MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ca dao là một bộ phận của văn học dân gian , kho tàng qúi giá của đất nước đã
vượt qua thử thách của thời gian để trở thành một thành tố quan trọng trong nền văn
học Việt Nam. Có rất nhiều mảng đề tài về ca dao như: ca dao về tình cảm gia đình,
ca dao tình yêu quê hương đất nước, ca dao về sản xuất lao động, ca dao sản vật thiên
nhiên, nhưng không thể bỏ qua mảng đề tài “Tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng
bằng sông Cửu Long”. Từ xưa đến nay tình yêu luôn là một đề tài vô tận của văn
chương, các nhà thơ nổi tiếng viết về tình yêu như: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc
Tử, Chế Lan Viên, Xuân Quỳnh, Nguyễn Bính... tùy vào mỗi phong cách mà nhà thơ
có cách cảm nhận về tình yêu khác nhau, trong bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính
có hai câu thơ, mang nỗi niềm cảm xúc của một người đang yêu, nhớ nhung đến phát
bệnh:
“Nắng mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.
Xuân Diệu thốt lên rằng:
“ Làm sao sống được mà không yêu,
Không nhớ không thương một kẻ nào”.
Đó là cách cảm nhận về tình yêu trong thơ ca có một sự mạnh mẽ, dám thổ lộ hết
cảm xúc của mình, đến với “Tình yêu lứa đôi trong ca dao Đồng bằng sông Cửu
Long” không hoa mĩ trau chuốt mà thể hiện một cách rất là bình dị mộc mạc, dễ hiểu,
rất thật với cuộc sống và gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, chàng trai yêu mà
chẳng dám thổ lộ tình cảm , nhếnh nhác bằng hành động ngắt cọng ngò:
“Đưa tay anh ngắt cọng ngò,
Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ”.
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất thấp, kênh rạch chằng chịt, dòng sông là vẻ
đẹp của thiên nhiên tạo hóa, cho nên ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh những cây
cầu khỉ bắc ngang những con sông nhỏ, những con đò đưa khách sang sông, bến
nước...đó là những hình ảnh quá quen thuộc, rất là gần gũi với người dân miệt sông
nước, chính vì điều kiện tự nhiên không thuận lợi nên tạo thành một khoảng cách cho
các cuộc gặp gỡ của các đôi nam nữ đang yêu nhau. Hình ảnh cây cầu đã được phổ
đình hay là bằng hữu bằng thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc: “Trong văn học
dân gian có một bộ phận sáng tác bằng thể thơ dân tộc kết hợp chặt chẽ với các làng
điệu âm nhạc, để diễn đạt các khía cạnh khác nhau trong cảm nghĩ con người về quê
hương đất nước, lao động sản xuất, tình duyên, gia đình quan hệ bằng hữu các vấn
đề xã hội đó là một bộ phận của Ca dao - dân ca Nam Bộ [1;19]
Năm 1992, Nguyễn Xuân Kính có công trình Thi pháp ca dao. Bài viết này, tác giả
đã phân tích đầy đủ các yếu tố thi pháp của ca dao như ngôn ngữ, thể thơ, kết cấu,
thời gian và không gian nghệ thuật… đã cho ta cái nhìn đầy đủ và cụ thể hơn về nghệ
thuật trong ca dao Việt Nam cũng như sự khác biệt cơ bản của loại hình văn học dân
gian với các loại hình văn học khác: “Xét về mặt thi pháp bên cạnh những đặc điểm
giống thơ của các tác giả thuộc dòng văn viết, ca dao có những đặc điểm riêng biệt.
Ngôn ngữ ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường, về thể thơ
95% ca dao cổ truyền được sáng tác theo thể lục bát, thời gian nghệ thuật trong ca
dao là thời gian hiện tại, diễn xướng, không gian nghệ thuật chủ yếu là không gian
trần thế, đời thường, bình dị”[3;289]
Năm 2007, Bích Hằng có công trình nghiên cứu Ca dao Việt Nam trong đó có
nhận định “ Ca dao Việt Nam là viên ngọc qúy luôn tỏ sáng trong kho tàng văn hohjc
dân gian việt Nam. Với ngôn ngữ tinh tế, sinh động, duyên dáng, giàu hình tượng và
đày chất thơ, ca dao luôn đi vào lòng người, được người người thuộc nhớ, trau chuốt
và truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác”[3;5]
Nghiên cứu về ca dao nói chung có rất nhiều công trình như đã nêu trên. Riêng về
tình yêu lứa đôi trong ca dao Đồng bằng sông cửu Long thì có công trình nghiên cứu:
Năm 1997, Chu Xuân Diên có công trình Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu
Long bài viết này tác giả đã bao quát tương đối đầy đủ các loại chính của văn học dân
gian Đồng bằng sông Cửu Long như truyện địa danh và các sản vật địa phương,
truyện loài vật, truyện liên quan đến lịch sử và văn hóa, ca dao - dân ca… Nó cho ta
biết thực trạng tồn tại của văn học dân gian trong nhân dân thuộc một vùng được xác
định cả về không gian và thời gian: “Vùng văn học dân gian đã được biết đến cuối
Chương 1
VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT CON NGƯỜI
VÀ CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.1 Vài nét về vùng đất và con người Đồng bằng sông Cửu Long
1.1.1 Vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở hạ nguồn của lưu vực sông Mê Kông có diện
tích khoảng bốn mươi ngàn ki lô mét vuông. Thời kì Pháp thuộc bị chia làm sáu tỉnh hay
còn gọi là: lục tỉnh Nam Kì (Vĩnh Long, Hà Tiên, An Giang, Gia Định, Định Tường và
Biên Hòa). Ngày nay nước ta phân chia lại địa giới hành chính nên chia thành mười ba
tỉnh gồm: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ,
Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau.
ĐBSCL là một trong những đồng bằng lớn của cả nước, ruộng đất phì nhiêu, là
nguồn sản xuất và xuất khẩu lương thực lớn thứ hai (sau Đồng bằng sông Hồng), vùng
đất này thấp, trũng và tương đối bằng phẳng, khí hậu nhiệt đới gió mùa mát mẻ, nắng
sáng mưa chiều, khí hậu điều hòa, quanh năm có hai mùa mưa nóng và lạnh rõ rệt thích
hợp cho sản xuất nông nghiệp lúa nước.
Thiên nhiên ĐBSCL mang nhiều sắc thái độc đáo rất dễ phân biệt với các vùng đất
khác, ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh những con kênh, rạch đan xen vào nhau, uốn
quanh những vườn trái cây trĩu quả, sum sê. Dưới bầu trời xanh những đàn cò trắng bay
thẳng cánh ngoài những cánh đồng mênh mông bát ngát chạy hút mắt người, ở đây bốn
mùa đông vui như đô thị trên bến dưới thuyền, tạo cho cảnh vật nơi đây thật là hữu tình.
Cảnh vật nơi đây thật độc đáo đã tác động trực tiếp vào tâm tư, tình cảm của những người
mới lại đây khai hoang, tạo nên một mảng ca dao đặc sắc:
“Chiều chiều én liệng trên trời,
Rùa bò dưới đất khỉ ngồi trên cây”.
Do nằm ở hạ nguồn của lưu vực sông Mê Kông hằng năm đến mùa con nước lên
tháng chín, tháng mười đổ về hạ nguồn mang theo một lượng phù sa màu mỡ bồi tụ cho
những cánh đồng, con sông. Các loài thủy sản (cá, tôm...) cũng theo con nước về để tìm
kiếm thức ăn, mang lại một nguồn lợi nhuận lớn cho những người dân quanh năm lênh
đênh trên sông nước mỗi khi con nước lớn lũ về.
Giang ), măng cụt Cái Mơn ( Bến Tre), công việc làm vườn rất gian nan cực khổ, muốn
trồng được một cây cho đến khi ra quả, người nông dân phải bỏ ra rất nhiều tâm huyết, từ
giai đoạn chiết cành, ươm hạt giống, rồi mới đem trồng, chăm nom kĩ càng, tùy theo mỗi
loài cây mà thời gian cho trái mau hay chậm, thông thường là khoảng bốn đến năm năm
là cây cho trái. Dù cực khổ nhưng họ vui vì họ đã tạo nên một đặc sản riêng, mỗi người
khi thưởng thức thì không quên được vùng đất đã tạo ra loại trái cây đó:
“Quýt Cái Bè nổi tiếng ngọt ngây,
Ai ăn vào nhớ mãi miền Tây”
Điều kiện địa lí và lịch sử đã làm cho vùng đất ĐBSCL có những nét đáng lưu ý
về văn hóa, đây là nơi cư trú của các dân tộc như: Kinh, Hoa, Khmer, Chăm. Số dân gần
14,2 triệu người (1995) chiếm khoảng 24% tổng dân số cả nước. Khoảng 8% là người
dân tộc: Khmer (khoảng 850.000 người), Hoa (khoảng 234.000 người),
Chăm( khoảng10.000 người). Dân tộc Kinh chiếm đa số. Biểu hiện dễ thấy là họ cùng sử
dung song ngữ, đa ngữ, nhưng tiếng Việt vẫn là tiếng nói phổ biến, sự ảnh hưởng qua lại
còn thể hiện ở nhiều phương diện khác như ăn mặc, xây cất nhà cửa, lễ hội. Người Việt
sử dụng món canh chua trong bữa cơm là quá trình học hỏi từ dân tộc Khmer, phá lấu của
người Hoa, bún mắm của người Miên, cà ri của người Ấn... coi ngày tốt để dựng nhà,
dựng vợ gả chồng là quá trình học hỏi từ dân tộc Hoa, ngoài ra còn có các lễ hội cổ
truyền như lễ hội “Ooc om bok” của dân tộc Khmer, Tết cổ truyền của dân tộc Hoa và
Kinh, ảnh hưởng trong tiếng nói của người Việt, chẳng hạn như các từ lì xì, xính xái, xí
muội xuất phát từ tiếng Hoa, cà ràng (bếp nấu cơm), cà ròn, xà quần, mình ên, hoặc một
số từ địa danh như: Chắc cà đao (Prek Pơđao, rạch có cây mọc sừng). Chiếc phảng, chiếc
nóp trở thành thân thiết với người dân đồng bằng. Ngược lại chiếc áo bà ba của người
Việt trở nên gần gũi hơn với các dân tộc. Về phương diện văn học có một số nét gặp gỡ
giữa truyện dân gian Việt và Khmer, hiện tượng truyện Tàu, truyện Tàu phổ biến trong
giải trí văn nghệ ở Đồng bằng sông Cửu Long là điều dễ hiểu.
Các dân tộc cùng chung sống đoàn kết, mỗi dân tộc có một sắc thái riêng, tạo cho
nền văn hóa ĐBSCL đa dạng trong sự thống nhất chung của văn hóa Việt Nam.
vịt vào dây cách lưỡi câu khoảng hai lóng tay, tìm bầy lòng ròng mới nở để nhấp cá lóc,
khi nhấp con vịt phát ra tiếng kêu lúc đó con cá lóc tưởng con vịt sẽ ăn con con của nó sẽ
táp cục mồi gần chân con vịt thế là bắt được con cá lóc. Ngoài ra còn có các loại câu
giăng, rê chài... còn có một loại đánh bắt rất đơn giản người ta hay gọi là “ Tay không
đánh giặc” đó là mò, chỉ dùng hai bàn tay nhưng để bắt được cá đòi hỏi người bắt phải
rất chuyên nghiệp, nhanh tay. Còn đối với động vật rừng thì họ sáng tạo ra các loại bẫy
như: rập đất (bẫy chuột), bẫy heo, giàn ná thung, cũng thể hiện trí thông minh sáng tạo
của con người. Trong truyện dân gian “Bác Ba Phi”, Bác cũng đã ứng dụng sự thông
minh sáng tạo của mình trong truyện “Cọp xay lúa” dùng sức của con cọp để xay lúa
cho cả nhà.
Phải nói rằng vùng đất phương Nam từ khi bắt đầu khai phá và phát triển trải qua
mấy thế kỉ nay vẫn là vùng đất sôi động nhất, những người đặt chân đến đây đều là
những người năng động sáng tạo bất chấp sự khắc nghiệt của thiên nhiên.
Thời hoang sơ người dân thể hiện sự thông minh sáng tạo của mình để đánh bắt
thủy sản, động vật... họ bắt nhiều nhưng không bắt hết, để lại cá nhỏ cho mùa sau, sinh
sôi nảy nở. Nhưng dần theo thời gian xã hội ngày càng phát triển sự sáng tạo của con
người cũng phát triển họ không dùng những công cụ thô sơ để đánh bắt mà thay vào đó là
những dụng cụ đánh bắt cá tự chế tối tân như : rà điện, đẩy te, chài điện, hoặc dùng mìn...
tất cả những sinh vật nhỏ bé, thiên nhiên hoang dã đang bị hủy hoại trong bàn tay của con
người.
Không chỉ năng động sáng tạo mà con người ĐBSCL còn có một tình yêu nước
nồng nàn và thắm thiết, tinh thần yêu nước của người dân đồng bằng thể hiện từ bao đời
nay của các nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.
Một tình yêu nước của cụ Nguyễn Trung Trực, khi bị giặc Pháp đem ra xử bắn ông
đã ngang nhiên tuyên bố rằng: “ Khi nào người Nam hết cỏ, mới hết người Nam chống
Tây” câu nói khẳng khái của ông được truyền tụng đến bây giờ.
sống hàng ngày, tính cách này luôn được bộc lộ một cách rõ ràng, sinh động, chẳng hạn
như sự mời mộc của một người về Đồng Tháp chơi và thưởng thức, chia sẻ những món
ăn đồng quê như món bông súng chấm với nước cá kho, hoặc món canh chua cá linh nấu
với bông điên điển:
“Muốn ăn bông súng cá kho,
Thì về Đồng Tháp ăn cho đã thèm”.
hay:
“Canh chua điên điển cá linh,
Ăn chỉ một mình thì chẳng biết ngon”.
Trong tính cách ăn uống của người dân đồng bằng là “Thảo ăn” gặp bữa là mời
thật, chứ không mời lơi, mời cho có lệ, có khi mời không ăn, còn giận bị xem là khinh
thường, ăn một tí cũng làm cho gia chủ vui lòng, hoặc đang nhậu mà có người quen đi
ngang rủ vô làm vài ly, lai rai “Vào ba ra bảy” đó là cách đặt của những người sành nhậu
đặt ra, mới vào thì uống liên tục ba cái, còn nhà có việc bận, hay chuyện gì đó phải uống
bảy ly mới được phép về, đó là nét riêng và độc đáo. Cách ăn uống của họ không cầu kì
có gì ăn nấy, không tính toán chi li, đặc biệt là tính hiếu khách “Bạn đến nhà không gà
thì vịt” không có gà có vịt thì đãi bằng món dân giã khác như cá lóc nướng trui, uống với
rượu, miễn sao “Vừa lòng khách đến, đặng lòng khách đi”.
“Bắt con cá lóc nướng trui,
Làm mâm rượu trắng đãi người bạn xa”.
Hiếu khách còn thể hiện qua tình hàng xóm láng giềng “bán anh em xa mua láng
giềng gần” những buổi lễ tiệc như: đám giỗ, đám cưới, đám hỏi, tân gia, thôi nôi, đầy
tháng... họ đều mời mọc hàng xóm với sự chân thành, thắm thiết, họ đến chia vui với
nhau cũng vì cái nghĩa cái tình, vì lòng hiếu khách của gia chủ.
Cũng chính vì yếu tố tâm lí này mà người dân vùng sông nước được mọi người
cho rằng: họ có tính hào phóng, hiếu khách, trọng tình nghĩa. Trọng nhân nghĩa là một
đức tính tốt đẹp của con người ĐBSCL, hàng xóm đôi khi xảy ra mâu thuẫn, nhưng họ
không để bụng những chuyện nhỏ, mỗi khi có chuyện cần giúp họ liền sẵn sàng giúp đỡ
nhiệt tình. Lục Vân Tiên khi cứu Kiều Nguyệt Nga thoát khỏi bọn Phong Lai“ Làm
người há dễ trông người trả ơn”, đức tính trọng nghĩa khinh tài là một đức tính cao cả
Chứ gái đa tình chắc em chẳng thương anh”.
Tính bộc trực thẳng thắn còn thể hiện trong lời ăn tiếng nói hằng ngày. Gặp
chuyện bất bình không vừa ý thì nói ngay không cần suy nghĩ, cũng chẳng sợ ai giận, nói
ra như đinh đóng cột, một là một, hai là hai. Sai thì nhận mình sai, dám làm dám nhận đó
là một đức tính tốt mà mỗi người nơi đây ai cũng có.
Lịch sử dù có thăng trầm đến đâu nhưng dù thế nào đi nữa tính cách con người Đồng
bằng sông Cửu Long vẫn thế, một tình yêu quê hương đất nước nồng nàn, tính tình hào
phóng, giữ chữ tín, đặt việc nhân nghĩa làm đầu.
1.2. Vài nét về ca dao Đồng bằng sông Cửu Long
1.2.1. Khái niệm
Trong “ Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long” của Khoa Ngữ Văn Đại
học Cần Thơ có quan niệm: “Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long là văn học
dân gian được sưu tầm ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là những sáng tác nghệ thuật
truyền miệng được lưu truyền ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Nghĩa là nó có thể
được dân nhân sáng tác trong suốt mấy thế kỉ qua trên vùng đất mới, song nó còn là
“Vốn văn hóa cổ truyền” được cất giữ trong trí nhớ của những người đi mở cõi từ các
địa phương khác tụ họp về đây. Nói đơn giản hơn, đó là những tác phẩm truyền miệng
được sưu tầm, ghi chép từ chính những người hiện đang sinh sống trong vùng đọc lại.
[4;9]
1.2.2. Đặc điểm ca dao Đồng bằng sông Cửu Long
Đặc điểm ca dao về phần hình thức vừa vần, lại vừa thanh toát, không gò ép lại
giản dị và tươi tắn. Nghe như lời nói thường mà nhẹ nhàng, gọn gàng mà lại chải chuốt,
miêu tả về tình cảnh sâu đậm, sâu sắc của tình yêu đôi lứa. Có thể nói tả cảnh, tả tình
không một hình thức văn chương nào có thể so sánh được với ca dao.
Về nội dung ca dao - dân ca Đồng bằng sông Cửu Long có những nét riêng so với
ca dao - dân ca Bắc Bộ. Ca dao - dân ca ở đây ghi lại một khung cảnh thiên nhiên hoang
sơ nhưng giàu có sản vật luôn ưu đãi con người. Điều đáng lưu ý là thiên nhiên có một
lực hút cực mạnh đối với tất cả các thể loại văn học dân gian ĐBSCL đặc biệt là đối với
Qua chèo ghe ra biển đợi nước đầy qua chèo ghe chở vô”
Nếu thân phận người phụ nữ Bắc Bộ thường được ví như: hạt mưa sa, tấm lụa đào
như một loại hàng hóa:
“Thân em như hạt mưa sa,
Hạt vào đài cát, hạt ra ruộng cày”
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?”.
Người phụ nữ ở ĐBSCL được ví như trái bần trôi:
“Thân em như trái bần trôi
Sóng dập gió dìu biết tấp vào đâu”.
Bên cạnh hình ảnh sông nước, ca dao - dân ca ĐBSCL còn gây được cảm xúc nhờ
vào những hình ảnh gắn liền với miệt vườn: bần, mù u...
“Mù u bông trắng
Lá quấn nhụy huỳnh”.
Bên cạnh hệ thống nhóm chữ mở đầu truyền thống của ca dao - dân ca cả nước
như: ai, thân em, anh về, ta- mình, mình- ta... ca dao - dân ca ĐBSCL còn dùng hệ thống
nhóm chữ mở đầu riêng như: nước rong, hai đứa mình, qua, bậu... và hệ thống câu mở
đầu riêng như: Ba phen quạ nói với diều...
Ca dao – dân ca ĐBSCL sử dụng hết các loại thể thơ truyền thống nói chung và
thiên về thơ biến thể, thể thơ tổng hợp. Thể thơ tổng hợp đó là sự kết hợp của nhiều thể
thơ khác nhau như: thể vãn kết thúc bằng bằng tám chữ:
“Gió bấc hiu hiu
Sến kêu thì rét”.
Câu lục bát:
“Nội trong lục tỉnh Nam Kì
Thấy em ăn nói nhu mì anh thương”.
Cùng với thể loại văn vần, văn xuôi, với những nét riêng cho ta thấy một vùng văn
học đã và đang tồn tại.
Cây cầu thể hiện niềm yêu thương, trìu mến. Còn cành hồng biểu tượng cho tình
yêu mãnh liệt, sự kiêu sa, chung thủy, cành hồng được ví như vẻ đẹp của người con gái,
hay nói đúng hơn là tấm lòng của chàng trai dành cho cô gái:
“Cô kia cắt cỏ một mình,
Muốn sang anh ngã cành hồng cho sang”.
Nhưng tưởng lâu ngày không gặp, việc trước tiên họ sẽ nói rất nhớ nhau lắm.
Nhưng đôi nam nữ này lại không như vậy, mà thay vào đó là thái độ ân cần, quan tâm,
hỏi han sức khỏe cha mẹ hai bên, thể hiện một phẩm chất đáng quý:
“Anh gặp em vừa mừng vừa hỏi,
Phụ mẫu ở nhà mạnh giỏi hay không?
Tại gia đàng phụ mẫu em cũng được bình an,
Em xin hỏi lại: phụ mẫu của bạn lang thế nào?
Điều ước không bao giờ thành hiện thực, người ta vẫn hay thường nói “Ước mơ
vẫn là mơ ước mà thôi”. Nhưng vì tình yêu mãnh liệt dành cho người yêu, anh chàng ước
một chiếc cầu dải yếm, gần gũi và chân tình, để nàng bước qua chiếc cầu đó để ghé sang
nhà mình chơi:
“Ước gì sông rộng một gang,
Bắc cầu dải yếm cho nàng sang chơi”.
Với mong muốn được lấy người mình yêu, các chàng trai thường sử dụng lối nói
bóng bẩy, với niềm khao khát cháy bỏng trong tình yêu. Lời tỏ tình của chàng trai hình
như lúc nào cũng gắn thêm từ “ước”, ước là mong muốn được và sẽ có được:
“Ước gì anh hóa ra cơi,
Để cho em đựng cau tươi, trầu vàng.
hay:
“Ước gì anh hóa ra gương,
Để cho em cứ ngày thường em soi”.
Tóm lại, gặp gỡ chỉ mới là giai đoạn bắt đầu của tình yêu, lần đầu gặp gỡ luôn
đem lại ấn tượng đẹp trong suy nghĩ của mỗi người.
Anh đi kén vợ đằng xa quê người,
Thấy em đẹp nói, miệng cười,
Đẹp người, đẹp nết, lại tươi răng vàng,
Vậy nên anh mới gởi thơ sang”.
Anh đây quyết lấy được nàng mới thôi”.
hay:
“Bông cúc ngả ngang con bướm vàng nhân nhụy,
Thấy miệng em cười hữu ý anh thương”.
Nhưng cô gái này cũng chưa chịu tin, và quyết thử lòng chàng trai thêm một lần
nữa:
“Anh đừng môi miếng, miếng môi,
Ở đây anh nói vậy chớ có đôi ở nhà”
Và cũng tự tin về bản thân mình, không chỉ có mình chàng trai để ý mà còn có
nhiều người để ý, thương nhớ cô gái:
“Anh ơi nắng mới, sợ buổi trưa chiều,
Phận em là gái, cũng nhiều người thương”.
Cô gái này cũng có chút hài hước, để chọc ghẹo lại chàng trai, biểu chàng phải tìm
được con cá trê phải có vảy, con tép phải có gan…những thứ mà ngược với quy luật của
tự nhiên, tạo hóa thì mới chịu theo làm vợ chàng:
“Anh về kiếm vảy con cá trê vàng,
Kiếm gan con tép bạc thì nàng theo không.
Em về tìm vú con công,
Tìm đuôi con cóc mới hòng theo anh”.
Biết là không thể nào tìm được những thứ mà nàng yêu cầu. Nhưng để chứng
minh tình cảm của mình, chàng trai lại tỏ tình theo cách khác. Anh rất khôn khéo ở chỗ
đã dùng hình ảnh sợi dây tơ hồng để tỏ tình, nghe theo lí thì cô gái này khó mà có thể từ
chối tình cảm thêm một lần nữa. Dây tơ hồng là một vật quan trọng tượng trưng cho tình
nghĩa vợ chồng, lời tỏ tình như một lời cầu hôn mà chàng trai muốn gởi đến cô gái,
nhưng cũng hết lời khên ngợi cô gái thêm một lần nữa:
“Cổ tay em vừa trắng lại vừa tròn
“Áo anh rách lỗ bằng sàng,
Mẹ già anh yếu, cậy nàng vá may”.
Những bài ca dao tỏ tình sẽ còn động mãi trong lòng người dân cả nước nói chung
và ĐBSCL nói riêng. Bằng những lời tỏ tình hồn nhiên của tình yêu đôi lứa, những hình
ảnh mộc mạc, thân quen. Mong rằng mọi người sẽ gìn giữ và phát huy những giá trị văn
hóa truyền thống dân tộc.
2.2. Nỗi nhớ nhung và tương tư trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long
2.2.1.Nỗi nhớ nhung
Khi yêu người ta mong được gặp gỡ người yêu của mình mỗi ngày. Đó là tâm lí
chung của các đôi nam nữ đang yêu nhau, nhưng có nỗi khổ nào gặp người mình yêu mà
người đó lại giả đò ngó lơ, chắc có lẽ ai được đặt trong tình huống đó sẽ rất buồn:
“Bắp non xao xác trổ cờ,
Người thương đứng đó giả lơ không chào”.
Hay :
“Anh muốn vãng lai, sợ nàng mang tai tiếng.
Giả khách qua đường, sớm viếng tối thăm”.
Thương dữ lắm rồi nhưng chàng trai còn chưa dám nói, còn ngại ngùng. Lúc gặp
gỡ tảng lờ vô tình như không để ý đến, hành động ngắt cọng ngò là hành động đáng yêu,
ngộ nghĩnh của các chàng trai miệt vườn:
“Thò tay mà ngắt cọng ngò,
Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ”.
Không chỉ chàng trai mới như vậy, ai ngờ các cô gái cũng chẳng tốt lành bao
nhiêu, qua câu ca dao sau ta có thể thấy được điều đó:
“Giả đò mua khế bán chanh,
Giả đi đòi nợ, thăm anh cho đỡ buồn”.
Với tình yêu mãnh liệt, chàng trai này vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến, chỉ vì
mong nhớ, bằng hành động “Chui lòn”, chốn cha mẹ để gặp được người mình yêu:
“Anh thương em cởi áo vo tròn,
không biết tâm sự giãi bày cùng ai, đành than thở một mình:
“Đêm đêm vuốt bụng thở dài
Thở ngắn bằng chạch, thở dài bằng lươn”.
“Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn
Sương sa gió lạnh, không thấy mình vãng lai.”
Không chỉ dùng thời gian để làm nổi bật lên nỗi nhớ của mình, chàng trai còn
dùng những từ ngữ pha lẫn chút hài hước, nghe qua có vẻ hóm hỉnh, như một lời nói
bông đùa, nhưng tình yêu đó xuất phát từ tận đáy lòng của người con trai:
“Anh thương em thương dại thương dột,
Thương lột da óc, thương tróc da đầu,
Ngủ đi thì nhớ, thức dậy thì thương,
Giục ngựa buông cương lên đường thương lộ,
Hỡi ông trời, mới ngộ lại xa”.
Những chàng trai vùng sông nước cũng rất là táo bạo, sau những ngày nhớ nhung.
Hôm nay gặp được người mình yêu mừng lắm, liền hôn một cái, nhưng sợ làng xóm láng
giềng họ hay:
“Đôi ta mới gặp hôm nay
Cho hun một cái em hai đừng phiền,
Có hun thì cho hun liền,
Đừng có làm lộ láng giềng họ hay”.
Đọc qua ta thấy ca dao, nhớ nhung ở ĐBSCL không mang nặng lễ giáo phong kiến
so với các vùng miền khác. Yêu thì họ dám thổ lộ tình cảm của mình, nhưng cũng đôi khi
họ dấu trong lòng. Nhưng đó là một tình yêu của nhưng con người hồn nhiên, thật thà,
chất phác, của những tâm hồn trong sáng, chân thành, giản dị và vô cùng tinh tế.
2.2.2. Nỗi tương tư
Tình yêu trong ca dao là thứ tình yêu lành mạnh, thắm thiết, hồn nhiên vượt ra
ngoài lễ giáo phong kiến, thứ xiềng xích muốn kìm hãm đời đời cho “Nam nữ thụ thụ bất
thân”. Ca dao đã ghi lại tất cả các chặng đường của tình yêu, các khía cạnh của tình yêu,
“Lòng lại dặn lòng dầu non rờn biển cạn
Dạ lại dặn dạ, dầu đá nát vàng lòa,
Em quyết nói gương chị Nguyệt Nga,
Mặc ai phinh dỗ em chẳng sa lời nguyền”.
Yêu nhau thì không bất chấp không gian có gian như thế nào, miễn sao làm cho
người mình yêu được vui lòng:
“Yêu nhau mấy núi cũng trèo”
Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”.
Giống như “Anh ở đầu sông em ở cuối sông” .Nhưng anh chàng này rất mực yêu
thương cô nàng, thề nguyện với nhau:
“Anh ở ngoài vàm, anh có lòng anh đợi,
Em ở trong ngọn, em có dạ đợi trông.
Dương gian, âm phủ cũng cộng đồng,
Sống sao thác vậy, anh vẫn giữ một lòng với em”.
Tình yêu của đôi nam nữ này thật vĩ đại, họ thề nguyền sống với nhau đến trăm
năm:
“Thương nhau cắt tóc mà thề
Khó nghèo cũng chịu chớ hề bỏ nhau
Thương nhau tạc một chữ tình,
Trăm năm thề quyết, bạn mình có nhau”.
Tình yêu của cô gái dành cho chàng trai thật sâu đậm. Muối là một loại gia vị mặn,
biểu tượng cho sự son sắt, còn chanh là một loại quả vị có vị chua, thế nhưng muối làm
sao có thể ngọt, chanh làm sao có thể thanh thì mới dám bỏ người con trai, qua đó hai
hình ảnh đó muốn nói lên sự chung thủy của người con gái đối với người mình yêu:
“Chừng nào muối ngọt chanh thanh,
Em đây mới dám bỏ anh đi lấy chồng”.
hay:
“Cũng liều cắn ớt nhai rừng,
Không bao giờ có quan niệm tình yêu vững bền mà gắn liền với vật chất. Nhưng
vật chất đã len lỏi vào trong những ngõ ngách, của đời sống có khi nó là phương tiện để
tạo nên tình yêu bền vững:
“Anh thương em thì đem bạc đem tiền
Chuộc duyên em lại kết nguyền với anh”.
Một lần nữa hình ảnh cây cầu lại xuất hiện, chứng cho lòng thủy chung son sắt của
người con gái đang yêu:
“Bên này sông, em bắc cây cầu mười hai tấm ván,
Bên kia sông, em lập cái quán hai tầng,
Ba nơi đi nói không ưng,
Bán buôn nuôi mẹ, cầm chừng đợi anh”.
Hình như người con gái khi yêu luôn thề nguyền, hẹn ước để cho người con trai
tin là họ không giả dối. lọc lừa. Đó là đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam từ bao
đời nay nói chung. Thừa hưởng những đức tính tốt đẹp đó, người phụ nữ ĐBSCL cũng
sắt son, một lòng một dạ đối với người mình yêu. Nhưng những bậc nam nhi thì “Trai
năm thê bảy thiếp” đó là một hủ tục lạc hậu cần được bỏ đi, mà thay vào đó những anh
chàng miệt vườn cũng thủy chung son sắt với người mình yêu và là người có thể gắn bó
với mình đến răng long đầu bạc. Đây là tình cảm riêng của người chồng đối với vợ:
“Dẫu rằng da trắng tóc mây
Đẹp thì đẹp vậy dạ nàng không ưa
Vợ ta dầu có quê mùa
Thì ta vẫn cứ sớm trưa vui cùng”.
“Ba mươi sáu cái răng đóng trăn cái lưỡi,
Anh là người quân tử, ăn một đọi, nói một lời,
Giơ tay phân chứng có trời,
Anh đây nhất nguyện ở đời với em”.
Ca dao hẹn ước cho ta thấy sự vĩnh cửu, bất diệt trong tình yêu. Đó là lời thủ thỉ
ân tình của đôi lứa đang yêu nhau. Các chàng trai cô gái điều thể hiện những cung bậc
Lóng tai nghe rõ
Phụ mẫu đánh nàng
Nhà đóng cửa then ngang,
Anh biết làm sao vô đặng cứu nàng một phen”.
Nhưng cãi lời cha mẹ, cô gái không chịu lấy chồng vì “Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép
duyên”:
“Bị ép duyên nên phải kêu trời,
Gá duyên ai gá, bỏ tiếng đời em mang”.
Cha mẹ quyết định thì con cái ai dám cãi lời. Cãi lời cha mẹ thì sẽ mang tội bất
hiếu, nên cũng đành ngậm ngùi chấp nhận:
“Xót xa như muối đổ vào lòng,
Đắng cay như ngậm bồ hòn vẫn phải gượng vui”.
hay:
“Cha mẹ sao nghĩ chẳng lâu,
Để thương để nhớ, để sầu cho cả hai”.
Nỗi đau của người phụ nữ vì người đàn ông phụ bạc, rẻ rúng mình:
“Anh nghiêng tai dưới gió
Cho thiếp kể công khó cho anh nghe,
Từ ngày anh đau ban cua lưỡi trắng,
Miệng đắng, cơm ôi
Công em, bồng đứng đỡ ngồi,
Bây giờ anh ở bạc ông trời nào để anh”
Tóm lại, tình yêu là phải có đau khổ và hạnh phúc, giai đoạn đầu khi yêu được gặp
gỡ nhau sau những ngày xa cách lúc đó cảm giác hạnh phúc vô cùng, không sao tả được.
Nhưng tình yêu nào đau phải cũng trọn vẹn có hạnh phúc cũng sẽ có đau khổ. Nhưng đau
khổ nhất là chính những lời thề nguyền, hẹn ước ngày trước họ đã hứa với nhau, hoặc do
bị ép duyên. Để rồi đem đến sự đau đớn tột cùng cho hai người.
2.4.2. Nỗi oán trách
Anh xa em bởi vì bà mai ít lời”.
hay:
“Bắt ông tơ đánh sơ vài chục,
Duyên nợ sờ sờ, ông ngủ gục chẳng so”.
Cũng có cách nói hài hước dí dỏm, anh chàng trách móc vì lỡ duyên nên có những
hành động khó hiểu không chỉ mang yếu tố gây cười mà nó còn mang lại sự cảm thông
cho người đọc:
“Anh tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài,
Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây,
Qua tới đây không cưới đươc cô hai mày,
Qua chèo ghe ra biển, đợi nước lớn đầy hoa chèo trở vô”.
Tình cảm vợ chồng thủy chung son sắt:
“Tay bưng đĩa muối chén gừng,
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”
Nhưng đến lời trách móc cũng mang đậm chất triết lí:
“Ngỡi nhân mỏng dính,
Như cách chuồn chuồn,
Khi vui nó đậu, khi buồn nó bay,
Đường dài ngựa chạy cát bay.
Ngỡi nhân thăm thẳm mỗi ngày một xa”
Sau khi thành vợ chồng, người chồng bỗng sinh thói trăng hoa, bỏ bê vợ con cô
đơn mong chờ:
“Gió đua bụi chuối sau hè,
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẵm tay bồng
Tay dắt mẹ chồng, nách cặp con dao”.
Và những lời than thở, hận trách về những cuộc hôn nhân không đẹp mà hiện tại
chỉ là một gánh nặng. Lời than trách ấy không của một riêng ai, mà cả hai cùng than thở,
khi không tìm được hạnh phúc trong cuộc sống hôn nhân:
“Gái có chồng như gông đeo cổ,
anh – nàng:
“Ba bốn bữa rày anh có bụng trông,
Kẻ lên người xuống mà không thấy nàng”.
hay:
“Anh ngó lên trời thấy đám mây bạch,
Ngó xuống rạch thấy cá trạch đỏ đuôi.
Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược,
Anh mảng thương nàng biết được hay không”.
Cách xưng hô mà ta thường thấy nhất để thể hiện tình cảm của chàng trai là xưng
anh gọi em:
“Anh vô duyên xấu phước, chết trước chung tình,
Anh hóa ra con nhạn bạch, đậu nhánh dương đình chờ em”
hay:
“Anh đây một vợ hai con
Lấy thêm em nữa cho tròn một mâm”.
Cô gái ngược lại xưng em gọi anh:
“Anh thương em thì thương cho chắc,
Có bỏ thì bỏ cho luôn.
Chứ đừng theo lối ghe buôn,
Nay đi, mai ở cho buồn dạ em”.
Không chỉ dùng ngôi thứ nhất để xưng hô mà các đôi nam nữ đang yêu, còn sử
dụng ngôi thứ hai để xưng hô. Cách xưng hô bậu – qua mang đậm sắc thái địa phương và
thường thấy nhất:
“Bậu có thương qua,
Khăn mu soa đừng đội,
Hát bội đừng mê,
Cái dê đừng mắc,
Tứ sắc đừng ham,
Tóm lại cách xưng hô trong ca dao tình yêu đôi lứa ĐBSCL hết sức phong phú và
đa đạng. Chúng ta có thể thấy những nét riêng mang đậm tính địa phương và phản ánh lời
ăn tiếng nói, tâm tư tình cảm của con người vùng sông nước.