MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết lập quy hoạch
Hà Giang là tỉnh núi cao, biên giới nằm ở cực Bắc Việt Nam. Theo Chiến
lược và Quy hoạch Tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
2030, Hà Giang thuộc vùng Du lịch Trung du, miền núi Bắc Bộ (TDMNBB). Hà
Giang được nhìn nhận là một trong những địa phương có nhiều tiềm năng và lợi
thế phát triển du lịch và giữ vị trí quan trọng đối với phát triển du lịch vùng và cả
nước.
Hà Giang có nền văn hoá lâu đời thuộc niên đại đồ đồng Đông Sơn với các di
tích người tiền sử ở Bắc Mê, Mèo Vạc, thành phố Hà Giang.v.v…Đây cũng là nơi
có 19 dân tộc cùng sinh sống, với nhiều phong tục tập quán, văn hoá truyền thống
và những lễ hội sinh động, hấp dẫn du khách đến tham quan, tìm hiểu. Bên cạnh
đó, Hà Giang được thiên nhiên ưu đãi với cảnh quan hùng vĩ, độc đáo của những
dãy núi cao đá tai mèo ở phía Bắc và những cánh rừng bạt ngàn ở phía Nam.
Nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng như núi đôi Quản
Bạ, cổng Trời, cột cờ Lũng Cú, đèo Mã Pì Lèng, thác Tiên - Đèo gió, suối khoáng
Quảng Ngần, khu Nậm Má, khu chum Vàng - chum Bạc, bãi đá cổ Nấm Dẩn và di
tích kiến trúc nghệ thuật nhà họ Vương…từ lâu đã rất hấp dẫn khách du lịch đến
tham quan, nghiên cứu.
Đặc biệt, năm 2010 Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn được
UNESCO công nhận là thành viên của mạng lưới CVĐC toàn cầu; năm 2012,
ruộng bậc thang Hoàng Su Phì được công nhận là di tích danh thắng Quốc gia đã
trở thành những tài nguyên du lịch giá trị.
Trên cơ sở những lợi thế đó, năm 2003, Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch
Hà Giang giai đoạn đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã được UBND tỉnh
phê duyệt với các nội dung quan trọng làm cơ sở để triển khai chỉ đạo, quản lý các
hoạt động của ngành du lịch trên phạm vi toàn tỉnh.
Nội dung quy hoạch đã có những định hướng quan trọng phát triển du lịch
tỉnh thời gian qua. Cùng với tiến trình phát triển của du lịch cả nước, du lịch tỉnh
Hà Giang đã đạt được những thành tựu đáng kể, có những đóng góp nhất định
trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và đối với sự phát triển du lịch cả nước.
Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn
tạo và phát huy các giá trị di sản Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng
Văn giai đoạn 2012 - 2020, tầm nhìn đến 2030.
Đây là những cơ sở quan trọng cho tỉnh Hà Giang lập quy hoạch phát triển
ngành trên quy mô toàn tỉnh phù hợp với tiến trình phát triển chung.
Trước bối cảnh và xu hướng đó, ngành Du lịch Hà Giang cần thiết phải được
định hướng quy hoạch phát triển với tầm nhìn dài hạn và mang tính đột phá để làm cơ
sở xây dựng các chương trình, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch tỉnh phù hợp
với giai đoạn phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Do đó, việc
lập Quy hoạch Tổng thể phát triển Du lịch Hà Giang đến năm 2020, định hướng
đến năm 2030 là cần thiết và cấp bách.
2. Căn cứ lập quy hoạch
Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Hà Giang đến năm 2020, định hướng
đến năm 2030 được nghiên cứu dựa trên các căn cứ chủ yếu sau:
- Luật Du lịch Việt Nam số 44/2005/QH11 ngày 14/6/2005;
- Luật Di sản văn hoá số 28/2001/QH10 ngày 29/6/2001 và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Di sản văn hóa số 32/2009/QH12 ngày 18/6/ 2009;
- Luật Biên giới Quốc gia số 06/2003/QH11 ngày 17/6/2003;
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng số2 9/20 04 /Q H 11 ngày 03/12/2004;
- Luật Bảo vệ môi trường số 5 2 /2 0 05 /QH 1 1 ngày 29 /1 1 /2 00 5 ;
- Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH 12 ngày 17/6/2009;
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG 2030
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 58 Kim Mã, Hà Nội, Tel. 043 73 43 131; FAX: 04 3 84 89 377
2
- Luật 38/2009/QH12 ngày 19/6/2009 về sửa đổi bổ sung một số điều của các
luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản;
- Nghị quyết 37 ngày 1/7/2004 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội,
Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020;
- Thông tư 01/2007/TT-BKH ngày 7/2/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP;
- Thông tư 03/2008/TT-BKH ngày 01/7/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 04/2008/NĐ-CP;
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG 2030
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 58 Kim Mã, Hà Nội, Tel. 043 73 43 131; FAX: 04 3 84 89 377
3
- Nghị quyết số 01-NQ/TU, ngày 10/4/2006 của BCH Đảng bộ tỉnh Hà
Giang về đẩy mạnh phát triển du lịch đến năm 2015;
- Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XV;
- Quyết định 2421/QĐ - UB ngày 11/9/2003 của ỦY ban nhân dân tỉnh Hà
Giang về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch đến năm 2010 và
định hướng đến năm 2020;
- Chương trình hành động số 36/Ctr - UBND ngày 07/02/2013 của UBND
tỉnh Hà Giang V/v thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân
sách nhà nước năm 2013;
- Chương trình số 62 - CTr/TU ngày 29/3/2013 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về
phát triển Văn hóa gắn với Du lịch giai đoạn 2013 – 2020;
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Giang, các huyện,
thành phố Hà Giang và quy hoạch của các ngành có liên quan tại địa phương;
- Niên giám thống kê tỉnh Hà Giang các năm 2010, 2011 và 2012;
- Thực tế và tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Hà Giang;
- Quyết định 1313/QĐ-UBND ngày 05/7/2013 của UBND tỉnh Hà Giang V/v
phê duyệt đề cương, dự toán Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Hà Giang
đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
- Một số văn bản và tài liệu khác có liên quan.
huy thế mạnh, tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù góp phần đưa Du lịch Hà Giang phát
triển ngang tầm khu vực.
4. Giới hạn, phạm vi lập quy hoạch
4.1. Giới hạn về không gian: Theo địa giới hành chính tỉnh Hà Giang với
diện tích tự nhiên 7.914,8892 km2, dân số 763.503 người, mật độ dân số 96,5
người/km2 (Số liệu Niên giám thống kê Hà Giang năm 2012).
4.2. Giới hạn về thời gian: Số liệu đánh giá hiện trạng giai đoạn 2000 - 2012,
trong đó tập trung đánh giá giai đoạn 2006 - 2012; Dự báo và Quy hoạch giai đoạn
2013 - 2020, định hướng đến năm 2030.
5. Nhiệm vụ và nội dung quy hoạch
Căn cứ điều 19, Luật Du lịch, nhiệm vụ và nội dung Quy hoạch Tổng thể phát
triển Du lịch tỉnh Hà Giang bao gồm:
5.1. Rà soát, đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch Du lịch tỉnh Hà Giang
giai đoạn 2001 - 2012 (chủ yếu 2006 – 2012);
5.2. Xác định vị trí, vai trò và lợi thế phát triển Du lịch Hà Giang trong phát triển
kinh tế - xã hội địa phương, vùng và quốc gia;
5.3. Phân tích, đánh giá tiềm năng, hiện trạng tài nguyên du lịch, thị trường du
lịch và các nguồn lực phát triển du lịch;
5.4. Xác định quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch, dự báo các chỉ tiêu và
luận chứng các phương án phát triển du lịch;
5.5. Tổ chức không gian du lịch; kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du
lịch;
5.6. Xác định các khu vực ưu tiên đầu tư, đề xuất danh mục các dự án ưu tiên
đầu tư (về quy mô, nhu cầu vốn…) ; nhu cầu sử dụng đất làm cơ sở xây dựng các
quy hoạch chi tiết và các dự án nhằm thu hút vốn đầu tư ở trong và ngoài nước về
phát triển du lịch;
5.7. Đánh giá tác động môi trường và đề xuất xuất một số giải pháp bảo vệ tài
nguyên và môi trường du lịch;
5.8. Đề xuất các cơ chế, chính sách, giải pháp quản lý, phát triển du lịch theo
quy hoạch.
hướng đến năm 2030;
7.3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện quy hoạch.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG 2030
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 58 Kim Mã, Hà Nội, Tel. 043 73 43 131; FAX: 04 3 84 89 377
6
PHẦN THỨ NHẤT
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG
I. ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG
1. Tài nguyên du lịch
1.1. Điều kiện tự nhiên và tà nguyên du lịch tự nhiên
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý: Hà Giang là tỉnh miền núi biên giới ở cực Bắc của Tổ quốc, có
vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh.
Tỉnh Hà Giang có ranh giới phía Bắc và Tây Bắc giáp hai tỉnh Vân Nam và Quảng
Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với đường biên giới dài hơn 277,556 km;
phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng; phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang; phía Tây và Tây
Nam giáp các tỉnh Lào Cai và Yên Bái.
Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.914,8892 km2, trong đó theo đường chim
bay, chỗ rộng nhất từ Tây sang Đông dài 115 km và từ Bắc xuống Nam dài 137
km. Tại điểm cực Bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực Bắc của Tổ quốc,
cách Lũng Cú chừng 3 km về phía Đông, có vĩ độ 23013'00"; điểm cực Tây cách
Xín Mần khoảng 10 km về phía Tây Nam, có kinh độ l04024'05"; mỏm cực Đông
cách Mèo Vạc 16 km về phía Đông - Đông Nam có kinh độ l05030'04". Thành phố
tỉnh lỵ Hà Giang cách thủ đô Hà Nội theo Quốc lộ 2 khoảng 318 km.
Vị trí địa lý đã tạo điều kiện thuận lợi để Hà Giang nhiều khả năng liên kết
Đồng Văn tới Vị Xuyên. Nhưng ở khu vòm nâng sông Chảy các núi đá vôi lại
phân bố hơi khác, theo hành lang Đông Bắc - Tây Nam và dường như theo đường
thẳng. Nét chung đáng chú ý trong quần thể núi non ở Hà Giang đều có hướng
Đông Bắc - Tây Nam, tạo ra đường phân thuỷ chính của toàn tỉnh Hà Giang. Về
hai phía Tây Bắc và Đông Nam của hành lang, các dãy núi giảm dần độ cao. Một
số sông suối lớn của tỉnh đều bắt nguồn từ đường phân thuỷ này rồi chảy về hai
phía Tây Bắc và Đông Nam.
Địa hình hùng vĩ, đa dạng và hiểm trở đã tạo cho Hà Giang nét độc đáo và
nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú, có giá trị.
c) Khí hậu: Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, khí hậu Hà
Giang về cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn,
nhưng cũng có những đặc điểm riêng, mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc,
ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc.
Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21,60C - 23,90C, biên độ nhiệt trong năm
có sự dao động trên 100C và trong ngày cũng từ 60C - 70C. Mùa nóng nhiệt độ cao
tuyệt đối lên đến 400C (tháng 6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là
2,20C (tháng l).
Chế độ mưa ở Hà Giang khá phong phú. Toàn tỉnh đạt bình quân lượng mưa
hàng năm khoảng 2.300 - 2.400 mm, riêng Bắc Quang hơn 4.000 mm, là một trong
số trung tâm mưa lớn nhất nước ta. Dao động lượng mưa giữa các vùng, các năm
và các tháng trong năm khá lớn. Năm 2001, lượng mưa đo được ở trạm Hà Giang
là 2.253,6 mm, Bắc Quang là 4.244 mm, Hoàng Su Phì là 1.337,9 mm... Tháng
mưa cao nhất ở Bắc Quang (tháng 6) có thể đạt trên 1.400 mm, trong khi đó lượng
mưa tháng 12 ở Hoàng Su Phì là 3,5 mm, ở Bắc Mê là 1,4 mm.
Độ ẩm bình quân hàng năm ở Hà Giang đạt 85% và dao động cũng không
lớn. Thời điểm cao nhất (các tháng 6,7,8) khoảng 87% - 88%, thời điểm thấp nhất
(các tháng l,2,3) khoảng 81%: Đặc biệt ở đây ranh giới giữa mùa khô và mùa mưa
không rõ rệt. Hà Giang là tỉnh có nhiều mây (lượng mây trung bình khoảng 7,5/10,
cuối mùa đông lên tới 8 - 9/10) và tương đối ít nắng (cả năm có 1.427 giờ nắng,
tháng nhiều là 181 giờ, tháng ít có 74 giờ).
sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn nhỏ cung
cấp nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư.
Các sông ở Hà Giang kết hợp địa hình đa dạng tạo nên nhiều điểm cảnh quan
đẹp thích hợp với loại hình du lịch thể thao mạo hiểm.
e) Tài nguyên đất: Trong 791.488,92 ha diện tích đất tự nhiên, đất nông
nghiệp có 152.606,92 ha, chiếm 18,28% diện tích tự nhiên, đất lâm nghiệp có
548.173,9 ha, chiếm 69,26%, đất chuyên dùng có 12.723,81 ha, chiếm 1,61%, còn
lại là đất ở có 6.761,41 ha, chiếm 0,95% (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà
Giang năm 2012). Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng, toàn tỉnh có 9 nhóm đất
chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám rất thích hợp để trồng các loại cây công
nghiệp, cây dược liệu và cây ăn quả.
g) Tài nguyên rừng: Hà Giang là một trong những địa phương có diện tích
rừng tương đối lớn với diện tích đất lâm nghiệp là 566.723,4 ha, trong đó rừng đặc
dụng có 50.994 ha, rừng phòng hộ 255.053,9 ha, rừng sản xuất 260.675,5 ha.
Trong diện tích rừng sản xuất thì đất có rừng chiếm 196.848,9 ha, đất chưa có rừng
63.826,6 ha.
Rừng đặc dụng Hà Giang gồm 6 khu bảo tồn thiên nhiên là Tây Côn Lĩnh,
Phong Quang, Du Già, Bát Đại Sơn, Bắc Mê, Khau Ca.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG 2030
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 58 Kim Mã, Hà Nội, Tel. 043 73 43 131; FAX: 04 3 84 89 377
9
Thực vật rừng ở Hà Giang mang đặc trưng của thực vật đặc hữu khu hệ đệ
tam Nam Trung Hoa - Bắc Việt Nam. Kết quả thống kê gần đây cho thấy khu hệ
thực vật tỉnh Hà Giang có 175 họ thuộc 5 ngành thực vật bậc cao có mạch gồm các
họ Dâu tằm, Dẻ, Đậu, Long não…Ngoài ra còn một số loài cây thuộc dòng đặc
hữu Malaysia, Indonexia di cư đến như Chò chỉ, Chò nâu, Táu…Hệ động vật có
xương sống đã thống kê được 76 loài thú thuộc 24 họ, 8 bộ; 241 loài chim thuộc 50
Văn), thác Thuý (huyện Bắc Quang), thác Tiên (huyện Xín Mần), v.v…là nguồn tài
nguyên du lịch tự nhiên có giá trị.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG 2030
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 58 Kim Mã, Hà Nội, Tel. 043 73 43 131; FAX: 04 3 84 89 377
10
Các đỉnh núi cao như Tây Côn Lĩnh cao 2.419 m, Chiêu Lầu Thi cao 2.402 m
so với mặt nước biển là những mục tiêu để khách du lịch chinh phục, khám phá,
thể thao mạo hiểm.
Đặc biệt, Hà Giang có Cao nguyên đá Đồng Văn được tổ chức GGN công
nhận là thành viên mạng lưới “Công viên địa chất Toàn cầu” năm 2010, được
Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm
nhìn 2030 định hướng phát triển thành Khu du lịch Quốc gia đang trở thành điểm
đến hấp dẫn của khách du lịch và trở thành tài nguyên du lịch có giá trị đặc biệt.
Tài nguyên hồ, sông, suối: Các sông như sông Lô, sông Chảy, sông Gâm,
sông Nho Quế, sông Miện, sông Chừng.v.v… có cảnh quan đẹp, mang lại giá trị về
du lịch tham quan và thể thao mạo hiểm. Các hồ tự nhiên và nhân tạo như hồ
Quang Minh (huyện Bắc Quang), hồ thủy điện Na Hang (huyện Bắc Mê), hồ thủy
điện Nậm An (huyện Bắc Quang) đều có giá trị khai thác du lịch sinh thái hồ.
Tài nguyên hang động: Hang động cũng là dạng tài nguyên đặc biệt của Hà
Giang. Hệ thống hang động ở Hà Giang được phân bố hầu hết các huyện trên địa
bàn tạo tiền đề tổ chức các tuyến du lịch tham quan hang động.
Tài nguyên về đa dạng sinh học: Hà Giang có diện tích rừng tương đối lớn,
với nhiều sản vật quý hiếm nhiều khu rừng nguyên sinh chưa được khai thác, môi
trường sinh thái trong lành và chứa đựng nhiều tiềm ẩn kỳ thú. Các khu bảo tồn
như Tây Côn Lĩnh, Phong Quang, Du Già, Bát Đại Sơn, Bắc Mê, Khau Ca, rừng
nguyên sinh đèo Gió - thác Tiên; các danh thắng như núi Cô Tiên, cổng Trời là
cửa khẩu chính nối giữa tỉnh Hà Giang (Việt Nam) với tỉnh Vân Nam (Trung
Quốc) và một số cặp cửa khẩu đường bộ khác như Phó Bảng, Bạch Đích, Xín Mần,
Săm Pun, Sơn Vĩ… Đây là tiềm năng phát triển du lịch biên giới của du lịch Hà
Giang nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung.
b) Các điểm tài nguyên du lịch nổi bật: Các yếu tố tự nhiên Hà Giang được
thể hiện tại những điểm tài nguyên du lịch nổi bật gồm:
* Danh thắng Cột cờ Lũng Cú (huyện Đồng Văn)
+ Vị trí: Thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn là điểm Cực Bắc của Tổ quốc
(22 13 ' vĩ độ Bắc) cách trung tâm huyện lỵ Đồng Văn 24 km. Nằm trong không
gian CVĐCTCCNĐ Đồng Văn.
0
+ Đặc điểm chung: Cột cờ Lũng Cú nằm ở độ cao trung bình 1.600m so với
mặt biển, đứng trên đỉnh có thể nhìn bao quát quang cảnh với một vùng cảnh quan
rất đẹp và hùng vĩ. Ngoài ra đây còn là điểm tâm linh đối với du khách lần đầu lên
đến được điểm đầu Cực bắc tổ quốc lòng tự hào của dân tộc Việt Nam.
+ Khả năng khai thác: Điểm tham quan du lịch, dừng chân, vọng cảnh, xây
dựng hệ thống lưu lại dấu ấn vân tay của khách tại cột cờ thiêng liêng nhằm tăng
cảm hứng cho du khách.
* Cổng trời Quản Bạ (huyện Quản Bạ)
+ Vị trí: Thuộc huyện Quản Bạ, cách thành phố Hà Giang 43 km. Nằm trong
không gian CVĐCTCCNĐ Đồng Văn.
+ Đặc điểm: Là cửa ngõ của Cao nguyên đá Đồng Văn. Với độ cao từ 900 m 1.200 m có thể quan sát toàn bộ vùng lân cận.
+ Khả năng khai thác: Điểm dừng chân, vọng cảnh.
* Núi đôi Quản Bạ (huyện Quản Bạ)
+ Vị trí: Thuộc thị trấn Tam Sơn, huyện Quản Bạ, cách thành phố Hà Giang
khoảng 47 km, trên quốc lộ 4C. Nằm trong không gian CVĐCTCCNĐ Đồng Văn.
+ Đặc điểm: "Núi đôi","Núi cô tiên" hay còn gọi là "Thạch nhũ đôi” là kiệt
tác của thiên nhiên về cảnh quan.
+ Khả năng khai thác: Điểm tham quan du lịch, vọng cảnh.
và văn hóa bản địa mang dấu ấn đặc trưng của du lịch Hà Giang.
* Thác Tiên - Đèo Gió (huyện Xín Mần)
+ Vị trí: Nằm trong trung tâm rừng nguyên sinh Đèo Gió, cách trung tâm xã
Nấm Dẩn, huyện Xín Mần 10 km.
+ Đặc điểm: Là hệ thống thác nước lớn nhất của tỉnh Hà Giang, có lưu lượng
nước khá ổn định, độ cao lớn và dòng chảy xối xả tạo nên khung cảnh hấp dẫn
giữa rừng già tự nhiên. Thác Tiên gắn với Đèo Gió là di tích danh thắng cấp quốc
gia.
+ Khả năng khai thác: Điểm dừng chân, tham quan du lịch, dã ngoại, thể thao
mạo hiểm, cắm trại, nghỉ dưỡng.
* Núi Cấm (thành phố Hà Giang)
+ Vị trí: Thuộc phường Nguyễn Trãi, thành phố Hà Giang.
+ Đặc điểm: Là quần thể điểm cảnh quan đẹp với chùa Cấm Sơn.
+ Khả năng khai thác: Điểm du lịch sinh thái, tâm linh.
* Thác Thúy (huyện Bắc Quang)
+ Vị trí: Thuộc thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG 2030
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 58 Kim Mã, Hà Nội, Tel. 043 73 43 131; FAX: 04 3 84 89 377
13
+ Đặc điểm: Là thác nước có cảnh quan đẹp với độ cao trên 150 m và chiều
rộng trên 50 m và vị trí dễ tiếp cận.
+ Khả năng khai thác: Điểm tham quan du lịch, dã ngoại, cắm trại.
* Hồ thủy điện Na Hang
+ Vị trí: Thuộc huyện Bắc Mê của Hà Giang, huyện Na Hang tỉnh Tuyên
Quang và huyện Ba Bể của Bắc Kạn.
+ Đặc điểm: Hồ rộng từ 6.000 ha – 8.000 ha. Lòng hồ có các ốc đảo lớn, nhỏ
với những vách đá dựng đứng, dưới chân núi là những hang động với những nhũ
cửa khẩu Quốc gia.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG 2030
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 58 Kim Mã, Hà Nội, Tel. 043 73 43 131; FAX: 04 3 84 89 377
14
+ Khả năng khai thác: là điểm khai thác tham quan, du lịch thương mại, du
lịch quá cảnh.
Ngoài ra có thể đánh giá các điểm tài nguyên tự nhiên như hồ Quang Minh,
suối Sảo (huyện Bắc Quang); núi Gia Long, suối nước nóng Quảng Nguyên (huyện
Xín Mần); các đỉnh cao Tây Côn Lĩnh, Chiêu Lầu Thi (huyện Hoàng Su
Phì).v.v…đều có giá trị phục vụ du lịch.
1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn
1.2.1. Điều kiện kinh - tế xã hội
a) Lịch sử hình thành: Vào thời Hùng Vương, mảnh đất Hà Giang đã là một
trong 15 bộ của quốc gia Lạc Việt. Thời Thục Phán An Dương Vương lập nước Âu
Lạc, Hà Giang thuộc bộ lạc Tây Vu.
Trong thời kỳ đô hộ của phong kiến phương Bắc kéo dài nghìn năm, khu vực
Hà Giang vẫn nằm trong địa phận huyện Tây Vu thuộc quận Giao Chỉ.
Từ đời Lý (1075) miền đất Hà Giang thuộc về châu Bình Nguyên.
Vào đầu đời Trần, khu vực Hà Giang, Tuyên Quang lúc đó gọi là châu Tuyên
Quang thuộc lộ Quốc Oai. Năm 1397 đổi thành trấn Tuyên Quang.
Địa danh Hà Giang lần đầu tiên được nhắc đến trong bài minh khắc trên
chuông chùa Sùng Khánh (xã Đạo Đức, Vị Xuyên), được đúc nhân dịp trùng tu
chùa vào đầu thời Vua Lê Dụ Tông, năm Ất Dậu 1707.
Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), nhà Nguyễn bỏ châu Bảo Lạc, chia làm hai
huyện: Vĩnh Điện (khoảng Bắc Mê, Yên Minh và một phần Quản Bạ ngày nay và
huyện Để Định (khoảng huyện Bảo Lạc, Cao Bằng và một phần Đồng Văn, Mèo
Vạc ngày nay). Lấy sông Lô phân giới để chia châu Vị Xuyên thành hai đơn vị
binh thứ ba Hà Giang đã được xác định ranh giới rõ ràng và ổn định.
Trước cách mạng tháng tám năm 1945, Hà Giang có 4 châu và 1 thị xã (Bắc
Quang, Vị Xuyên, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, thị xã Hà Giang).
Ngày 23/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh giải tán Khu Lao - Hà Yên, sáp nhập tỉnh Hà Giang vào Khu tự trị Việt Bắc.
Đầu tháng 4/1976, tỉnh Hà Tuyên được thành lập trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh
Hà Giang và Tuyên Quang.
Ngày 12/8/1991, tại kỳ họp thứ 9, khoá VIII, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định chia tỉnh Hà Tuyên thành hai tỉnh Hà Giang và
Tuyên Quang. Tỉnh Hà Giang được tái lập gồm 10 đơn vị hành chính là thị xã Hà
Giang và 9 huyện, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Hà Giang.
Ngày 01/12/2003, Chính phủ ra nghị định số 146/NĐ-CP về việc thành lập
huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
Ngày 27/9/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP
về việc thành lập thành phố Hà Giang thuộc tỉnh Hà Giang.
Đến nay, Hà Giang có 10 huyện và một thành phố, với 195 xã, phường, thị
trấn. Thành phố Hà Giang là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của tỉnh. Trong
số 11 huyện, thành phố, hiện vẫn còn 6 huyện trong đó có 4 huyện vùng cao núi
đá phía Bắc (bao gồm Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ) thuộc khu vực
CVĐCTCCNĐ Đồng Văn nằm trong diện các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a
của Chính phủ ngày 27 tháng 12 năm 2008.
b) Dân cư, dân tộc:
- Dân cư: Dân số Hà Giang đến năm 2012 có gần 76,4 vạn người. Dân cư
phân bố không đều. Nơi tập trung đông nhất là thành phố Hà Giang với 382,1
người/km2, thấp nhất là huyện Bắc Mê với 60 người/km2. Dân cư chủ yếu tập trung
ở các đô thị và các thị trấn (Xem phụ lục 1).
- Dân tộc: Hà Giang có 19 dân tộc anh em cùng sinh sống với các nhóm ngôn
ngữ khác nhau: Tày - Thái, Mông - Dao, Việt - Mường, Hoa, Tạng - Miến...Mỗi
dân tộc đều có nét văn hoá đặc trưng riêng. Trong số 19 dân tộc đông nhất là các
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG 2030
chẽ đến nguồn gốc của từng dân tộc nhưng nhìn chung trong nghi lễ tang ma của
đồng bào còn sử dụng rất nhiều nhạc cụ và các lời ca, điệu múa để tiễn đưa người
chết về thế giới bên kia...
Cuộc sống đang từng ngày đổi thay trên mảnh đất Hà Giang. Các làng bản,
thôn xóm của đồng bào ở đây đã có một diện mạo tươi mới hơn. Vẫn là những
ngôi nhà sàn, nhà trình tường truyền thống của đồng bào nhưng đường làng, ngõ
xóm đã được xây lát sạch sẽ, khang trang. Lưu giữ và phát huy những giá trị truyền
thống của dân tộc trong một cuộc sống mới tiến bộ hơn chính là nội dung xuyên
suốt trong các bản hương ước, quy ước của mỗi thôn xóm, làng bản các dân tộc ở
Hà Giang.
Những giá trị văn hóa truyền thống chính là mạch nguồn nuôi sống dân tộc
đó. Bởi vậy, dù trải qua không ít gian khó, cuộc sống đã có nhiều đổi thay nhưng
đồng bào các dân tộc ở Hà Giang vẫn trân trọng và lưu giữ những phong tục tập
quán tốt đẹp của dân tộc mình. Chính điều đó đã tạo nên bản sắc độc đáo cho vùng
đất này, tạo nên sự cuốn hút đối với du khách mỗi lần đến với Hà Giang.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG 2030
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 58 Kim Mã, Hà Nội, Tel. 043 73 43 131; FAX: 04 3 84 89 377
17
c) Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội: Trong giai đoạn 5 năm từ 2006 - 2010,
mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng nền kinh tế tỉnh Hà Giang đã phát triển ổn định
với tốc độ tăng trưởng cao, qua đó dần thu hẹp khoảng cách so với mức trung bình
của cả nước. Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội cụ thể là: Tốc độ tăng trưởng
GDP đạt bình quân 12,45%. Cơ cấu kinh tế: Dịch vụ, thương mại chiếm 39% (tăng
4%); Công nghiệp xây dựng chiếm 29% (tăng 4,4%); Nông, lâm nghiệp chiếm
32% (giảm 9,1%). Thu nhập bình quân đầu người 7,5 triệu đồng; Giá trị sản xuất
công nghiệp đạt khoảng 1.005,8 tỷ đồng (tăng 3,2 lần so với 2005); Tổng mức lưu
chuyển hàng hóa đạt khoảng 2.530 tỷ đồng (tăng 2,3 lần so với 2005); Giá trị hàng
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG 2030
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 58 Kim Mã, Hà Nội, Tel. 043 73 43 131; FAX: 04 3 84 89 377
18
Chính vì vậy, đến nay, đời sống của đại bộ phận nhân dân vẫn hết sức khó
khăn, thu nhập bình quân đầu người về lương thực mới đạt 487 kg/người/năm và
thu nhập về tiền mới đạt 12,98 triệu đồng/người/năm (khoảng 600 USD, mới xấp
xỉ 1/2 so với bình quân chung của cả nước). Tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí giai đoạn
2011 - 2015) vẫn còn rất cao, trên 30,13%.
Với việc một phần ba lãnh thổ của tỉnh được UNESCO công nhận là Công
viên địa chất toàn cầu, đòi hỏi một mô hình phát triển mới không chỉ đối với khu
vực CVĐCTCCNĐ Đồng Văn mà còn đối với cả tỉnh Hà Giang.
1.2.2.Tài nguyên du lịch nhân văn: Tài nguyên du lịch nhân văn Hà Giang
gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử,
cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và
các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác trên mảnh đất Hà Giang có thể được sử
dụng phục vụ mục đích du lịch.
Tài nguyên du lịch nhân văn được đánh giá chủ yếu thông qua hệ thống các di
tích lịch sử - văn hóa, lễ hội, làng nghề, ẩm thực.v.v…
a) Các di tích lịch sử, văn hoá: Hà Giang là vùng đất giàu truyền thống lịch
sử. Trong lịch sử đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, Hà Giang luôn là "phên dậu", là "trấn
biên" bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ở biên giới phía Bắc. Quá trình lịch sử đó đã để lại
trên mảnh đất này nhiều di tích lịch sử văn hoá có giá trị như:
- Di tích lịch sử Căng Bắc Mê, xã Yên Phú, huyện Bắc Mê được xếp hạng
quốc gia năm 1992.
- Kỳ đài Quảng trường 26/3, thành phố Hà Giang được xếp hạng quốc gia
năm 1993.
- Di tích kiến trúc nghệ thuật khu nhà dòng họ Vương, xã Xà Phìn, huyện
không gian CVĐCTCCNĐ Đồng Văn.
+ Đặc điểm: Là công trình kiến trúc nghệ thuật hiếm có và rất độc đáo gắn
với lịch sử vùng đất cao nguyên đá.
+ Khả năng và hướng khai thác: Điểm tham quan du lịch trong lòng Công
viên địa chất Toàn cầu.
* Phố cổ Đồng Văn
+ Vị trí: Thị trấn Đồng Văn, huyện Đồng Văn. Nằm trong không gian
CVĐCTCCNĐ Đồng Văn.
+ Đặc điểm: Khu phố cổ được hình thành và xây dựng từ đầu thế kỷ XX là hệ
thống công trình kiến trúc nghệ thuật kết hợp với các sinh hoạt văn hóa vùng cao
như đêm phố cổ, chợ phiên…được xếp hạng quốc gia năm 1993
+ Khả năng và hướng khai thác: Điểm tham quan du lịch, vui chơi giải trí, ẩm
thực trong lòng Công viên địa chất Toàn cầu.
* Chùa Nậm Dầu
+ Vị trí: Chùa Nậm Dầu thuộc địa phận thôn Ngọc Thanh, xã Ngọc Linh, huyện
Vị Xuyên.
+ Đặc điểm: Là ngôi chùa cổ thời nhà Trần, di tích khảo cổ được công nhận di
tích cấp quốc gia năm 2009.
+ Khả năng và hướng khai thác: là điểm du lịch văn hóa, tâm linh.
Ngoài ra có thể đánh giá các di tích như đền Mẫu (thành phố Hà Giang); Tiểu
khu Trọng Con (huyện Bắc Quang); di tích lịch sử Kỳ Đài, bia và chuông chùa
Sùng Khánh, chuông chùa Bình Lâm (huyện Vị Xuyên); miếu Ông, miếu Bà
(huyện Mèo Vạc); di tích lịch sử Nàn Ma, di tích khảo cổ học Bãi Đá cổ Nấm Dẩn
(huyện Xín Mần).v.v… đều có giá trị phục vụ tham quan và du lịch tâm linh.
b) Lễ hội (văn hoá phi vật thể): 19 dân tộc ở Hà Giang đều có nếp sinh hoạt
và tập tục lễ hội riêng góp phần làm nên bản sắc văn hóa đa sắc tộc của Hà Giang.
Có thể nhận thấy các lễ hội của đồng bào vùng cao tỉnh Hà Giang không có quy
mô rộng lớn như những lễ hội vùng xuôi nhưng với những giá trị nguyên bản đã
tạo nên nét đặc sắc riêng, độc đáo. Các lễ hội đặc sắc được đánh giá là tài nguyên
du lịch gồm lễ hội Lồng tồng của đồng bào Tày, Nùng; lễ hội Cấp sắc của đồng
còn, đánh yến, đánh quay, kéo co, hát đối đáp… Với những nét văn hoá đặc sắc, lễ
hội Lồng tồng ngày càng thu hút đông du khách trong và ngoài tỉnh tham dự.
Những năm gần đây, lễ hội Lồng tồng ở xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên vào
Rằm tháng Giêng, sau lễ dâng hương chùa Sùng Khánh là địa điểm hấp dẫn khách
du lịch.
* Chợ tình Khau Vai
Khau Vai (theo tiếng Tày, Nùng có nghĩa là đèo gai) còn gọi là chợ Phong
Lưu, chợ tình Khau Vai, có từ gần 100 năm nay. Chợ diễn ra ở xã Khau Vai,
huyện Mèo Vạc (trong không gian CVĐCTCCNĐ Đồng Văn) và chỉ họp mỗi năm
một lần vào tối 26 và ngày 27 tháng 3 âm lịch. Chợ tình không chỉ dành riêng cho
những lứa tuổi biết yêu mà còn dành cho mọi lưá tuổi, mọi gia đình, của những
người yêu nhau nhưng chẳng lấy được nhau. Đây là một hoạt động văn hoá, phong
tục độc đáo hiếm có ở Việt Nam và trên thế giới và trở thành tài nguyên du lịch giá
trị.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG 2030
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 58 Kim Mã, Hà Nội, Tel. 043 73 43 131; FAX: 04 3 84 89 377
21
Có thể nhận thấy, với điều kiện sinh sống đặc trưng của đồng bào các dân tộc,
các lễ hội trên thường chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp ở làng bản của mình. Bên cạnh
đó, có những lễ hội vì nhiều nguyên nhân khách quan đã không được tổ chức từ
lâu. Chính vì vậy, để giữ gìn và bảo tồn giá trị truyền thống các dân tộc, những
năm gần đây, Chính quyền tỉnh Hà Giang đã có nhiều nỗ lực trong việc nghiên,
cứu, sưu tầm và khôi phục lễ hội ở một số dân tộc. Tuy nhiên kết quả vẫn còn khá
khiêm tốn. Thực tế là còn rất nhiều lễ hội đặc sắc của đồng bào cần được khôi
phục, gìn giữ và giới thiệu để phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc
phục vụ du lịch.
hàng trăm năm. Nhưng hiện nay chỉ còn tồn tại rải rác trong các hộ gia đình ở một
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG 2030
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 58 Kim Mã, Hà Nội, Tel. 043 73 43 131; FAX: 04 3 84 89 377
22
số xã vùng sâu, vùng xa của các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần, Vị Xuyên, Yên
Minh, Mèo Vạc. Sản phẩm gồm các loại vòng bạc, hoa trang trí, xà tích, tăm, lắc,
xuyến, hoa tai, nhẫn, chuông...nghề không những chỉ có giá trị về kinh tế này mà
còn góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc cho đồng bào dân tộc Dao ở Hà Giang.
* Nghề chế tác khèn Mông
Sưu tầm, khai thác, bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật nhạc cụ khèn
Mông như: Chế tác khèn mông, múa khèn, thổi các bài khèn truyền thống, bài
khèn trong sinh họat văn hóa tín ngưỡng, truyền thống của đồng bào dân tộc
Mông. Thông qua các tiết mục biểu diễn và giới thiệu các hoạt động liên quan đến
cây khèn Mông như: Cúng xin Khèn, Nhảy khèn; Lễ hội Khèn Mông huyện Đồng
Văn tổ chức 1 năm một lần vào dịp 2.9 góp phần thúc đẩy ngành du tỉnh Hà Giang
phát triển.
Đầu tư kinh phí xây dựng thôn Tả Cồ Ván, xã Hố Quáng Phìn (Đồng Văn)
thành một làng nghề làm khèn truyền thống. Qua đó sẽ phát huy được một nghề
mang tính “vừa vật thể, vừa phi vật thể” trong vốn văn hóa của dân tộc Mông.
d) Các đặc sản và văn hoá ẩm thực: Hà Giang có nhiều sản vật tự nhiên và
món ăn độc đáo hấp dẫn du khách và trở thành tài nguyên du lịch nhân văn như
cháo đắng (hay cháo Ấu tẩu), thịt bò hun khói, thịt trâu gác bếp, lạp xường vùng
cao, thắng cố, mẻn mén, cơm lam, xôi ngũ sắc, thảo quả muối, nấm hương, măng
rừng khô, rượu thóc Nàng Đôn, Tùng Bá, rượu ngô Thanh Vân, Thiên Hương,
rượu Ngô Hạ Thổ, chè san tuyết, cam sành, mật ong hoa bạc hà.v.v…Hương vị của
những món ăn trên góp phần thu hút khách và kéo dài thời gian lưu lại trên đất Hà
Giang.
Mạng lưới giao thông Hà Giang chủ yếu là đường bộ liên kết các địa phương
trong tỉnh cũng như kết nối với các tỉnh lân cận. Giao thông đường thuỷ không
phát triển mặc dù mạng lưới sông suối nhiều nhưng do điều kiện địa hình phức tạp
bị chia cắt mạnh với nhiều núi cao hiểm trở, dộ dốc lớn, lòng sông hẹp và cạn,
nhiều ghềnh đá và đá ngầm, khan cạn vào mùa khô. Hiện tại chưa có giao thông
đường sắt và hàng không, mặc dù có sân bay Phong Quang là sân bay quân sự
nhưng đã không được sử dụng và bỏ hoang từ lâu; về giao thông nông thôn, 100%
xã có đường ô tô đến trung tâm, tuy nhiên điều kiện đi lại vẫn còn chênh lệch lớn
giữa các vùng trong tỉnh. Đánh giá hệ thống giao thông có ảnh hưởng đến hoạt
động du lịch như sau:
2.1.1. Hiện trạng
a) Giao thông đường bộ: Tổng chiều dài đường bộ tỉnh Hà Giang hiện có
8.624,1 km, trong đó:
- Quốc lộ:
454 km chiếm 6,8%,
- Đường tỉnh:
264 km chiếm 3,1%,
- Đường huyện:
2139,4 km chiếm 24,7%,
- Đường xã:
- Đường đô thị:
5.457,7 km chiếm 63,3%,
180,4 km chiếm 2,1%.
Ngoài ra, còn có đường thôn bản, ngõ xóm, đường chuyên dùng tại các khu
182,7 km chiếm 8,56%, đá dăm nhựa 890,7 km chiếm 41,5%, cấp phối 179,7 km
chiếm 8,42% và đường đất 886,3 km chiếm 41,52%. Về tình trạng đường tính theo
tổng chiều dài có khoảng 18,4% là tốt, 31,9% là trung bình, còn lại 49,7% là
đường xấu và rất xấu.
Hệ thống cầu cống trên đường huyện chủ yếu vẫn có quy mô nhỏ, chất lượng
kém, hạn chế lưu thông, đặc biệt là cho các phương tiện vận tải lớn.
Còn một số xã, chủ yếu là các xã miền núi, vùng sâu vùng xa đường đến
trung tâm xã còn rất khó khăn vào mùa mưa, thậm chí còn bị gián đoạn giao thông
cục bộ.
Đường xã: Hệ thống đường xã có tổng chiều dài khoảng 5.457,7 km chủ yếu
là đường liên xã, liên thôn bản với tiêu chuẩn GTNT A và B. Về kết cấu mặt, mặt
láng nhựa 330,2 km, bê tông xi măng hóa được khoảng 327,9 km, đường đá dăm
36 km, đường cấp phối 939,1 km và đường đất khoảng 3.824,5 km.
Hệ thống cầu cống trên các tuyến đường xã có chất lượng thấp, nhiều cầu
yếu, cầu treo hạn chế phương tiện lưu thông và mất an toàn giao thông.
Đường đô thị: Đường trong thành phố Hà Giang đạt tiêu chuẩn đường đô thị
và một số thị trấn huyện lỵ có các đoạn tuyến của quốc lộ, đường tỉnh đi qua đã
được mở rộng theo tiêu chuẩn đường đô thị. Tổng chiều dài đường đô thị của tỉnh
là 180,4km (không tính đường ngõ xóm), trong đó thành phố Hà Giang có tỉ lệ
đường đô thị cao nhất với tổng chiều dài 74,1km, các huyện khác có chiều dài
đường đô thị dao động trong khoảng từ 5 km đến 25 km. Kết cấu mặt của đường
đô thị: 40,2% mặt bê tông nhựa; 27,1% mặt láng nhựa; 13,7% bê tông xi măng;
5,7% cấp phối và 16,1% là đất.
Toàn tỉnh có 1 cửa khẩu Quốc tế và một số cửa khẩu tiểu ngạch đang hoạt
động. Cửa khẩu Thanh Thủy – Thiên Bảo là cửa khẩu Quốc tế nối Hà Giang (Việt
Nam) với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), tuyến QL2 ra cửa khẩu hiện đã được nâng
cấp. Các tuyến đường ra các cửa khẩu tiểu ngạch thông thương với Trung Quốc
như: Cửa khẩu Mốc 198 (huyện Xín Mần) – Đô Long ( Mã Quan); cửa khẩu Nghĩa
Thuận (huyện Quản Bạ) - Pà Pú (Ma Ly Pho); cửa khẩu Bạch Đích (huyện Yên
Minh) – Giàng Ván (MaLyPho) và cửa khẩu Phó Bảng (huyện Đồng văn) – Đồng