PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
NHẰM NÂNG CAO TÍNH MINH BẠCH CỦA CÁC DVCĐT Ở VIỆT NAM
I.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ VÀ DỊCH VỤ CÔNG
Trong hơn một thập kỷ qua, khi trào lưu chính phủ điện tử bắt đầu,
Internet với công nghệ web đã mang đến cho chính phủ các quốc gia khả năng
tương tác mới giữa chính phủ với công chúng. Một số người còn cho rằng đấy là
một cuộc cách mạng trong mối quan hệ giữa chính phủ và công dân bằng công
nghệ web.
1.1. Khái niệm chính phủ điện tử
Chính phủ điện tử theo cách đơn giản là: Chính phủ hoạt động trực tuyến
(online) 24/24h; 7/7ngày/tuần; 365/365 ngày/năm. Chính phủ không ồn ào, không
giấy tờ, tạo sự tin tưởng, tin cậy cao với hai nguyên tắc hỗ trợ cơ bản: Giải quyết
công việc một cách công khai và đảm bảo an ninh.
Tuy nhiên, định nghĩa của Ngân hàng thế giới (World Bank) cho chúng ta
thấy cách hiểu rõ ràng về chính phủ điện tử: Chính phủ điện tử là việc các cơ quan
của chính phủ sử dụng một cách có hệ thống công nghệ thông tin và viễn thông để
thực hiện các quan hệ với công dân, với doanh nghiệp và các cơ quan hành chính.
Những công nghệ này nhằm cải thiện giao dịch giữa Nhà nước với công dân và
doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả quản lý, giảm chi phí và bớt tham nhũng thông
qua tăng cường công khai và minh bạch.
Một mô hình chính phủ điện tử hiệu quả sẽ bao gồm cách thức giải quyết
quan hệ tương tác về thông tin giữa ba chủ thể: chính phủ, công dân và doanh
nghiệp.
Thứ nhất, giữa chính phủ với nhau (Government to Government – G2G).
Đây là cấp độ thường được khởi động trước tiên khi xây dựng một chính phủ điện
tử. Cấp độ tương tác e-gov này giúp cho các cơ quan hành chính chia sẻ dữ liệu,
trao đổi công việc thuận tiện hơn, giảm thiểu chi phí và thời gian hội họp không
cần thiết.
kiến đối với chính phủ bởi thế hệ công dân ngày nay hiểu biết về chính trị, xã hội
đã lớn lên với Internet và các công nghệ truyền thông kỹ thuật số trong cuộc sống
hàng ngày, tương tự như những công dân, người mà họ được sử dụng cho các hoạt
động chuyên nghiệp trong công việc và các hoạt động cá nhân khác. Thêm vào đó,
qua sự mở rộng khả năng tương tác và chia sẻ thông tin, chính phủ điện tử cũng có
thể tăng cường tương tác “công dân với công dân” (C2C) bằng cách cung cấp cơ
hội cho những người có cùng quan điểm và mối quan tâm nhưng bị ngăn cách bởi
các điều kiện về địa lý.
1.3. Các giai đoạn xây dựng chính phủ điện tử
Quá trình xây dựng Chính phủ điện tử chia làm 4 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1: Sự hiện diện (Presence)
Sự hiện diện là giai đoạn đầu của sự phát triển và thiết lập một địa chỉ
cung cấp thông tin trong tương lai. Nó cho thấy cách thức đơn giản trong truy cập
và tìm kiếm thông tin của chính phủ điện tử, nhưng nó cũng cung cấp một số tùy
chọn tối thiểu cho công dân. Ví dụ như xây dựng một trang web cơ bản liệt kê các
thông tin chung về một cơ quan hay tổ chức nào đó, chẳng hạn như giờ hoạt động,
địa chỉ email, và số điện thoại, nhưng không có khả năng tương tác. Đây là một
website thụ động, đơn thuần chỉ cung cấp thông tin chung.
- Giai đoạn : Tương tác (Interaction)
Giai đoạn thứ hai cho thấy các giao dịch dựa trên web tương tác cung cấp
khả năng nâng cao, tuy nhiên vẫn tương đối đơn giản và thường xoay quanh cung
cấp thông tin và còn hạn chế trong khả năng sắp xếp hợp lý và tự động hóa các
chức năng của chính phủ. Các website tương tác này được thiết kế để giúp khách
2
hàng có các hướng dẫn để thực hiện được các dịch vụ. Cho phép các truy cập để tải
mẫu biểu để in ấn và gửi trả lại một cơ quan, hoặc có thể e-mail liên lạc để đáp ứng
những câu hỏi đơn giản.
- Giai đoạn : Giao dịch (Transaction)
Theo xu hướng chung này, chính phủ các nước cũng đưa việc cung cấp
các dịch vụ của họ thông qua trang web hay cổng thông tin (portal), để phục vụ
người dân và doanh nghiệp nhanh chóng và thuận lợi hơn.
1.4.1. Khái niệm dịch vụ công
Dịch vụ công và tư tưởng đổi mới dịch vụ công lần đầu tiên được xuất
hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương Đảng
3
Cộng sản Việt Nam khoá VIII. Tiếp sau đó, nó được khẳng định tại Văn kiện Đại
hội Đảng lần thứ IX và Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ X. Quán triệt tinh thần cơ
bản trên, Quốc hội đã đưa khái niệm này vào Luật tổ chức Chính phủ năm 2001.
Theo đó, dịch vụ công có thể được hiểu là những hoạt động dịch vụ của các tổ
chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được Nhà
nước uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ những nhu
cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụ lợi,
đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội1.
Điều 22 của Luật này quy định: "Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của
Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực
công tác trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc ngành,
lĩnh vực;"
Dịch vụ công bao gồm nhiều loại dịch vụ khác nhau, thậm chí rất khác
nhau về tính chất. Tuy nhiên, các dịch vụ này có các đặc điểm chung như sau:
- Thứ nhất, đây là những hoạt động phục vụ nhu cầu và lợi ích chung thiết
yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, Nhà nước có trách
nhiệm bảo đảm các dịch vụ này cho xã hội. Trách nhiệm bảo đảm ở đây hàm ý
rằng, hoặc Nhà nước tổ chức các đơn vị công lập đảm nhiệm cung cấp hoặc Nhà
nước không trực tiếp tổ chức cung ứng thì ủy nhiệm cho một chủ thể khác thực
hiện. Tuy nhiên, trong trường hợp Nhà nước ủy nhiệm việc cung ứng các dịch vụ
này cho khu vực tư nhân thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm bảo
hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà
nước đó quản lý.)
Đồng thời quy định các mức độ dịch vụ công trực tuyến của cơ quan hành
chính nhà nước cung cấp cho tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng, gồm
bốn mức: từ mức độ 1 đến mức độ 4.
II.
PHÁT TRIỂN CPĐT VÀ CÁC DVCĐT CỦA CP Ở VIỆT NAM
2.1 Sự phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam
Trong một hội nghị cấp cao ASEAN tại Hà Nội năm 1998, nguyên Thủ
tướng Phan Văn Khải đã khẳng định mong muốn xây dựng chính phủ điện tử. Tuy
nhiên, chính thức bằng văn bản, theo Điều 3 và Điều 9 quyết định của Chính phủ
về ký kết Hiệp định Khung E-ASEAN tại hội nghị cấp cao không chính thức lần
thứ 4 tại Singapore ngày 24/04/2000, Việt Nam cam kết xây dựng CPĐT.
Việt Nam là quốc gia có nền hành chính công còn non trẻ và lại kế thừa
mô hình Liên-Xô cũ. Điều đó khiến khối lượng công việc hành chính của Nhà
nước rất lớn. Những điểm ưu việt của chính phủ điện tử so với nền hành chính
truyền thống trước đây là khá rõ ràng. Tuy nhiên, xuất phát từ một nước nông
nghiệp lạc hậu, nền kinh tế nhiều năm theo mô hình kế hoạch hóa tập trung, trình
độ khoa học - công nghệ có khoảng cách xa với các quốc gia phát triển trên thế
giới nên xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam là một nhiệm vụ hết sức khó
khăn và phức tạp.Trước những năm 2001 - 2002, sự thiếu vắng khung pháp lý về
định hướng chung trong phát triển chính phủ điện tử đã tạo không ít khó khăn cho
các tỉnh, thành phố trong đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông.
Năm 2006, việc triển khai mô hình chính phủ điện tử phù hợp cho Việt
Nam đã được quan tâm thảo luận trong kỳ họp của Hội nghị thường niên lần thứ
IV về Chính phủ điện tử. Những bước chúng ta cần chú trọng trong quá trình xây
dựng Chính phủ điện tử đó là: Đầu tiên phải định nghĩa rõ tầm nhìn về chiến lược,
sau đó phải đưa ra thiết kế. Kế tiếp là phải xây dựng hình mẫu triển khai và sau đó
năm 2013 đạt 84/148 nước, giữ nguyên so với 2012. Trong đánh giá này, mức độ
sẵn sàng trong Chính phủ Việt Nam được xếp hạng 58/148 và đặc biệt giá cước
dịch vụ viễn thông, Internet của Việt Nam gần như thấp nhất trên thế giới, xếp
hạng 8/148.
Với lĩnh vực công nghiệp CNTT, Việt Nam vẫn nằm trong Top 10 khu vực
châu Á-Thái Bình Dương và Top 30 thế giới về gia công phần mềm theo báo cáo
của Tập đoàn Gartner năm 2014. Hà Nội và TP.HCM tiếp tục có tên trong Top 100
thành phố hấp dẫn nhất thế giới về gia công phần mềm, trong đó TP.HCM xếp thứ
17 và Hà Nội xếp thứ 22.
Đáng chú ý, về xếp hạng Chính phủ Điện tử, Việt Nam xếp thứ 4 khu vực
Đông Nam Á và đứng thứ 99/193 nước được xếp hạng. Trong đó yếu tố nhân lực
của Việt Nam được đánh giá cao, với xếp hạng về nguồn nhân lực tiếp tục giữ vị
trí 101/155 quốc gia và chủ yếu được đánh giá cao về chất lượng đào tạo các môn
khoa học cơ bản như Toán.
Về xếp hạng phát triển Internet, Việt Nam nằm trong Top 10 các nước châu
Á có tốc độ tăng trưởng người dùng Internet nhanh nhất, xếp thứ 3 Đông Nam Á,
thứ 7 châu Á và thứ 18 trên thế giới về số lượng người dùng Internet.
3
Theo Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân
6
Cũng theo Sách Trắng 2014, đối với hoạt động ứng dụng CNTT trong các
cơ quan Nhà nước, tính đến cuối năm 2013, tỷ lệ máy vi tính trên tổng số cán bộ
công chức tại các cơ quan cấp Bộ đạt hơn 86,7% và tại các cơ quan cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương là 89,7%; tỷ lệ máy vi tính có kết nối Internet của các
cơ quan cấp Bộ đạt 93,3% và đạt 97,2% với các cơ quan cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương; 100% các Bộ ngành, tỉnh thành đã có trang/ cổng thông tin điện
tử; 100% cơ quan nhà nước có mạng nội bộ và đơn vị chuyên trách về CNTT.
Ngược lại, khi các công dân, doanh nghiệp và tổ chức xã hội tham gia dịch
vụ công điện tử càng nhiều hơn, họ cũng có thể tham gia đóng góp cải thiện các
dịch vụ công thông qua việc cung cấp thông tin phản hồi về các dịch vụ này. Từ
7
đó, các dịch vụ công trực tuyến sẽ có thể được cải thiện sao cho đáp ứng ngày
càng tốt hơn mong muốn của cộng đồng xã hội thông qua việc nâng cao chất
lượng, giảm chi phí, tăng sự minh bạch và tiện lợi khi tham gia giao dịch.
Cung cấp các dịch vụ công điện tử là một nội dung quan trọng trong tiến
trình cải cách hành chính, triển khai Chính phủ điện tử. Điều đó không những tạo
điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, mà còn góp
phần làm giảm áp lực công việc giấy tờ lên chính các cơ quan quản lý nhà nước,
ảnh hưởng tích cực đến những thay đổi trong cách thức làm việc của chính phủ.
. . Các tiêu chí đánh giá dịch vụ công điện tử
Liên hiệp quốc chia dịch vụ công điện tử theo bốn cấp độ tăng dần là
Emerging, Enhanced, Transactional và Connected. Vì chọn các từ tương đương
trong tiếng Việt tương đối khó nên ở Việt Nam, tương tự như bốn giai đoạn ở trên,
chúng ta gọi là dịch vụ công điện tử mức độ 1 (Emerging), mức độ 2 (Enhanced),
mức độ 3 (Transactional) và mức độ 4 (Connected) là đích đến cuối cùng của việc
cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Đây là mức cao nhất, ở mức này gần như mọi
hoạt động đã được thực hiện qua môi trường điện tử.
Các mức độ của dịch vụ công điện tử
MỨC ĐỘ
YÊU CẦU VỀ DỊCH VỤ CÔNG ĐIỆN TỬ
Mức độ 1
(Emerging)
hiện trực tuyến. Việc trả kết quả có thể thực hiện trực
tuyến, gửi trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện cho
người sử dụng.
Việc cung cấp dịch vụ công điện tử của một quốc gia được quan tâm, đánh
giá dựa trên bốn tiêu chí sau:
8
• Chính phủ cung cấp các dịch vụ thông tin trực tuyến cơ bản.
• Chính phủ sử dụng công nghệ đa phương tiện và thúc đẩy tương tác hai
chiều với người dân, doanh nghiệp và các tổ chức.
• Chính phủ sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ công và tiếp nhận ý kiến
phản hồi về các vấn đề công chúng quan tâm.
• Chính phủ kết nối các chức năng của dịch vụ công và thường xuyên tham
khảo ý kiến người dân về những vấn đề của chính sách công
Nếu một quốc gia đạt tất cả bốn tiêu chí trên tốt, như vậy quốc gia này đã
thiết lập một nền tảng số cho việc nâng cao tính dân chủ và quyền công dân.
2.4. Điều kiện thực hiện dịch vụ công điện tử ở Việt Nam
Các dịch vụ công điện tử ra đời, tồn tại và phát triển không thể tách rời với
hệ thống mạng và các phần mềm được thiết kế cho các quy trình hoạt động của các
dịch vụ công này. Một quốc gia có nền tảng hạ tầng công nghệ thông tin và viễn
thông đảm bảo, cùng với hành lang pháp lý đầy đủ là những điều kiện tiên quyết
để dịch vụ công trực tuyến được xây dựng và mở rộng, phục vụ người dân, doanh
nghiệp và cộng đồng xã hội. Tuy nhiên, công chức chính phủ và cộng đồng dân
chúng cũng cần có các kỹ năng về công nghệ thông tin để có thể tham gia thực
hiện các giao dịch trực tuyến của các dịch vụ này.
2.4.1. Điều kiện pháp lý cho dịch vụ công điện tử
Sự ra đời và phát triển các dịch vụ công điện tử đã đặt ra một yêu cầu cấp
thiết phải có một khuôn khổ pháp lý liên quan đến các giao dịch điện tử nói chung
khác nhau. Trình duyệt web là phần mềm cho phép người sử dụng thiết lập giao
dịch với máy chủ (server) chứa trang web để tải thông tin về và truyền thông tin từ
máy tính của người sử dụng.
Các trang web có thể cung cấp thông tin và truyền tải thông tin dưới dạng
âm thanh, chữ (text), hình ảnh với nhiều màu sắc phong phú, đa dạng và luôn sẵn
sàng phục vụ vào bất cứ thời điểm nào, bất cứ nơi nào có kết nối mạng. Do đó, các
thông tin về dịch vụ công và quy trình thực hiện các dịch vụ này trên trang web sẽ
hỗ trợ trực quan hơn cho người sử dụng dịch vụ hơn hẳn việc dùng dịch vụ điện
thoại hay đọc các văn bản bằng giấy.
- Trang thông tin điện tử là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông
tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin.
- Cổng thông tin điện tử là điểm truy cập duy nhất của cơ quan trên môi
trường mạng, liên kết, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và các ứng dụng
mà qua đó người dùng có thể khai thác, sử dụng và cá nhân hóa việc hiển thị thông
tin.
Cổng thông tin điện tử cung cấp khả năng tương tác với người sử dụng dịch
vụ, cho phép khai báo trực tuyến, nộp phí dịch vụ qua mạng và đưa ý kiến phản
hồi về dịch vụ được cung cấp. Đây là điều kiện để đảm bảo tính dân chủ và cho
người dân cảm giác thoải mái trong giao dịch với các dịch vụ công điện tử của
chính phủ.
- Cơ sở dữ liệu của trang web cung cấp dịch vụ công điện tử
Dữ liệu điện tử là tất cả các văn bản (chữ), hình ảnh, âm thanh hoặc sự kết
hợp giữa chúng được lưu trữ bằng các phương tiện điện tử.
Dữ liệu đặc tả (Metadata) là những thông tin mô tả các đặc tính của dữ liệu
như nội dung, định dạng, chất lượng, điều kiện và các đặc tính khác nhằm tạo
thuận lợi cho quá trình tìm kiếm, truy cập, quản lý và lưu trữ dữ liệu.
Cơ sở dữ liệu của trang web là một tập hợp dữ liệu điện tử có cấu trúc để
lưu trữ và đáp ứng theo một cơ chế nhất định các yêu cầu của chương trình ứng
dụng của trang mạng.
2.4.3. Điều kiện về con người tham gia dịch vụ công điện tử
Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất chính là “sự ưa thích” sử dụng dịch vụ
điện tử và sự tự học hỏi các kỹ năng và cách thức cần thiết khi tham gia các hoạt
động này. Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, các thông tin tuyên truyền về
lợi ích sử dụng dịch vụ công trực tuyến cần được xúc tiến và quảng bá trong cộng
đồng dân chúng. Khi nhận thức được tính thuận tiện, tiết kiệm chi phí, nhanh
chóng, hiệu quả và đặc biệt là yếu tố an toàn và bảo mật thông tin cá nhân, người
dân và doanh nghiệp sẽ hướng tới sử dụng dịch vụ trực tuyến.
2.4.4. Điều kiện đảm bảo tính minh bạch của dịch vụ công điện tử
Những điểm ưu việt của chính phủ điện tử là khá rõ ràng so với nền hành
chính truyền thống, mang nặng tính thủ công trước đây. Việc ứng dụng mạnh mẽ
công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động của các cơ quan Chính phủ,
cũng như trong hệ thống các cơ quan hành c hính nhà nước, thiết lập cơ chế trao
đổi thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước với nhau và giữa các cơ quan nhà
11
nước với nhân dân sẽ đạt được hiệu quả rõ ràng bởi sự nhanh chóng, thuận tiện,
tiết kiệm chi phí hơn và ít nảy sinh tiêu cực hơn.
Để đảm bảo tính minh bạch của dịch vụ công điện tử, việc đưa thông tin
về dịch vụ công và quy trình thực hiện dịch vụ công phải đầy đủ và rõ ràng trên
trang thông tin điện tử hay cổng thông tin điện tử. Đồng thời, phải cung cấp các
thông tin về quá trình xử lý dịch vụ công điện tử và kết quả giải quyết thủ tục/dịch
vụ công đó. Hơn nữa, một yếu tố không thể thiếu được là phải có cơ chế kiểm tra
danh tính của cá nhân, tổ chức tham gia dịch vụ công điện tử và đảm bảo an toàn,
bảo mật thông tin cá nhân cũng như kiểm soát tính đúng đắn của các thông tin liên
quan.
Cụ thể là việc cung cấp thông tin về dịch vụ công điện tử phải được:
- Cơ quan chủ quản có trách nhiệm đăng tải toàn bộ thông tin về dịch vụ
công điện tử trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính. Thông tin về dịch
vụ công điện tử phải được cập nhật, bổ sung, chỉnh sửa kịp thời ngay sau khi có sự
thanh toán… và có thể cần cung cấp thêm điều kiện in ấn cho những thông tin này.
Cần có cơ chế kiểm tra tính đúng đắn danh tính và các dữ liệu liên quan
của cá nhân và tổ chức truy cập các dịch vụ công trực tuyến. Hơn nữa, cần phải
đảm bảo rằng dịch vụ là an toàn và sự riêng tư sẽ được tôn trọng. Người truy cập
các dịch vụ trực tuyến khác nhau sẽ có các thông tin cá nhân và danh tính khác
nhau cần khai báo, chẳng hạn như khi sử dụng dịch vụ nộp thuế và dịch vụ cấp
phép xây dựng. Nhưng nếu cùng là một cá nhân truy cập vào hai dịch vụ này thì
phải có một ID chung, như số chứng minh nhân dân. Cần có một chức năng của
dịch vụ công điện tử cho phép kiểm tra cơ sở dữ liệu theo ID (ví dụ: số chứng minh
nhân dân) được khai báo để xác định danh tính cũng như các thông tin cá nhân có
hợp pháp hay không.
Do đó, nếu tất cả các dịch vụ công điện tử có quyền truy cập vào một cơ
sở dữ liệu cá nhân duy nhất thì vấn đề bảo mật dữ liệu cho nó, vấn đề sao lưu dữ
liệu phòng cho các trường hợp rủi ro (cháy nổ, thiên tai…) là hết sức cần thiết.
Thực tế hiển nhiên là nhiều người sẽ không muốn các thông tin cá nhân của họ bị
chia sẻ cho các tổ chức khác sử dụng, chưa kể các nguy cơ khác như bị sửa đổi
thông tin cá nhân hay bị đánh cắp những thông tin này để sử dụng vào các mục
đích phi pháp khác. Do đó, các biện pháp như sử dụng chữ ký số, đăng nhập kết
hợp với sử dụng mật khẩu và mã hoá dữ liệu khách hàng là các biện pháp thường
được sử dụng cho các loại hình dịch vụ trực tuyến.
13
III. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG, THÚC ĐẨYCÁC DỊCH VỤ CÔNG ĐIỆN
TỬ CỦA CHÍNH PHỦ Ở VIỆT NAM
Xây dựng và phát triển chính phủ điện tử với công nghệ cao, kỹ thuật hiện
đại cho phép xử lý và truyền thông tin nhanh chóng và chính xác. Chính phủ điện
tử giúp các thủ tục hành chính được công khai, tin cậy, tạo sự bình đẳng trong truy
cập thông tin và cho phép xử lý các thủ tục hành chính nhanh hơn rất nhiều so với
2. Bộ Bưu chính, Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) chịu
trách nhiệm trước Chính phủ trong việc chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên
quan thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động giao dịch điện tử.
14
3. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động giao dịch điện tử.
4. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động giao dịch
điện tử tại địa phương.
Điều 9 cũng ghi rõ các hành vi bị nghiêm cấm trong giao dịch điện tử, bao
gồm:
1. Cản trở việc lựa chọn sử dụng giao dịch điện tử.
2. Cản trở hoặc ngăn chặn trái phép quá trình truyền, gửi, nhận thông điệp dữ
liệu.
3. Thay đổi, xoá, huỷ, giả mạo, sao chép, tiết lộ, hiển thị, di chuyển trái
phép một phần hoặc toàn bộ thông điệp dữ liệu.
4. Tạo ra hoặc phát tán chương trình phần mềm làm rối loạn, thay đổi, phá
hoại hệ thống điều hành hoặc có hành vi khác nhằm phá hoại hạ tầng công nghệ về
giao dịch điện tử.
5. Tạo ra thông điệp dữ liệu nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật.
6. Gian lận, mạo nhận, chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép chữ ký điện tử
của người khác.
Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 83/2008/QĐ-TTg về
công nghệ cần thực hiện từng bước vững chắc việc kết nối với các trang thông tin
điện tử, cổng thông tin điện tử trong hệ thống các cơ quan nhà nước, tập đoàn,
tổng công ty kinh tế lớn; về nội dung phải tích hợp thông tin hành chính và dịch vụ
công của Chính phủ trên Internet... để đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân và
yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội
28 của Luật công nghệ thông tin.
5. Cung cấp, chia sẻ thông tin với cơ quan khác của Nhà nước.
6. Thực hiện việc cung cấp dịch vụ công trên môi trường mạng.
7. Xây dựng, thực hiện kế hoạch đào tạo, nâng cao nhận thức và trình độ ứng
dụng công nghệ thông tin của cán bộ, công chức.
Các quy định pháp lý về cung cấp dịch vụ công trên môi trường mạng
cũng như việc xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu, nguồn nhân lực
phục vụ cho hoạt động của cơ quan nhà nước, hoạt động trao đổi, cung cấp thông
tin giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân và hoạt động phục vụ lợi ích công
cộng đã và đang được ghi nhận trong các văn bản Luật và quy phạm pháp luật.
Do đó, ngoài việc cung cấp thông tin đầy đủ về quy trình, thủ tục của các
dịch vụ công trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử (Khoản
2,Điều 8, Luật Công nghệ thông tin), để đảm bảo tính minh bạch của các dịch vụ
công điện tử, cần các quy định pháp lý về xác định danh tính công dân, doanh
nghiệp và tổ chức tham gia dịch vụ công điện tử. Thêm vào đó, các văn bản luật
liên quan tới thanh toán điện tử cho các dịch vụ công trực tuyến cần được xây
dựng để đảm bảo môi trường giao dịch tin cậy và an toàn cho thanh toán phí dịch
vụ.
Thanh toán phí dịch vụ công điện tử liên quan đến vấn đề mở rộng cơ sở
hạ tầng thanh toán điện tử liên ngân hàng, đặc biệt là bảo mật đường truyền truy
cập dữ liệu tài khoản tiền gửi của khách hàng nhằm để cung cấp các công cụ trực
tuyến thuận lợi cho quá trình thanh toán phí giao dịch, giúp tăng cường sự tiện lợi
và bảo vệ người tham gia giao dịch khỏi các rủi ro tài chính. Cũng cần có văn bản
pháp lý cho những quy định cụ thể về phương thức thanh toán, chẳng hạn thanh
toán bằng thẻ: Có thể sử dụng thẻ tín dụng hay buộc phải dùng thẻ trả phí cho dịch
vụ... Do đó, các quy định kéo theo như: giao dịch từ chối cung cấp dịch vụ khi thẻ
16
quá hạn, thẻ không có khả năng thanh toán hoặc phát hiện thẻ bị đánh cắp… cũng
hoặc vô tuyến với các công nghệ tiên tiến, tốc độ cao tạo thành một mạng lưới
thống nhất, đồng bộ truyền dẫn các tín hiệu hội tụ giữa thoại và dữ liệu, hội tụ giữa
viễn thông, máy tính và phát thanh truyền hình.
3.3. Giải pháp đảm bảo an toàn và bí mật thông tin cá nhân của các dịch vụ
công điện tử
Đối với các dịch vụ công điện tử, vấn đề an ninh dường như mâu thuẫn
với sự thuận tiện, dễ sử dụng. Nhu cầu cung cấp nhiều dịch vụ, quy trình đơn giản,
thuận tiện cho người dân có thể dẫn đến mất an toàn. Trái lại, dịch vụ đòi hỏi
17
nhiều cấp độ đăng nhập, khai báo thì không thân thiện với người sử dụng dịch vụ.
Vì vậy, các chuyên gia an ninh mạng và công ty xây dựng phần mềm dịch vụ công
trực tuyến cần lựa chọn phương án để hài hòa cả hai yếu tố này nhưng cũng cần có
biện pháp phòng ngừa với những nguy cơ như: bị đánh cắp dữ liệu, sai lệch kết
quả, sửa đổi thông tin, giả mạo. Để phòng ngừa tất cả các nguy cơ này, các biện
pháp đảm bảo an ninh phải được thực hiện ở tất cả các tầng truy nhập.
Cho đến nay, ứng dụng chữ ký số được cho là biện pháp giải quyết triệt để
các nguy cơ an ninh trong giao dịch trực tuyến cũng như được công nhận về tính
pháp lý, nó đảm bảo được tính toàn vẹn, xác thực và chống chối bỏ. Chính vì thế,
hiện nay hầu hết các dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ trong ngân hàng, chứng
khoán của các nước như Mỹ, Úc, Nhật, Hàn Quốc, Singapore… đều sử dụng giải
pháp chữ ký số cho các giao dịch điện tử.
3.4. Cải cách hành chính đáp ứng các quy trình – thủ tục minh bạch của các
dịch vụ công điện tử
Xây dựng chính phủ điện tử không thể tách rời việc xây dựng các quy
trình hành chính hiệu quả giữa các cơ quan của chính phủ và cung cấp các dịch vụ
công điện tử cho các công dân, doanh nghiệp nhờ ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông (ICT). Điều này bao gồm: Chuẩn hoá các quy trình hành chính, quy
trình cung cấp dịch vụ công và thanh toán trực tuyến phí dịch vụ. Tuy nhiên, chính
phủ điện tử cũng cần tăng tính phối hợp sử dụng chung giữa các hệ thống, tích