuận Bắc

28

Bắt nguồn từ Núi chảy qua xã
Đa Mi thuộc huyện Hàm
Thuận Bắc và xã La Ngâu
thuộc huyện Tánh Linh

222

Bắt nguồn từ Biển Lạc chảy
qua xã Gia An thuộc huyện
Tánh Linh và xã Vũ Hoà thuộc
huyện Đức Linh

10


Suối
Lăng
Quăng

12 Suối Kè

12


Suối
Đức) chảy qua xã Nghị Đức,
Ba
xã Đức Phú thuộc huyện Tánh
Thê
Linh

11

Bắt nguồn từ Núi (xã Bắc
Ruộng) qua xã Bắc Ruộng
thuộc huyện Tánh Linh

87

Bắt nguồn từ Núi (xã Đức
Phú) chảy qua xã suối Ráprăng
thuộc xã Đức Phú
thuộc
huyện Tánh Linh

2.1.5 Đặc điểm thổ nhưỡng, thảm phủ thực vật
Thổ nhưỡng có đất nâu đỏ trên đá Bazan, vùng núi thuộc địa phận sông La Ngà
có tổ hợp đất núi Feralit tầng phong hoá dày, thảm thực vật gồm các cánh rừng nhiều
tầng đã và đang bị khai phá. Vùng trũng thực vật có rừng thưa và một phần diện tích
đáng kể được khai phá chuyển sang đất nông nghiệp trồng lúa nước và cây công
nghiệp. Khả năng điều tiết dòng chảy của lưu vực không tốt. Do vậy ở những vùng
trũng mùa màng thường xuyên bị đe doạ bởi lũ lụt.

2.1.6. Mạng lưới sông ngòi

bình 200m, trong đó đáng kể nhất là suối Tam Bung có chiều dài 23km. Các chi lưu
của sông La Ngà đều ngắn, độ dốc lớn, thời gian tập trung nước vào mùa lũ nhanh,
thường hay xảy ra lũ quét gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống của nhân dân
địa phương.
Đặc điểm nổi bật của sông La Ngà là các dạng sông địa hình núi xen kẽ với các
dạng sông địa hình bằng phẳng.
Phải nói rằng việc phát triển kinh tế xã hội trong vùng nhất là Đức Linh, Tánh
Linh và Hàm Thuận Bắc dựa rất nhiều vào khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên ở
lưu vực sông La Ngà nhất là tài nguyên nước và cát xây dựng.
2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.2.1. Dân cư, văn hóa xã hội
+ Huyện Đức Linh
-

Hiện trạng dân số và sự phân bố dân cư
Dân số huyện Đức Linh năm 2012 là 141.297 người, mật độ dân số đạt 264
người/km2. Tỷ lệ tăng dân số còn ở mức cao, năm 2009 là 1,36 %. Trong những năm
qua, dân số trên địa bàn huyện Đức Linh có mức giảm cơ học khá lớn, bình quân hàng
năm giảm khoảng 0,46%, chủ yếu do di chuyển lao động tại thành phố Hồ Chí Minh
và các tỉnh trong Vùng kinh tế trong điểm phía Nam.
Bảng 3 . Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2012 huyện Đức Linh
Đơn vị hành chính

Diện tích (km2)

Dân
số Mật độ dân
(người)
(người/km2)



3. Xã Đa Kai

83,55

10.000

120

4. Xã Sùng Nhơn

51,15

7.395

145

5. Xã Mê Pu

59,82

12.249

205

6. Xã Nam Chính

28,32

9.153


8.915

392

11. Xã Tân Hà

63,23

5.655

89

12. Xã Đông Hà

36,17

7.680

212

13. Xã Trà Tân

35,51

8.264

233

Dân số thành thị tại 02 thị trấn Võ Xu và Đức Tài là 35.710 người, chiếm


13


thành một cách đồng bộ các khu công nghiệp, khu du lịch trên địa bàn huyện trong
thời gian tới... thì tỷ lệ tăng dân số cơ học theo dự báo sẽ có nhiều biến động. Điều này
sẽ tác động không nhỏ đến việc bố trí, sử dụng đất trên địa bàn huyện.
Bảng 4. Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2012 huyện Hàm Thuận Bắc
Tên xã

Diện
(km2)

Dân số (người)

Mật độ dân số
(người/km2)

TỔNG SỐ

1.287

167.519

130

1

Thị trấn Ma Lâm


1.009

9

5

Xã Thuận Hòa

105,490

5.617

53

6

Xã Đông Giang

88,526

2.483

28

7

Xã Hàm Phú

103,148


13.397

168

11

Xã Hàm Trí

65,327

8.405

129

12

Xã Hàm Đức

56,240

18.826

335

13

Xã Hàm Liêm

57,245


18.503

1016

17

Xã Đa Mi

145,377

4.023

28

TT

tích

Bảng 10. Dân số, lao động và cơ cấu sử dụng lao động

14

14


Đơn vị

2000

2005

163.81
3

166.51
9

1,19

1,851

1,373

1,199

1,146

1,145

1,148

82.30
9

88.720

89.320

91.985

93.288


85,6

85,6

84,4

83,5

83,1

4. Số người
trong
độ
tuổi có khả
Người
năng
lao
động không
có việc làm.

4.939

5.057

5.002

4.931

5.012

3. Lao động
làm
việc
trong
các Người
ngành kinh
tế - xã hội

1,60

1,24

0,17

5. Cơ cấu sử
dụng
lao
động
- Nông –
lâm – ngư Người
15

53.05
8

-0,53
52.178

50.866


49,99% năm 2005 xuống còn 46,74% năm 2009, năm 2010 là 45,51%.
Năm 2013 Cơ cấu kinh tế GDP theo giá hiện hành lĩnh vực nông lâm thủy sản
giảm còn 38,5%, công nghiệp xây dựng tăng lên 25,5% và dịch vụ chiếm 36 % . Cây
trồng hàng năm, thực hiện 25.802,5 ha (lúa 19.183 ha, cây bắp 2.450 ha, và các cây
ngắn ngày khác). Cây trồng lâu năm 26.896,66 ha (cao su 12.224,28 ha, cây điều
8.600,6 ha, cây tiêu 936,9 ha, cà phê 405,5 ha, cây ăn quả 1554,44 ha, cây lâu năm
khác và vườn tạp 3.109,94 ha)
Bảng 11: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế

TT CHỈ TIÊU

1

16

ĐVT

2005 2006 2007

Tổng giá trị
sản xuất (GO),
Tỷ đồng 668,9 714,5 821,1
giá so sánh
1994

2008

2009 2010

Tốc

Tỷ đồng 181,8 186,4 217,9
và xây dựng

262,4 304,0 350,2 14,0

+ CôngTỷ đồng 108,2 101,9 118,6

139,3 163,4 185,4 11,4

nghiệp
+ Xây dựng Tỷ đồng 73,6
- Dịch vụ
2

10,4 11,4

84,5 99,3

Tỷ đồng 152,7 176,9 205,1

123,1 140,6 164,8 17,5
236,8 267,7 312,4 15,4

Cơ cấu giá trị
%
sản xuất

100

- Nông, lâm,


100

+ Huyện Tánh Linh
-

Tăng trưởng kinh tế:
Tổng kết tình hình thực hiện kinh tế xã hội 5 năm 2006 - 2010 cho thấy nền kinh
tế của huyện vẫn duy trì được mức độ tăng trưởng khá, chất lượng tăng trưởng của một
số ngành và lĩnh vực kinh tế - xã hội tiếp tục được cải thiện.
Chuyển dịch cơ cấu ngành: Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, tỷ
trong nông lâm nghiệp tăng từ 40,10% năm 2006 lên 42,9% năm 2010; Công
nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng tăng từ 29,90% năm 2006 lên 31,70%
năm 2010; Dịch vụ giảm từ 30,0% năm 2006 xuống còn 25,4% năm 2010, trong đó
dịch vụ thương mại tăng từ 22,4% năm 2005 lên 25,4% năm 2010.
Tổng giá trị gia tăng (VA) của huyện tăng từ 341 tỷ đồng năm 2005 lên 522 tỷ
đồng năm 2009 (theo giá so sánh năm 1994), đến năm 2010 là 650 tỷ đồng tốc độ tăng
bình quân hàng năm giai đoạn 2006 - 2010 là 11,3%. Năm 2013 tốc độ tăng trưởng
kinh tế 9%, tổng diện tích gieo trồng hàng năm đạt 23.600 ha (cây lúa 15.500 ha), diện
tích cây công nghiệp và cây dài ngày 24.837 ha (cây điều 4.040 ha, cao su 19.576 ha).
Bảng 5: Một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế
Chỉ tiêu
17

Đơn

Năm

Năm


Người
bình

99.082

99.932

100.807 101.647

102.350 0,81

2. GDP (theo giá Triệu
CĐ 1994)
đồng

363.646 420.299

475.038 521.624

583.152 12,53

3. GDP/người
USD
(giá hiện hành)

467

563

622

128.523

143.000 145.259

150.000 10,50

Các ngành kinh tế đều có sự phát triển, ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ tăng khá,
vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. sức cạnh tranh của nền kinh tế tuy còn khó khăn nhưng đã có
sự chuyển biến tích cực. Tiềm năng, lợi thế của địa phương được tập trung khai thác,
chất lượng sản phẩm được từng bước nâng cao gắn với chế biến và xuất khẩu. Theo
ước tính sơ bộ năm 2010, GDP toàn huyện đạt khoảng 583,152 tỷ đồng (theo giá cố định
1994). Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong giai đoạn 2006 – 2010 đạt 11,26%.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong suốt thời kỳ 2005 - 2010, cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, giá trị các ngành tăng qua các năm. Các thành phần phát huy nội lực
phát triển mạnh mẽ, cơ cấu nội bộ một số ngành chủ yếu có bước chuyển biến tích
cực: chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày ngày
càng cao trong trong nông nghiệp (cả về diện tích và giá trị).
Tỷ trọng giá trị gia tăng của ngành công nghiệp và xây dựng trong cơ cấu tổng giá
trị gia tăng (VA) chiếm 28,3% năm 2005 tăng lên 30,3% năm 2009 và năm 2010 là
31,7%.
Tỷ trọng giá trị gia tăng của các nghành dịch vụ trong cơ cấu tổng giá trị gia tăng
chiếm 26,4% năm 2005 tăng lên 27,3% năm 2009 và đến năm 2010 là 42,9%
Năng suất lao động tính theo tổng giá trị gia tăng (VA, giá thực tế) tăng từ
6.834.000 đồng/lao động năm 2005 lên 12.262.000 đồng/lao động năm 2009 và đến
năm 2010 là 14.314.000 đồng/lao động. Cơ cấu kinh tế đến năm 2013, nông lâm
nghiệp và thủy sản: 40,45, công nghiệp-TTCN xây dựng 29,8%. Tổng diện tích gieo
trồng cây lương thực 28.400 ha, cây cao su 18.875 ha

18


44,1

44,5

42,7

42,9

Trong đó: Trồng trọt

%

70,1

72,7

72,6

72,3

67,6

II. Công nghiệp - xây dựng

%

29,9

27,8

%

30,0

28,1

27,4

27,3

25,4

Trong đó: - TM, DV
- DV công

%
%

72,8
27,2

73,2
26,8

71,1
28,9

72,4
27,6


Tốc độ
2012 tăng bq
(%)

1. Tổng giá trị sản xuất
(GO),
giá soTỷ đồng 861
sánh 1994

942

1.070 1.262 1.452 1.674 14,2

- Nông, lâm, ngư nghiệp Tỷ đồng 331

358

392

427

463

502

8,7

- Công nghiệp và xây
Tỷ đồng 370
dựng

16,7

Tỷ đồng 92

106

126

156

187

224

19,6

Tỷ đồng 160

178

210

248

293

347

16,7



8,5

- Công nghiệp và xây
Tỷ đồng 94
dựng

112

130

155

179

190

16,2

Tỷ đồng 60

69

79

93

107

118


3. Tổng giá trị gia tăng
(VA),
giá Tỷ đồng 730
thực tế

910

1.172 1.554 1.913 2.278

- Nông, lâm, ngư nghiệp Tỷ đồng 386

449

554

695

819

934

- Công nghiệp và xây
Tỷ đồng 149
dựng

209

286


- Theo giá thực tế

1000 đ 4.542 5.624 7.208 9.486 11.488

13.52
24,4
5

- Theo giá so sánh 1994 1000 đ 2.607 2.917 3.284 3.699 4.084 4.447 11,3
- Quy đổi USD (giá thực
USD
tế)

318

375

445

568

653

712

5. Cơ cấu giá trị gia
%
tăng (VA)

100



- Công nghiệp và xây
%
dựng

20,5

22,8

24,4

25,4

26,2

27,5

- Dịch vụ

26,7

27,5

28,3

29,9

31,0


Năm
2010

Năm
2011

Năm
2012

Cơ cấu kinh tế

%

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

1. Nông, lâm, thủy
%
sản

52,8

2.2.3. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
+

Huyện Đức Linh
Khu vực kinh tế nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp
Giá trị sản xuất nông nghiệp huyện Đức Linh có mức tăng trưởng khá. Giai đoạn
2006 - 2010 tăng bình quân 10,6%/năm (từ 334,4 tỷ đồng năm 2005 lên 553,4 tỷ đồng
năm 2010).
• Lâm nghiệp
Rừng Đức Linh ngoài chức năng cung cấp nguyên liệu cho các ngành sản xuất,
chế biến lâm sản còn có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ, bảo vệ môi trường
sinh thái và bảo vệ tài nguyên sinh vật vùng nhiệt đới. Hiện tại quỹ đất lâm nghiệp của


21

21


Huyện có diện tích 5.459,81 ha, chiếm 11,63% diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là
rừng tự nhiên sản xuất. Hiện đã hoàn thành công tác lập quy hoạch đưa vào quản lý 03
loại rừng.
• Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản tiếp tục được phát triển có diện tích 913,76 ha. Các
ao bàu, mặt nước bỏ hoang, diện tích thấp trũng sản xuất lúa 01 vụ kém hiệu quả đã
được đưa vào cải tạo để nuôi trồng thủy sản, kết hợp trồng sen bước đầu có hiệu quả.
Sản lượng thủy sản tăng từ 1.500 tấn năm 2005 lên 2.920 tấn năm 2012.
Khu vực kinh tế công nghiệp và xây dựng
Đến năm 2010, huyện đã hình thành được 06 cụm công nghiệp với tổng diện tích


22


-

Nông, lâm nghiệp phát triển mạnh theo hướng thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, vật nuôi, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất; khai thác, hoạt động
lâm nghiệp chuyển dần sang lâm nghiệp xã hội hóa; kinh tế trang trại phát triển mạnh
cả về số lượng, quy mô, phát huy ưu thế của vùng.
• Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp:
* Trồng trọt
Năm 2013, tổng diện tích gieo trồng cây lương thực 28.400 ha. Đạt 107% kế hoạch
năm. Diện tích cây lâu năm tăng từ 27.271 ha năm 2005 lên 27.945 ha năm 2009, chiếm
67,7% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp đến năm 2012 là 25.650 ha, 2013 là
28.400 ha. Trong đó, cây công nghiệp lâu năm tăng từ 16.801 ha năm 2005 lên 19.492
ha năm 2012. Cây ăn quả lâu năm giảm từ 1.125 ha năm 2005 xuống 1000 ha năm
2009.
* Chăn nuôi
Liên tục trong những năm qua, ngành chăn nuôi chịu tác động của nhiều loại dịch
bệnh. Do đó có sự chuyển dịch cơ cấu đàn gia súc gia cầm theo hướng tăng nhanh số
lượng các loài vật nuôi ít chịu tác động của bệnh dịch.
Cơ cấu giá trị chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp năm
2013 tổng đàn gia súc đạt 48.200 con, trong đó đàn trâu 2.600 con, đàn bò 3.400 con,
đàn heo 40.000 con
* Nuôi trồng thuỷ sản
Nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn huyện phát triển theo hướng nuôi trồng và tự
nhiên trong các hồ, đập, sông và suối. Nhiều thành phần kinh tế và hộ gia đình đã
mở rộng diện tích nuôi cá đạt hiệu quả kinh tế cao. Diện tích nuôi trồng và sản
lượng thủy sản liên tục tăng nhanh trong những năm qua.

Tánh Linh nằm ở vị trí cách xa trung tâm của tỉnh Bình Thuận và các tỉnh Đông
Nam Bộ. Nhưng do hệ thống giao thông thuận lợi trong giao lưu phát triển mạng lưới
kinh doanh - dịch vụ thương mại - dịch vụ đã đạt tốc độ tăng trưởng khá, góp phần
quan trọng tăng trưởng kinh tế. Tỷ trọng các ngành dịch vụ trong tổng giá trị gia tăng
của huyện đã tăng từ 25,5% năm 2005 lên 31,2 % năm 2009 đến năm 2010 là 32%.
Tuy nhiên, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ không cao, năm 2005
đạt 93,09 tỷ đồng năm 2009, đến năm 2012 là 213 tỷ đồng (theo giá thực tế), tốc độ
tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2007 - 2012 là 18%.
Huyện Tánh Linh mạng lưới chợ chưa phát triển: Đến nay có 12 chợ đang hoạt
động, chợ Lạc Tánh với diện tích 0,47 ha chợ loại 2. Và 11 chợ loại 3: chợ chiều Lạc
Tánh, chợ Tà Pao, chợ Đức Bình 1, chợ Đức Bình 2, chợ Sông Dinh, chợ Măng Tố, chợ
Huy Khiêm, chợ Nghị Đức, chợ Gia An, chợ Đức Tân, chợ Gia Huynh.
Về du lịch: Huyện Tánh Linh có cảnh quan thiên nhiên đa dạng, thuận lợi cho
phát triển du lịch sinh thái vùng rừng núi và du lịch sinh thái, di tích. Các khu, điểm du
lịch trên địa bàn huyện đang trong giai đoạn lập quy hoạch chi tiết. Hệ thống kết cấu
hạ tầng phục vụ du lịch đang được đầu tư xây dựng nên hoạt động kinh doanh du lịch
chưa phát triển.
+ Huyện Hàm Thuận Bắc
Khu vực kinh tế nông nghiệp
Nông, lâm, ngư nghiệp phát triển mạnh theo hướng thâm canh, chuyển đổi cơ cấu
cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất; khai thác, nuôi
trồng thủy sản vẫn tiếp tục phát triển; hoạt động lâm nghiệp chuyển dần sang lâm
nghiệp xã hội hóa, kinh tế trang trại phát triển mạnh cả về số lượng, quy mô, phát huy
ưu thế của từng vùng dựa trên cơ sở phát triển bền vững. Tốc độ tăng trưởng bình quân
giai đoạn 2006 – 2012 là 8,5%.
• Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
Trong giai đoạn 2006 - 2010, sản xuất nông nghiệp của huyện phát triển toàn diện
cả về trồng trọt và chăn nuôi nhờ phát huy tốt các công trình thủy lợi hiện có và được
bổ sung nguồn nước sau thủy điện Đại Ninh, trong đó giá trị sản xuất ngành trồng trọt
tăng mạnh, chăn nuôi tăng chậm. Cơ cấu nội bộ ngành có sự chuyển biến theo hướng

cấu kiện bê tông đúc sẵn, mộc dân dụng, nước đá cây, nước máy, xay xát lúa, hạt điều
nhân, may mặc, bánh tráng,...do nhu cầu xã hội ngày càng tăng cao.
Khu vực kinh tế dịch vụ
Huyện nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Bình Thuận, giáp với thành phố Phan Thiết
nên rất thuận lợi trong giao lưu, phát triển mạng lưới kinh doanh thương mại - dịch vụ.
Liên tục trong những năm qua, các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển thương mại - dịch vụ
đã đạt tốc độ tăng trưởng khá, góp phần quan trọng làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 31,50% trong cơ cấu kinh tế chung của toàn huyện
với việc hình thành và đưa vào hoạt động chợ trung tâm huyện và xây dựng kiện cố
hoá một số chợ trung tâm xã, cơ bản đáp ứng được nhu cầu mua sắm hàng hoá tiêu
dùng cũng như trao đổi sản phẩm sản xuất của nông dân. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và
doanh thu dịch vụ tăng từ 642 tỷ đồng năm 2005 lên 1.324 tỷ đồng năm 2009, ước
năm 2010 là 1.584 tỷ đồng (theo giá thực tế), tốc độ tăng bình quân hàng năm giai
đoạn 2006 - 2010 là 19,8%.
Tổng số lao động kinh doanh thương mại - du lịch tăng từ 6.645 người năm 2005
lên 11.030 người năm 2011, ước năm 2012 là 12.520 người.
2.3. Tài nguyên nước lưu vực sông
2.3.1. Tài nguyên nước mưa
Mưa tại Bình Thuận phân bố không đều cả về thời gian và không gian.
Trên lưu vực sông La Ngà thì lượng mưa vào tháng 2 hàng năm ít hơn so với các
tháng khác trong năm. Lượng mưa trung bình hàng năm thay đổi theo hướng tăng dần
từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông.
Bảng 8. Lượng mưa trung bình nhiều năm của các trạm trên lưu vực sông La Ngà

25

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status