BÁO CÁO TỔNG THUẬT HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
Phát triển kinh tế - xã hội và ngành Ngân hàng Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Phần 1
Những vấn đề chung về phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập quốc tế
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) đã đề ra chủ trương chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế.Để triển khai thực hiện chủ trương này, ngày 10
tháng 4 năm 2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập
quốc tế. Theo đó, chúng ta chuyển sang giai đoạn hội nhập toàn diện, “Hội nhập kinh
tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế
và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế”. Quan điểm này khẳng định vai trò của
hội nhập kinh tế quốc tế trong tiến trình hội nhập chung của đất nước, như trong kết
luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 08
của Ban Chấp hành Trung ương 4 khoá X đã nêu rõ: “Hội nhập kinh tế quốc tế cần
được đặt trong mối quan hệ hài hòa với hội nhập trong các lĩnh vực khác nhưng hội
nhập kinh tế quốc tế phải là trọng tâm, là nội dung chính, quan trọng nhất của tiến
trình hội nhập. Hội nhập kinh tế quốc tế cần đi trước một bước để tạo cơ sở, thúc đẩy
hội nhập và hợp tác trong các lĩnh vực khác”.
Trong tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế - thương mại
với trên 200 nước, vùng lãnh thổ và các tổ chức trên thế giới. Không chỉ tham gia Hiệp
hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam còn là thành viên của các tổ chức
hợp tác quốc tế lớn nhất thế giới như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Diễn đàn
Hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hiệp
định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và có mối quan hệ tích
cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng
Phát triển châu Á (ADB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)… Để mở rộng quan hệ kinh tế thương mại, Việt Nam đã chủ động đàm phán và tham gia vào các Hiệp định Thương mại
tự do khu vực và song phương (FTA) với nhiều nước trong châu lục và thế giới.
1. Các hiệp định quốc tế quan trọng mà Việt Nam tham gia
1.1. Tổ chức Thương mại toàn cầu (WTO)
còn đưa vào những vấn đề thương mại mới và đang nổi lên, vấn đề lao động, môi
trường, các nội dung liên quan đến Internet và nền kinh tế số, các điều khoản về thể
chế, cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và Chính phủ.
Bên cạnh đó, nội dung TPP bao hàm nhiều điểm mới, nhất là các tiêu chuẩn mới
và chặt chẽ về thương mại và đầu tư tại khu vực châu Á Thái Bình Dương như: xoá bỏ
hầu hết thuế quan; hướng tới xoá bỏ rào cản thị trường; tạo điều kiện cho hàng hoá,
dịch vụ và vốn được lưu thông trong nội khối ngày một dễ dàng; thắt chặt những chuẩn
mực về sở hữu trí tuệ; bảo hộ đầu tư; tiêu chuẩn lao động và môi trường; các tiêu chuẩn
Các thành viên TPP có 800 triệu dân chiếm 40% GDP của thế giới, 1/3 giá trị thương
mại toàn cầu.
1
2
kỹ thuật; cam kết xây dựng chính quyền minh bạch, bình đẳng giữa các doanh nghiệp.
TPP cũng đưa ra những chế tài chặt chẽ và nghiêm khắc hơn đối với các thành viên vi
phạm các quy định của TPP.
Hướng tới gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) dự kiến sẽ được thành lập vào cuối năm
2015. Đây được coi là một bước ngoặt đánh dấu sự hòa nhập toàn diện của các nền
kinh tế Đông Nam Á thành một khối sản xuất thương mại và đầu tư, tạo ra thị trường
chung của một khu vực có dân số 600 triệu người và GDP hàng năm khoảng 2.000 tỉ
USD. Kế hoạch AEC bao gồm 4 nội dung then chốt: tạo lập một thị trường và cơ sở
sản xuất thống nhất, tạo lập một khu vực kinh tế cạnh tranh cao, thúc đẩy sự phát triển
kinh tế công bằng, xây dựng một khu vực hội nhập hoàn toàn với nền kinh tế toàn cầu.
AEC sẽ biến ASEAN thành một khu vực tự do dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư,
lao động có kỹ năng và tự do dịch chuyển dòng vốn. Cụ thể, Việt Nam và các nước
ASEAN cùng thống nhất tham gia vào Cộng đồng kinh tế AEC nhằm đạt được các
mục tiêu:
do hóa 94,53% kim ngạch thương mại trong vòng 10 năm. Hiệp định cũng đã thỏa
thuận củng cố ngành công nghiệp hỗ trợ cho cả doanh nghiệp Nhật Bản và Việt Nam
trong các lĩnh vực như sản xuất xe máy, xe hơi, thiết bị điện tử tại Việt Nam.
-Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- Liên minh Châu Âu EU (2015): Hai bên bãi bỏ
hầu hết hàng rào thuế quan, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu vào
Châu Âu và doanh nghiệp Châu Âu đầu tư vào Việt Nam. Theo lộ trình, khoảng 90%
hang rào thuế quan hàng hóa của Việt Nam sẽ được xóa bỏ khi vào thị trường các nước
EU, góp phần đẩy mạnh trao đổi thương mại hai chiều. Những mặt hàng Việt Nam
được đánh giá là có lợi thế khi hàng rào thuế quan bị gỡ bỏ là: dệt may, giày dép, nông
thủy sản, đồ gỗ. FTA đồng thời cũng tạo thuận lợi cho cá doanh nghiệp nhỏ và vừa của
EU tập trung đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam.
2.Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế
2.1. Cơ hội
-
Thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng
Các FTAsđã ký và AEC đi vào hoạt động đã định hình lại vị thế và vai trò của
Việt Nam trên các bản đồ kinh tế, song cũng đòi hỏi nước ta phải thay đổi nhiều để
tương thích và giành được vị trí tốt trong kinh tế khu vực và thế giới. Đây là cơ hội tốt
để nước ta tái cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng. Từ cường quốc về xuất
khẩu gạo,Việt Nam cần phát triển sản xuất và cung ứng các sản phẩm hiệu quả khác
như các chương trình phần mềm, chế biến sâu các nông thủy sản xuất khẩu, chuyển
dần sang bao chiếm cả các khâu thiết kế, tiêu thụ sản phẩm may mặc… Bên cạnh đó,
từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành các trụ cột mới cho tăng trưởng theo
chiều sâu.
- Thu hút đầu tư và gia tăng luồng thương mại
Việc đẩy nhanh thành lập AEC giúp nhanh chóng hình thành một thị trường có
không gian sản xuất thống nhất nhằm thu hút đầu tư của các quốc gia lớn vào khối như
Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Châu Âu... Đồng thời, AEC cũng đem đến thuận lợi cho
trình hội nhập kinh tế quốc tế và bước lên được những nấc thang cao hơn của chuỗi giá
trị toàn cầu. Vấn đề đặt ra là phải chuyển đổi cơ cấu sản xuất và xuất khẩu theo hướng
nâng cấp trong chuỗi giá trị.
- Năng lực cạnh tranh quốc gia còn thấp
Việt Nam đã có sự tiến bộ trong cải thiện môi trường kinh doanh, là quốc gia có
mức tăng bậc mạnh nhất, xếp thứ 56 trên bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu
5
2015-2016. Tuy nhiên, những tiến bộ đó vẫn chưa theo kịp sự phát triển của nhiều
quốc gia khác. Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với các
nước trong khu vực còn thấp, chỉ đứng thứ 6, sau Singapore (2), Malaysia (18), Thái
Lan (32), Indonesia (37) và Philippines (47). Năng lực cạnh tranh quốc gia chưa được
cải thiện nhiều, nhất là về thể chế kinh tế, kết cấu hạ tầng và đổi mới công nghệ.2
- Đóng góp của các doanh nghiệp FDI đối với phát triển kinh tế chưa nhiều
Việt Nam đã thu hút được khối lượng lớn FDI. Tuy nhiên, đóng góp của các
doanh nghiệp FDI đối với phát triển kinh tế Việt Nam cũng chưa cao trên nhiều mặt
(chuyển giao công nghệ, phát triển mạng lưới các doanh nghiệp, bảo vệ môi trường...),
nhất là so sánh với các ưu đãi mà khối doanh nghiệp này được hưởng.Tình trạng khối
doanh nghiệp FDI, với nhiều lợi thế hơn doanh nghiệp trong nước (năng lực công
nghệ, tài chính, tiếp cận thị trường xuất khẩu...), chèn ép, gây khó cho doanh nghiệp
trong nước đang là một vấn đề cần được quan tâm..3
Việc khu vực FDI tăng dần tỉ trọng đóng góp vào GDP đã và đang có tác động
đến chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế ở Việt Nam. Song lợi ích của Việt Nam
hiện nay trong thu hút FDI phụ thuộc nhiều vào chất lượng FDI và cần thu hút có chọn
lọc. Nếu Chính phủ Việt Nam khuyến khích đầu tư nước ngoài có trọng điểm, các nhà
đầu tư có công nghệ cao, công nghệ nguồn, có đủ năng lực tài chính đầu tư vào các dự
án có quy mô lớn thì sẽ có tác dụng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và FDI sẽ có
hiệu ứng lan toả lớn. Nếu FDI chỉ nhằm sử dụng nguồn lao động rẻ thì sẽ mất thị
trường nội địa.
nước này bị các nước thành viên TPP khác rút lại những ưu đãi thuế quan đã cam kết.
Ngoài ra, thực tế cho đến nay cho thấy, trong quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam,
các nguy cơ bị “trừng phạt” vì ý đồ chính trị là không hiếm.
3. Khuyến nghị chính sách
Hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để Việt Nam phát triển những ngành nghề
vốn là lợi thế của nước ta cũng như bảo vệ những ngành nghề dễ bị tổn thương khi
không còn được bảo hộ. Khi các FTAs, Hiệp định TPP, AEC đi vào thực tế, đầu ra cho
nông sản sẽ được cải thiện, hàng dệt may sẽ tránh được Trung Quốc và Bangladesh,
đồng thời có cơ hội tiếp cận thị trường tiêu dùng với tư cách là nước thành viên độc
quyền. Đặc biệt, do mục tiêu chính của TPP là giảm thuế, Việt Nam có thể gia tăng
xuất khẩu quần áo, giày dép, hải sản và nhiều mặt hàng khác vốn là thế mạnh của mình
vào các thị trường lớn, đặc biệt là Hoa Kỳ - thị trường lớn nhất trong TPP, mà không
phải cạnh tranh với sản phẩm của một số nước khác (đặc biệt là hàng hóa Trung Quốc).
Tuy nhiên, Việt Nam là một trong những nước kém phát triển nhất trong FTAs, lại nằm
ngoài ASEAN-6 nên có nguy cơ Việt Nam khó đứng vững được trước cạnh tranh và
khó tận dụng được các ưu đãi do không đạt được những yêu cầu khắt khe về sản phẩm.
Do đó, Việt Nam cần ưu tiên phát triển các ngành nghề có trọng điểm, cải cách hành
chính tận gốc và Nhà nước tham gia vào việc tạo đà, hỗ trợ và bảo vệ “người chơi” để
các lợi thế của Việt Nam khi hội nhập quốc tế không bị triệt tiêu.
3.1. Các nhóm ngành trọng điểm cần ưu tiên phát triển
Ngành công nghiệp Dệt May có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế
quốc dân nhằm đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, có điều kiện mở
rộng thương mại quốc tế và mang lại nhiều nguồn thu cho đất nước. Mặc dù được coi
là ngành chủ lực của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng trung bình 14.5% hàng năm,
thuộc hàng cao nhất thế giới nhưng ngành này chưa mang lại giá trị gia tăng cao trong
chuỗi giá trị dệt may toàn cầu và vẫn phải nhập khoảng 60 % nguyên liệu từ bên ngoài.
Do đó, nếu đầu tư vào lĩnh vực này sẽ có nhiều triển vọng thu lợi nhuận cao.
7
quy tắc xuất xứ hay tỷ lệ nội khối tối thiểu của các Hiệp định TPP và Hiệp định thương
mại tự do Việt Nam-EU. Phát triển các khu công nghiệp sinh thái, các cụm ngành công
nghiệp dệt may để phối hợp quản lý tập trung các cơ sở sản xuất trong cùng ngành,
tránh gây ô nhiễm môi trường. Ban hành các chính sách thu hút công nghệ tiên tiến,
5
Nguồn: www.business.gov.vn
8
hiện đại. Cải cách thể chế hành chính, giảm thiểu các thủ tục liên quan đến cấp phép
đầu tư, thuế, hải quan, các thủ tục kiểm tra chuyên ngành dệt may.
- Đối với nhóm ngành điện tử linh kiện, cơ khí, chế tạo:
Lựa chọn phát triển một số sản phẩm trọng điểm đủ để phục vụ thị trường trong
nước, thay thế nhập khẩu. Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong lĩnh vực cơ khí, điện tử.
Nâng cao năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nước để họ có thể tham gia
chuỗi sản xuất toàn cầu. Do đây là nhóm ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian quay
vòng vốn chậm nên cần có sự hỗ trợ của Nhà nước về tiếp cận tài chính, tín dụng dài
hạn với chi phí, lãi suất thấp. Đồng thời, lao động trong nhóm ngành này cũng đòi hỏi
trình độ kỹ thuật cao hơn, do đó cần có cơ chế chính sách đẩy mạnh hoạt động hướng
nghiệp vào các ngành nghề này.
- Đối với ngành nông nghiệp sản xuất lúa gạo và chế biến nông, thủy hải sản:
Phát triển đồng bộ các ngành có liên quan, hỗ trợ nhau để hình thành chuỗi giá
trị khép kín cho các sản phẩm nông, thủy, hải sản. Đổi mới công nghệ và đưa công
nghệ cao vào nông nghiệp, đặc biệt là khâu chế biến để nâng cao giá trị gia tăng của
nông sản. Xây dựng hình ảnh, thương hiệu mới cho sản phẩm nông nghiệp Việt Nam
gắn với chất lượng cao, an toàn thực phẩm và thân thiện với môi trưởng. Thực hiện
nghiêm túc các quy định về ghi nhãn, dán nhãn nguồn gốc nông sản.
Phần 2
Phát triển ngành ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
ngoài trên thị trường trong nước mà không cần nhìn thấy cơ sở hoạt động của họ tại
Việt Nam. Như vậy, khi TPP được ký kết, rõ ràng người tiêu dùng Việt Nam sẽ có
nhiều cơ hội lựa chọn hơn bởi tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ tài chính và ngân
hàng. Tuy nhiên, bối cảnh mới này sẽ đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải sẵn sàng và
chủ động tham gia vào quá trình hội nhập vì khi đó thị trường trong nước không còn
mức bảo hộ cao như trước, các NHTM sẽ phải cạnh tranh khốc liệt hơn không chỉ trên
sân nhà mà còn trên phạm vi toàn cầu.
Bên cạnh việc nới lỏng sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào sân chơi
nội địa, các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng đối mặt với nhiều tiêu chuẩn kỹ
thuật để có thể thực sự tận dụng được những cam kết ưu đãi trong quá trình hội nhập
quốc tế, mở rộng hoạt động ra thị trường khu vực và quốc tế.Trong nội dung về cam
kết hội nhập tài chính, các nước ASEAN đã xây dựng kế hoạch tổng thể chi tiết (AEC
Blueprint) để hỗ trợ và nâng cao nhận thức cho các NHTM và các công ty hoạt động
trong lĩnh vực tài chính trong khu vực nhằm đạt được bốn mục tiêu: (i) tự do hoá dịch
vụ tài chính, (ii) tự do hoá tài khoản vốn, (iii) phát triển và hội nhập các thị trường vốn
và (iv) phát triển các dịch vụ thanh toán. Trong đó, các nước ASEAN đang nỗ lực tìm
ra một khuôn khổ chung cho các ngân hàng đạt chuẩn ASEAN (Qualified ASEAN
Banks – QABs). Theo đó, chỉ những ngân hàng đạt tiêu chuẩn ASEAN mới được phép
mở rộng hoạt động tại các nước thành viên khác và được đối xử như ngân hàng trong
10
nước của nước đó. Trong số các tiêu chí để được cấp chứng nhận QABs có hai yêu cầu
bắt buộc là mức vốn đủ lớn và quản lý tốt. Như vậy, để có thể thực sự tận dụng được
sân chơi chung do cộng đồng AEC tạo ra nói riêng và vươn ra các thị trường rộng lớn
hơn để có thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước khi gia nhập thị trường quốc tế,
bản thân các ngân hàng Việt Nam phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định mà QAB
tạo ra cũng như phải ngày càng tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế nói chung trong hoạt
động ngân hàng.
- Đối với việc đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô nói chung và hiệu quả điều hành
trường hợp khủng hoảng. TPP cũng đề cập đến các trường hợp ngoại lệ trong việc bảo
hộ quyền tự chủ của các nhà quản lý tài chính của các nước TPP, trong đó họ sẽ được
quyền chủ động thực hiện các biện pháp củng cố tính ổn định tài chính và tính thống
nhất của hệ thống tài chính của mình, bao gồm những quy định ngoại lệ mà các quốc
gia thành viên xem xét một cách thận trọng và những quy định ngoại lệ về các biện
pháp không phân biệt đối xử trong quá trình thiết lập và thực thi các chính sách tiền tệ
hay các chính sách khác.
Thứ hai, yêu cầu kết nối hệ thống tài chính ngân hàng và khả năng phát triển cơ
sở hạ tầng theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Theo Kế hoạch tổng thể chi tiết (AEC
Blueprint), các quốc gia cam kết áp dụng các tiêu chuẩn chung để phát triển hiệu quả
tài chính xuyên biên giới; Cải thiện môi trường cơ sở hạ tầng và các khoản thanh toán
hiện hành; Khai thác các tùy chọn của hệ thống thanh toán và giải quyết các mối liên
kết trong ASEAN. Hết năm 2015, xây dựng và phát triển tiêu chuẩn thanh toán và cơ
sở hạ tầng thanh toán, phấn đấu đến năm 2020 hội nhập Hệ thống thanh toán ASEAN.
Hiệp định TPP cũng đề cập đến các cam kết cụ thể về quản lý danh mục đầu tư, các
dịch vụ thẻ thanh toán điện tử và chuyển giao thông tin để phục vụ mục đích xử lý dữ
liệu.
Như vậy, để chủ động và tích cực tham gia các cam kết quốc tế trong lĩnh vực
ngân hàng, việc hoàn thiện và thống nhất hệ thống thanh quyết toán quốc gia theo
chuẩn mực khu vực và quốc tế để có thể thuận lợi tham gia vào cơ sở hạ tầng hệ thống
thanh toán khu vực ASEAN phục vụ các luồng lưu chuyển vốn và hội nhập tài chính,
tập trung vào cả các giao dịch giá trị lớn cũng như các giao dịch cá nhân là yêu cầu đặt
ra đối với NHNN nói riêng cũng như các cơ quan, đơn vị quản lý liên quan.
2. Thành tựu của ngành ngân hàng trong hội nhập
Trong thời gian qua, để chuẩn bị cho việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài
chính ngân hàng nói riêng và hội nhập kinh tế nói chung thông qua các hiệp định FTA,
cũng như việc chính thức gia nhập AEC vào cuối năm 2015, hay sẵn sàng cho việc
thực hiện các kết quả đàm phám khi TPP có hiệu lực, ngành ngân hàng đã luôn chủ
động, tích cực tham gia từ khâu đàm phán, ký kết các văn bản, chính sách cũng như
triển khai các hành động thực tế trong toàn ngành để tạo ra thế và lực mới của hệ thống
nước 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013
quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam. Bên cạnh việc nhấn mạnh tới một nhiệm vụ cơ bản của NHNN là “xây
dựng chỉ tiêu lạm phát hàng năm” thay vì quy định chung chung “xây dựng dự án
chính sách tiền tệ quốc gia”, Nghị định đã bổ sung thêm nhiệm vụ ổn định tiền tệ, tài
chính nhằm phân tích, đánh giá tình hình tiền tệ, tài chính; đề xuất các biện pháp ngăn
ngừa rủi ro có tính hệ thống trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính; và Xây dựng chính sách,
biện pháp ứng phó với khủng hoảng, đảm bảo ổn định hệ thống tiền tệ, ngân hàng, tài
chính.
6
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tương đương trên 150% GDP (2014)
13
Với chức năng nhiệm vụ của mình, NHNN đã kết hợp điều hành hợp lý và khéo
léo chính sách tiền tệ, tỷ giá và quản lý vốn đã thúc đẩy dự trữ ngoại hối gia tăng đáng
kể trong giai đoạn 2012-2014, tạo nguồn lực “vật chất” quan trọng để hỗ trợ ngược trở
lại cho công tác quản lý ngoại hối và ổn định tỷ giá, đóng góp lớn vào việc ổn định
kinh tế vĩ mô tại Việt Nam trong thời gian qua. Điểm đáng chú ý là giai đoạn từ 2012
trở lại đây, chính sách tiền tệ của Việt Nam đạt được sự độc lập cao trong điều kiện tỷ
giá hối đoái ổn định, tự do hóa luồng vốn mở rộng hơn cùng với sự gia tăng đáng kể dự
trữ ngoại hối.
Thứ ba, cơ sở hạ tầng tài chính không ngừng được cải thiện, đáp ứng yêu cầu về
khả năng kết nối (connectivity) trong hội nhập quốc tế về lĩnh vực tài chính ngân hàng.
Trong giai đoạn vừa qua, hệ thống thanh toán và hoạt động thanh toán không
dùng tiền mặt trong nền kinh tế không ngừng được nâng cấp và cải tiến. Để tạo cơ sở
thực hiện những đổi mới trong lĩnh vực này, NHNN đã chủ động triển khai thực hiện
nhiều giải pháp tích cực trong việc hoàn thiện khuôn khổ thể chế liên quan đến hoạt
nhanh chóng, đặc biệt là thị trường thẻ ngân hàng8.
(ii) Về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin: Việc áp dụng các hệ thống
ngân hàng lõi theo chuẩn mực quốc tế đã hỗ trợ nghiệp vụ ngân hàng nhanh chóng,
chính xác và tiết kiệm chi phí lao động. Việc ung dụng dịch vụ ngân hàng điện tử theo
chuẩn mực quốc tế đã cho phép người dùng thực hiện các giao dịch trực tuyến mà
không phải đến tận nơi, thành lập trung tâm quản lý dữ liệu tập trung, các trung tâm hỗ
trợ khách hàng Call Center, hệ thống quản lý quan hệ khách hàng CRM giúp đáp ứng
nhu cầu tốt nhất cho khách hàng, tạo tiện ích tối đa cho khách hàng khi sử dụng dịch
vụ ngân hàng. 9
(iii) Về đổi mới quản trị điều hành: Để hội nhập được với nền kinh tế thế giới,
hầu hết các ngân hàng đều đã chú trọng tăng cường năng lực quản trị, điều hành của
ngân hàng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng trong nước và khu
vực. Thời gian qua, các ngân hàng đã tập trung kiện toàn bộ máy nhân sự chủ chốt,
nhân sự cấp cao để nâng cao chất lượng quản trị, điều hành. Bên cạnh đó, các NHTM
cổ phần đã ý thức rõ ràng hơn về việc nâng cao chất lượng hoạt động thông qua việc
củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị rủi ro, hệ thống kiểm
soát, kiểm toán nội bộ; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các chính sách, quy trình nội bộ,
đặc biệt là cấp tín dụng, đầu tư và huy động vốn. Mặc dù một số NHTM cổ phần còn
bộc lộ những yếu kém trong quản trị, điều hành nhưng trong thời gian qua, nhất là
trong giai đoạn tái cơ cấu ngành ngân hàng, các ngân hàng đã phải tăng cường cơ cấu
Hơn 10 năm về trước, một cột mốc được cho là điểm khởi đầu của thị trường thẻ ngân
hàng Việt Nam. Khi đó, toàn thị trường chỉ có 2 loại thẻ nội địa dùng trên máy ATM là
Connect 24 của Vietcombank và F@st Access của Techcombank với tổng số lượng phát hành
đạt 234 nghìn thẻ nhưng đến cuối năm 2014, số lượng thẻ phát hành đã đạt tới mức 80,39 triệu
thẻ, trong đó, thẻ ghi nợ chiếm tỷ trọng cao nhất (91,54% tổng số thẻ phát hành), tiếp sau là
thẻ trả trước (4,37%) và thẻ tín dụng (4,09%). Nếu tính đến Quý I/2015, tổng số thẻ phát hành
đã tăng lên 86,21 triệu thẻ.
8
vụ Internet banking lúc mới triển khai ở Việt nam chỉ có 3 ngân hàng sau đó tăng dần năm 2007
hưởng của chính sách tiền tệ các nước lớn đến chính sách tiền tệ của nước nhỏ như
Việt Nam để từ đó lựa chọn quan điểm chính sách tiền tệ phù hợp. Thành tựu của
NHNN trong thời gian qua cho thấy chính sách tiền tệ vẫn có thể đạt được trạng thái
độc lập ngay cả với quốc gia nhỏ và mở như Việt Nam. Tuy nhiên, sự kiểm soát đối
với tỷ giá và dòng vốn ở mức độ nhất định vẫn cần thiết để hạn chế những tác động từ
kinh tế quốc tế đến thị trường trong nước trước khi thực hiện tự do hóa hoàn toàn. Bên
cạnh đó, yếu tố quan trọng để đảm bảo sự độc lập này là khả năng chống đỡ của dự trữ
ngoại hối đối với các biến động trên thị trường. Cần tiếp tục thực thi các chính sách
hạn chế đầu cơ, găm giữ ngoại tê và giảm dần mức độ đô la hóa nền kinh tế.
Thứ hai, phát huy vai trò ổn định tài chính, đảm bảo an toàn hệ thống, an ninh
tiền tệ. Ở cấp độ khu vực,việc sớm ký Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương
(TPP) và thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015 không chỉ
tạo điều kiện cho dòng vốn đầu tư gián tiếp vào ra giữa các quốc gia với nhau mà có
Hiện nay đã có 10 ngân hàng đang thực hiện thí điểm Basel II theo yêu cầu của
NHNN. Điều này chứng tỏ những nỗ lực của các ngân hàng trong việc nâng cao hơn nữa năng
lực quản trị cũng như mức độ an toàn, lành mạnh của ngân hàng, nhằm nâng cao khả năng
cạnh tranh trên thị trường
10
16
còn có thể khuếch đại những rủi ro nội tại của nền kinh tế. Trong xu thế hội nhập hiện
nay, việc nhận diện và giám sát rủi ro hệ thống tài chính là yêu cầu thiết yếu đối với
mọi quốc gia, nhất là với các nước đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường. Ở Việt Nam, trong thời gian tới, cần tăng cường chuẩn hoá và
tiếp cận chuẩn mực quốc tế về an toàn tài chính; đồng thời, tiếp tục hoàn thiện cấu trúc
thể chế và đẩy mạnh sự phối hợp hoạt động của các cơ quan giám sát tài chính nhằm
ngày càng cải thiện chất lượng giám sát và giảm thiểu các rủi ro hệ thống tài chính.
Thứ ba, củng cố năng lực hệ thống thanh toán quốc gia trong việc đảm bảo
ngân hàng Việt Nam trong một vài năm tới nhằm làm sạch bảng tổng kết tài sản, lành
mạnh hoá tình hình tài chính, tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển mới.
- Hai là phải nâng cao năng lực tài chính, tăng vốn chủ sở hữu. Các NHTM Việt
Nam cần phải xây dựng lộ trình và thực hiện tăng quy mô vốn tự có, cải thiện hệ số an
toàn vốn theo tiêu chuẩn Basel II.
- Ba là phải nâng cao năng lực quản trị, đặc biệt là quản trị rủi ro. Các NHTM
cần phải thực hiện cơ cấu lại, chuyển đổi mô hình tổ chức theo hướng tập trung và
chuyên môn hoá. Bên cạnh đó phải dần áp dụng các thông lệ tốt nhất trong quản trị rủi
ro, trước mắt là tuân thủ Basel II.
Theo đó, từng bước đạt được các yêu cầu về năng lực tài chính và quản trị tiến
tới tiêu chuẩn ngân hàng khu vực ASEAN (QABs), tạo cơ sở cho việc hình thành 2-3
ngân hàng lớn có sức cạnh tranh và tầm ảnh hưởng trong khu vực.
Thứ hai, phải tích cực chuyển dịch cơ cấu hoạt động và tìm cách xuất khẩu dịch
vụ ngân hàng.Sự phát triển của sản phẩm dịch vụ ngân hàng trong những năm gần đây
đã cho thấy sự năng động của hệ thống TCTD trong việc khai thác và phát triển sản
phẩm, đa dạng hóa đồng thời cá biệt hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đến từng
nhóm khách hàng mục tiêu. Thông qua đó, đã phát triển một hệ thống dịch vụ ngân
hàng đa dạng, hướng theo nhu cầu của nền kinh tế. Nhiều dịch vụ ngân hàng hiện đại,
nhất là các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt dựa trên nền tảng công nghệ cao đã
tiến kịp với trình độ phát triển của các nước trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên, để có
thể nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động cung cấp dịch vụ trong bối cảnh hội
nhập, các NHTM cần nỗ lực hơn nữa để:
- Tăng tỷ trọng đóng góp của hoạt động bán lẻ, của thu nhập từ hoạt động dịch
vụ nói riêng và thu nhập phi lãi nói chung trong cơ cấu thu nhập. Đó là xu hướng tất
yếu cho sự phát triển bền vững của NHTM. Bên cạnh đó phải nỗ lực tăng trưởng các
mặt hoạt động nhằm cải thiện các chỉ số hiệu quả, đồng thời kiểm soát chặt chẽ chất
lượng tài sản và đảm bảo các tỷ lệ an toàn hoạt động.
- Phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Với năng lực tài chính và quản trị hiện tại, hiện nay các NHTM Việt Nam mới chỉ tập
trung phục vụ các doanh nghiệp trong nước hoạt động tại một số thị trường như Lào,