BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÂM VĂN NÚT
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG
PHẪU THUẬT NUSS TRONG ĐIỀU TRỊ
LÕM NGỰC BẨM SINH
Chuyên ngành: NGOẠI LỒNG NGỰC
Mã số: 62.72.07.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2014
Công trình được hoàn thành tại:
Đại Học Y Dƣợc Thành Phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. TRẦN QUYẾT TIẾN
2. TS.BS. VŨ HỮU VĨNH
Phản biện 1:
GS. ĐẶNG HANH ĐỆ
Trường ĐH Y Hà Nội
Phản biện 2:
PGS.TS. NGUYỄN THẾ HIỆP
Bệnh viện Quốc tế Becamex
năng tim – phổi, đối với trẻ lớn và người lớn sẽ ảnh hưởng tâm lý. Do đó,
những bệnh nhân này cần phải điều trị bằng phẫu thuật. Trước đây, trên
thế giới có nhiều tác giả c ố gắng phẫu thuật chỉnh sửa dị tật lõm ngực
nhưng kết quả còn hạn chế, di chứng để lại nặng nề. Năm 1998, Nuss D.
công bố tổng quan 10 năm kinh nghiệm phẫu thuật điều trị lõm ngực bẩm
sinh bằng kỹ thuật xâm lấn tối thiểu (phẫu thuật Nuss). Phẫu thuật Nuss
cho thời gian hồi phục nhanh, ít biến chứng vì không cần phải mở xương
ức và cắt các sụn sườn.
Tháng 9/2007, khoa Ngoại lồng ngực – Mạch máu, bệnh viện Chợ
Rẫy TP.HCM đã điều trị 3 bệnh nhân lõm ngực bằng phẫu thuật Nuss cho
kết quả tốt. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật
Nuss trong điều trị lõm ngực bẩm sinh với mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xây dựng bảng phân loại
lõm ngực tại bệnh viện Chợ Rẫy.
2. Đánh giá kết quả phẫu thuật Nuss trong điều trị lõm ngực bẩm sinh.
3. Đánh giá vai trò nội soi lồng ngực hỗ trợ trong phẫu thuật Nuss.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Lõm ngực là dị dạng phổ biến nhất của thành ngực trước, chiếm 87%
các dị dạng của lồng ngực. Đề tài nghiên cứu này nhằm xác định phẫu
thuật Nuss trong điều trị chỉnh sữa dị tật lõm ngực bẩm sinh ở nước ta hiện
nay là phẫu thuật an toàn, hiệu quả và ít xâm lấn vì không mở xương ức và
cắt các sụn sườn quá phát. Trước đây dị tật này ở nước ta chưa có can
thiệp ngoại khoa nào an toàn và hiệu quả như phẫu thuật Nuss. Nên đề tài
nghiên cứu có tính thời sự, cấp bách và cần thiết.
3. Những đóng góp mới của luận án
Công trình nghiên cứu này đã xây dựng được bảng phân loại lõm
ngực mới phù hợp với con người và hoàn cảnh Việt Nam, bảng phân loại
lõm ngực mới này đã góp phần vào quá trình chọn lựa những phương thức
điều trị thích hợp.
Hình 1.11: Lõm ngực hình chén
3
Hình dáng
Lõm hình chén – đáy sâu, khu trú, lõm hình dĩa đáy nông và rộng hơn
hay như dạng ngực lép. Lõm hình dĩa hay ngực lép thường khó xác định
rõ được bờ của hố lõm.
Tính đối xứng: Lõm ngực có thể đối xứng hoặc không đối xứng với hố
lõm nằm ở vị trí bên phải vượt trội hơn bên trái của lồng ngực.
Độ lõm ngực: Đánh giá mức độ lõm ngực dựa vào đường kính ngang của
lồng ngực với đường kính trước sau của hố lõm .
1.5.2. Phân loại theo Hyung Joo Park
Loại 1: Lõm đối xứng.
- Loại 1A: Lõm đồng tâm, đối xứng, sâu ở phần dưới xương ức.
- Loại 1B: Lõm đồng tâm, nông, rộng, đối xứng.
Loại 2: Lõm không đối xứng.
- Loại 2A: Hố lõm nằm ở một bên xương ức:
Loại 2 A1: Tâm lõm nằm một bên, khu trú.
Loại 2 A2: Lõm lệch tâm, nông, rộng một bên.
Loại 2 A3: Lõm sâu từ xương đòn đến phần dưới lồng ngực.
- Loại 2B: Hố lõm nằm giữa, bờ hố lõm bên này thấp hơn bên kia.
- Loại 2C: Phối hợp Loại 2A và Loại 2B.
1.6. Những ảnh hƣởng của bệnh lõm ngực
1.6.1. Ảnh hưởng tâm lý – thể chất
Trẻ nhỏ bị lõm ngực do chưa nhận thức về hình thể lồng ngực nên bé
thường không thay đổi tâm lý như: mặc cảm, tự ti hay xấu hổ về dị tật của
mình. Tuy nhiên, khi đến tuổi dậy thì hay vị thành niên, trẻ bắt đầu có tâm
lý mặc cảm, tự ti, xấu hổ về hình dáng lồng ngực của mình nên hay xa
lánh bạn bè, tránh né các tình huống cởi bỏ áo trước mặt trẻ khác. Khi
nhất của hố lõm:
PI ≤ 1.2: biến dạng nhẹ.
1.2 < PI < 1.3: biến dạng trung bình.
PI ≥ 1.3: biến dạng nặng.
Chụp cắt lớp điện toán
Hình 1.20: Tim bị chèn ép lệch sang trái
- Haller CT Index (HI): là tỉ số giữa đường kính ngang và đường kính
trước sau ngắn nhất tại nơi lõm nhất.
HI ≤ 2,56: bình thường.
2,56 < HI ≤ 3,25: lõm ngực nhẹ.
HI > 3,25: lõm ngực nặng.
5
Chức năng hô hấp: Đa số bệnh nhân lõm ngực có chức năng hô hấp bình
thường lúc nghỉ ngơi. Tuy nhiên, khi bệnh nhân hoạt động thể lực tăng
lên, chức năng hô hấp sẽ giảm. Theo Brown và Cook (1953), mặc dù dung
tích sống bình thường nhưng thông khí tối đa giảm 50% và tăng 31% sau
phẫu thuật. Nghiên cứu của Cahill và cộng sự (1984), dùng công cơ kế
vòng để đánh giá chương trình luyện tập trẻ lõm ngực ở thời điểm trước và
sau khi phẫu thuật. Nhóm tác giả đã chứng minh rằng những bệnh nhân
này có cải thiện về thể tích nhát bóp của tim và thông khí tối đa cao hơn so
với trước phẫu thuật.
Siêu âm tim: Giúp đánh giá cung lượng tim, chức năng hai thất và hẹp
đường ra của thất, đặc biệt thất phải như: chèn ép thất phải; sa van hai lá...
Điện tâm đồ: Trục tim lệch phải, ST chênh xuống, rối loạn nhịp tim:
block nhĩ thất độ I, block nhánh phải, hội chứng Wolff-Parkinson-White.
1.6.2.3. Chỉ định phẫu thuật
Tất cả những bệnh nhân lõm ngực có ít nhất một trong các tiêu chuẩn:
hay rách nhu mô phổi. Nuss D. (2008), tỉ lệ tràn máu màng phổi phải đặt
dẫn lưu là 0,6%.
Nhiễm trùng vết mổ: Sau mổ thường sử dụng kháng sinh từ 3 đến 5
ngày. Tuy nhiên, khi có nhiễm trùng vết mổ thì có thể cắt chỉ để hở vết mổ
cho dịch thoát ra ngoài và cấy mủ làm kháng sinh đồ. Kháng sinh điều trị
thích hợp theo kháng sinh đồ.
Viêm màng tim: Viêm màng ngoài tim chiếm khoảng 0,4% sau mổ.
Nguyên nhân chưa được xác định rõ, có thể do dị ứng thanh kim loại hoặc
chấn thương màng tim. Điều trị bằng prednisone thời gian ngắn thì khỏi.
Lệch thanh kim loại : Tỉ lệ di lệch thanh khá cao ở thập niên đầu phẫu
thuật chiếm 18%, nhờ cải tiến dụng cụ cố định nên tỉ lệ lệch thanh giảm
xuống còn 2%. Cố định hiện nay là dùng nẹp kim loại cố định đầu thanh
phía bên trái, còn bên phải ta khâu 2 dải chỉ PDS để cố định thanh vào
xương sườn.
Dị ứng thanh kim loại: Dị ứng Nickel ít hơn 2% tất cả bệnh nhân. Biểu
hiện nổi mẩn thành ngực trước, viêm quanh thanh kim loại, rỉ dịch vết mổ
nhưng cấy dịch không thấy vi trùng, xét nghiệm kiểm tra dị ứng Nickel
7
cho kết quả dương tính. Bệnh nhân có thể có tràn dịch màng tim và màng
phổi kèm theo
Thủng tim: Biến chứng thủng tim chỉ xảy ra ở giai đoạn đầu phẫu thuật,
khi nội soi lồng ngực hỗ trợ chưa phổ biến rộng rãi, đã được công bố ở vài
trung tâm, hiện nay ít xảy ra. Việc đánh giá hình ảnh chụp cắt lớp điện
toán trước mổ xem sự liên quan giữa tim và xương ức rất quan trọng trong
quá trình phẫu thuật, đặt biệt đối với bệnh nhân lõm ngực không đối xứng
nặng và xoắn xương ức. Nếu tim bị chèn ép nặng, ta có thể nâng xương ức
lên bằng chỉ thép trước khi rạch da hai bên ngực nhằm giảm tối đa nguy cơ
tổn thương tim và màng tim.
quả nghiên cứu của Nuss D. (2008).
m: Sai số cho phép = 0,03; α=0,05. Mẫu tối thiểu là 203.
2.2.2. Phƣơng pháp thu thập số liệu
2.2.2.1. Đánh giá lâm sàng
- Tuổi, giới.
- Thời gian phát hiện bệnh.
- Mệt, hồi hộp, đau vùng trước ngực.
- Thở nhanh nông khi vận động.
- Viêm hô hấp kéo dài, hen phế quản.
Xây dựng bảng phân loại lõm ngực dựa vào các tiêu chuẩn sau:
- Hình dáng hố lõm: dạng điểm (khu trú), dạng diện (lan rộng).
- Tính đối xứng: lõm đối xứng khi tâm hố lõm nằm trên xương ức,
lõm không đối xứng khi tâm hố lõm nằm bên phải hay bên trái xương ức.
- Độ sâu của hố lõm (d): độ sâu hố lõm tính từ bờ cao nhất của hố lõm
đến đáy hố lõm theo đường thẳng đứng: d ≤ 2cm: bình thường; 2cm < d ≤
3cm: lõm ngực nhẹ; d > 3cm: lõm ngực nặng.
Hình 2.34: Đo độ sâu hố lõm
- Chiều dài hố lõm: tính theo chiều dài của xương ức: 1/3 dưới xương
ức, 2/3 dưới xương ức, hơn 2/3 xương ức.
2.2.2.2. Đánh giá cận lâm sàng: Khảo sát 5 yếu tố
- X-quang ngực quy ước: thẳng – nghiêng.
- Chụp cắt lớp điện toán ngực không cản quang.
- Chức năng hô hấp.
9
- Siêu âm tim.
- Điện tâm đồ.
2.2.2.3. Dụng cụ phẫu thuật
quan sát tốt.
Nâng xƣơng ức: Sau khi thanh kim loại luồn qua trung thất và mặt lõm
hướng ra sau, dùng dung cụ xoay thanh 180 độ đẩy ngực lõm ra trước.
Cố định thanh kim loại: Dùng chỉ thép khâu cố định 2 đầu thanh vào
xương sườn kế cận hai bên hoặc dùng ví t cố định một đầu , đầu còn lại cố
định bằng chỉ thép.
Số lƣợng thanh kim loại: Sử dụng 1 thanh kim loại đối với bệnh nhân
còn nhỏ hay trước tuổi dậy thì. Những bệnh nhân sau tuổi dậy thì hay lớn
hơn, bệnh nhân kèm hội chứng Marfan, lõm không đối xứng, dạng diện
cần đặt 2 thanh.
Rút thanh kim loại: Thanh kim loại đặt trong lồng ngực từ 2 - 4 năm. Rút
thanh được thực hiện bằng gây mê tổng quát, hai đầu thanh kim loại phải
di động hoàn toàn và uốn thẳng. Sau rút thanh, chụp X quang ngực thẳng
kiểm tra.
Chăm sóc sau mổ
Giảm đau sau mổ: Duy trì tê ngoài màng cứng, lưu kim 3 ngày sau mổ,
giảm đau đường tĩnh mạch hay giảm đau không phải corticoid tiêm bắp.
Kháng sinh: Tiếp tục ít nhất 48 giờ sau mổ, thông thường sử dụng 5-7 ngày.
Vận động
- Ngày 1: nằm phẳng, giữ thẳng cột sống lưng.
- Ngày 2: nâng giường lên, giữ thẳng lưng, không cho gập lưng, vặn,
lăn. Hỗ trợ khi đi ra khỏi giường vài lần đầu.
Xuất viện
- Khi tự đi lại được, thời gian nằm viện trung bình 4 - 7 ngày.
- Thuốc: kháng sinh, giảm đau.
- Giữ lưng thẳng: không nên gập 2 tuần đầu.
2.2.2.6. Đánh giá kết quả phẫu thuật
Đánh giá kết quả lâm sàng theo tác giả Goretsky M.J:
- Kết quả rất tốt: Bệnh nhân hoàn toàn hài lòng về kết quả phẫu thuật,
các triệu chứng phối hợp không còn sau phẫu thuật.
3.1. Đặc tính nhóm nghiên cứu
Bảng 3.1. Giới (n=229)
Giới
Số trƣờng hợp
Tỉ lệ (%)
Nam
184
80
Nữ
45
20
12
3.3. Phân loại lõm ngƣ̣c
Bảng 3.5. Hình dạng lõm ngực (n=229)
Số trƣờng hợp
Tỉ lệ (%)
Dạng điểm
2
29,3
Khó thở khi gắng sức
57
24,9
Ảnh hưởng tâm lý
63
27,5
Sa sút thể lực
36
15,7
Sa sút trí tuệ
3
1,3
13
3.5. Đặc điểm cận lâm sàng
Trung bì nh
Độ lệch chuẩn
Thời gian phẫu thuật (phút)
91
(40 – 320)
31
Lượng máu mất (ml) *
20
(10 - 1000)
20-35
8,4
(4 – 20)
2,1
Thời gian nằm viện (ngày)
(*) Trung vị
3.7. Biến chƣ́ng sớm
Bảng 3.20. Biến chứng sớm (n=229)
Biến số
5
2,2
Nhiễm trùng vết mổ
4
1,7
Viêm phổi
1
0,4
Xẹp phổi
1
0,4
23
10
Tổng số
3
1,3
Nâng thanh quá mƣ́c
6
2,6
Tổng số
47
20,5
(*) Trung bì nh và độ lệch chuẩn
3.8. Phẫu thuật có nội soi hỗ trợ
Trong số 229 bệnh nhân, có 8 trường hợp, chúng tôi cần phải sử dụng
nội soi lồng ngực hỗ trợ, kết quả được ghi nhận như sau:
Bảng 3.24. Tiền căn phẫu thuật và bệnh kết hợp (n=8)
Số trƣờng hợp
Tỉ lệ (%)
8
3,5
Lõm ngực nặng (HI>15)
2
0,9
HI
7,7 ± 5,32*
(3,8 - 19,3)
Biến số
Tổng số
Tiền căn PT
Bệnh kết hợp
(*) Trung bì nh và độ lệch chuẩn
15
Bảng 3.26. So sánh kết quả có nội soi và không nội soi lồng ngực.
Biến số
Có nội soi
(n=8)
Không nội soi
(n=221)
và sau rút thanh (n=28)
Trƣớc phẫu thuật
Trung hạn
Sau rút thanh
p*
HI
5,0 ± 3,2
2,67 ± 0,43
2,56 ± 0,40
0,0021
EF %
68,6 ± 4,5
67,1 ± 5,4
73,1 ± 4,2
75,9 ± 17,9
76,7 ± 17,6
81,1 ± 16,1
0,067
Biến số
(*) Kiểm đị nh ANOVA (Huynh-Feldt)
3.10. Kết quả lâm sàng sau rút thanh (n=28)
Có 28 trường hợp (12,2%) rút thanh sau 3 năm. Kết quả theo dõi sau
rút thanh từ 1 đến 3 tháng, đươc ghi nhận như sau : Rất tốt 82,1%, tốt
14,3%, khá 3,6%.
16
Chƣơng 4: BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm dịch tễ học
4.1.1. Giới
Theo tác giả Kelly R.E và cộng sự (2010): nghiên cứu và điều trị 1215
bệnh nhi lõm ngực tại bang Virginia (Mỹ) trong giai đoạn từ năm 1987
đến năm 2008, tỉ lệ nam /nữ là 4/1. Park H.J và cộng sự (2010), phân tích
dữ liệu từ 1170 bệnh nhân lõm ngực được điều trị bằng phẫu thuật xâm lấn
tối thiểu trong thời gian từ năm 1999 đến năm 2008 tại bệnh viện Mary
(Seoul, Hàn Quốc), trong đó có 941 nam và 229 nữ, tỉ lệ nam/nữ là 4/1.
Như vậy, với tỉ lệ nam gấp 4 lần nữ, số liệu của chúng tôi tương đương với
phẫu thuật sẽ khó khăn hơn vì thành ngực trở nên vững chắc và cứng hơn
nên việc uốn nắn thành ngực khó khăn và biến chứng xảy ra nhiều hơn.
Như vậy tuổi trung bình trong nghiên cứu chúng tôi là 16,2 tương đương
với các tác giả trên.
4.3. Phân loại lõm ngực
Cartoski M.P. và cộng sự (2006), nghiên cứu hì nh dáng lõm ngực của
64 bệnh nhân, tác giả nhận thấy đa số các trường hợp lõm ngực không đ ối
xứng với tâm hố lõm nằm về bên ph ải của xương ức chỉ có 3 trường hợp
có tâm h ố lõm nằm về bên trái xương ức. Zeng Q . và cộng sự (2008),
nghiên cứu hì nh dáng lõm ng ực của 403 bệnh nhân điều trị bằng phẫu
thuật xâm lấn tối thiểu từ năm 2002 đến năm 2007. Lõm ngực đối xứng có
257 trường hợp (63,8%), không đối xứng 146 trường hợp (36,2%).
Theo Kelly R.E và cộng sự (2013), nghiên cứu về hình dáng lõm ngực
ở 300 bệnh nhân: dạng hình chén 201 trường hợp (67%), hình dĩa 63
trường hợp (21%), 3 trường hợp vừa lồi vừa lõm kèm theo (1%), dạng
Grand Canyon 30 trường hợp (10%); có 240 trường hợp (80%) lõm ngực
không đối xứng với tâm hố lõm lệch về bên phải của xương ức, có 30
trường hợp lệch về bên trái xương ức (10%), 30 trường hợp lõm đối xứng
với tâm hố lõm nằm trên xương ức, có 225 trường hợp (75%) lõm từ 1/2
xương ức đến mũi ức và 75 trường hợp còn lại (25%) lõm ngực nằm phần
trên xương ức. Một số trường hợp khó xác định chiều dài cũng như chiều
rộng của hố lõm do khó xác định chính xác bờ hố lõm.
Như vậy so với nghiên cứu các tác giả trên, nghiên cứu của chúng tôi
có một số điểm tương đồng như đa số các trường hợp lõm ngực có hình
dáng không đối xứng, tâm hố lõm chủ yếu nằm về bên phải xương ức,lõm
ngực chủ yếu 1/3 hay nửa dưới xương ức.
Bảng 4.36. So sánh phân loại lõm ngực
Tác giả
Giống nhau
sát và đo độ sâu hố lõm
trên lâm sàng
18
Trong quá trình nghiên cứu , chúng tôi nh ận thấy bảng phân loại trên
đơn giản và dễ áp dụng trong quá trình phẫu thuật vì chỉ cần quan sát hình
dáng, tính đối xứng, đo độ sâu và tính chiều dài của hố lõm so với xương
ức. Lõm ngực dạng điểm trước tuổi dậy thì (6-12 tuổi), chỉ cần đặt 1 thanh.
Những bệnh nhân lõm ngực dạng diện, ngực lép, Grand Canyon, không đối
xứng hay lớn hơn 13 tuổi đòi hỏi phải đặt 2 thanh. Bệnh nhân có độ sâu hố
lõm lớn hơn 7 cm, cần nội soi hỗ trợ trong quá trì nh phẫu thuâ.̣ t
4.4. Lâm sàng
4.4.1. Thiếu sức chịu đựng khi luyện tập
Fonkalsrud E.W và cộng sự (2000), công bố 30 năm kinh nghiệm
phẫu thuật lõm ngực cho 375 bệnh nhân lõm ng ực từ năm 1969 đến năm
1999 tại bệnh viện UCLA (Mỹ), triệu chứng thiếu sức chịu đựng khi luyện
tập có 251 bệnh nhân (67%), nghĩa là khoảng 10 bệnh nhân đ ược phẫu
thuật thì 7 người có triệu chứng thiếu sức chị u đựng khi luyện tập . Theo
Nuss D. và cộng sự (2008), nghiên cứu và điều trị hơn 900 trường hợp lõm
ngực từ năm 1987 đến năm 2007 bằng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu. Triệu
chứng thiếu sức chịu đựng khi luyện tập có 739 trường hợp (82%).
Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi về triệu chứng thiếu sức chịu đựng
khi luyện tập có kết quả phù hợp với nghiên cứu các tác giả trên.
4.4.2. Đau ngực
Tỉ lệ đau ngực của Fonkalsrud E.W và cộng sự (2000) là 48 trường
hợp (12,8%); Davis J.T và Weisntein S. (2004) là 26%; Nuss D. cộng sự
(2008) là 51%. Như vậy , triệu chứng đau ngực trong nghiên cứu c ủa
chúng tôi có kết quả tương đương với Davis J.T và Weisntein S., cao hơn
Fonkalsrud E.W và cộng sự và thấp hơn Nuss D. và cộng sự.
5,15
10
30,3
5
32
5
Tác giả
HI
Gorestky M.J
(n=608)
Kelly R.E
(n=1215)
Pilegaard H.K
(n=180)
Thời gian
phẫu thuật
(phút)
41
màng phổi 2 trường hợp (0,2%) đặt dẫn lưu màng phổi, nhiễm trùng vết
mổ 11 trường hợp (1,1%), viêm phổi 6 trường hợp (0,6%), viêm màng
ngoài tim 4 trường hợp (0,4%), dị ứng thanh kim loại 29 trường hợp
(2,9%), lệch thanh kim loại 58 trường hợp (5,8%), nâng ngực quá mức 32
trường hợp (3,2%), tái phát 8 trường hợp (0,8%) và tử vong 1 trường hợp
(0,1%) do tai nạn giao thông 2 năm sau phẫu thuật.
Pilegaard H. K. và cộng sự (2008), thực hiện phẫu thuật xâm lấn tối
thiểu 180 bệnh nhân tuổi trưởng thành từ 18 đến 43 tuổi từ năm 2001 đến
năm 2007. Tất cả bệnh nhân đều đạt kết quả tốt, trong đó 57 trường hợp
(32%) được đặt 2 thanh và 2 trường hợp đặt 3 thanh. Biến chứng tràn khí
20
màng phổi có 4 trường hợp đòi hỏi đặt dẫn lưu màng phổi (2,2%), có 3
trường hợp (1,7%) di lệch thanh trong quá trình theo dõi.
Tương tự, Kelly R.E. và cộng sự (2010) công bố kết quả 21 năm kinh
nghiệm giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2008, điều trị lõm ngực 1215 bệnh
nhân bằng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, biến chứng sớm được ghi nhận
như sau: có 45 trường hợp đòi hỏi đặt dẫn lưu màng phổi (3,7%), tràn máu
màng phổi 6 trường hợp (0,5%), nhiễm trùng vết mổ 11 trường hợp (1%),
viêm phổi 6 trường hợp (0,5%), viêm màng tim 5 trường hợp (0,5%), tràn
dịch màng phổi 3 trường hợp (0,3%). Biến chứng tràn khí màng phổi của
chúng tôi là 3%, tương đương các tác giả trên.
Tràn khí màng phổi
Trong nghiên cứu của chúng tôi , biến chứng tràn khí màng phổi là 7
trường hợp (3%) thấp hơn các tác gi ả Park H .J. và cộng sự (7,5%), gần
tương đương với các tác giả Pilegaard H.K. và cộng sự (2,2%), Nuss D. và
cộng sự (3%), thấp hơn Kelly R .E. và cộng sự (4%). Như vậy, tỉ lệ biến
chứng tràn khí màng phổi của chúng tôi có kết quả không khác biệt so với
các tác giả trên.
4.5.3. Nội soi lồng ngực hỗ trợ
Theo Nuss D. và cộng sự (2008), nghiên cứu điều trị bằng phẫu thuật
xâm lấn tối thiểu 1015 bệnh nhân lõm ngực từ 1987 đến 2008, số bệnh
nhân phẫu thuật lại có dùng nội soi lồng ngực hỗ trợ do thất bại của phẫu
thuật trước đó được ghi nhận: 44 trường hợp phẫu thuật Nuss, 40 trường
hợp phẫu thuật Ravitch, 2 trường hợp phẫu thuật Leonard. Tác giả cho
rằng nội soi lồng ngực hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong nhóm bệnh
này, vì nội soi giúp quan sát quá trình bóc tách và gỡ dính trước khi tạo
đường hầm xuyên qua trung thất trước. Theo Ji Y. và cộng sự (2008), từ
tháng 7/2003 đến 11/2007 điều trị 21 bệnh nhân lõm ngực tái phát bằng
phẫu thuật xâm lấn tối thiểu và không sử dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ ,
trong đó 15 trường hợp do phẫu thuật Nuss và 6 trường hợp phẫu thuật
Ravitch trước đó thất bại. Kết quả phẫu thuật đều thành công. Tác giả cho
rằng mặc dù ph ẫu thuật lõm ngực tái phát khó khăn hơn phẫu thuật lần
đầu, tuy nhiên không sử dụng nội soi lồng ngực khi thực hiện phẫu thuật
thì an toàn, hiệu quả, giảm thời gian phẫu thuật.
Thực tế, nghiên cứu 8 trường hợp sử dụng nội soi lồng ngực hỗ tr ợ
của chúng tôi đều là những trường hợp khó và phức tạp, nhưng cho kết
quả thành công và không có trường hợp biến chứng nặng nào, mặc dù thời
gian phẫu thuật lâu hơn 122 phút so với không sử dụng nội soi lồng ngực
hỗ trợ 90 phút. Như vậy, sử dụng nội soi lồng ngực hỗ trợ trong phẫu thuật
xâm lấn tối thiểu thì an toàn, hiệu quả, nhưng thời gian phẫu thuật lâu hơn.
4.5.4. Số lƣợng thanh
Chúng tôi nhận thấy tỉ lệ đặt 2 thanh trong nghiên cứu c ủa chúng tôi
là 36,7%, cao hơn so với các tác gi ả khác. Tỉ lệ đặt 2 thanh của Park H .J
và cộng sự là 18,5%, Nuss D. và cộng sự là 21,9%, Kelly R.E và cộng sự
là 30,3%, Pilegaard H.K và cộng sự là 32%. Trong nghiên cứu của chúng
tôi không có trường hợp nào đặt 3 thanh, nghiên cứu của Pilegaard H.K và
cộng sự có 2 trường hợp đặt 3 thanh; Kelly R.E và cộng sự có 4 trường
hợp đặt 3 thanh.
(2010) nghiên cứu chức năng tim - phổi đối với 739 bệnh nhân lõm ngực
cho thấy rằng cung lượng tim và thể tích nhát bóp tăng lên sau phẫu thuật
điều trị lõm ngực. Mặt khác, chức năng hô hấp tăng lên có ý nghĩa sau
phẫu thuật và sau rút thanh.
4.6. Đánh giá kết quả sau rút thanh
Có 28 trường hợp (12,2%) rút thanh sau 3 năm. Kết quả theo dõi sau
rút thanh từ 1 đến 3 tháng, đươc ghi nhận như sau : Rất tốt 82,1%, tốt
14,3%, khá 3,6%.
Theo Nuss D. và cộng sự (2008), nghiên cứu kết quả điều trị sau rút
thanh 628 bệnh nhân trong tổng số 1015 bệnh nhân lõm ngực được thực
hiện từ năm 1987 đến năm 2008. Kết quả được ghi nhận: rất tốt (86%), tốt
23
(10,3%), khá (2,4%), kém (1,3%). Park, H.J và cộng sự (2010) nghiên cứu
về kết quả đi ều trị 1170 bệnh nhân lõm ngực từ năm 1999 đến năm 2008,
trong đó có 576 trường hợp được rút thanh kim loại (49,2%), trung bình
thời gian đặt thanh 2,5 năm. Kết quả được đánh giá: rất tốt (92,7%), tốt
(5,9%), khá (1,4%). Theo nghiên cứu của Kelly R.E và cộng sự (2010),
kết quả được theo dõi trung vị 854 ngày sau rút thanh với 790 bệnh nhân:
kết quả rất tốt 85,3%, tốt (10,5%), khá (1,4%), kém (0,8%). Theo Qiang
Shu và cộng sự (2011), nghiên cứu kết quả điều trị 406 bệnh nhân điều trị
lõm ngực bằng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, trong giai đoạn từ tháng 6
năm 2004 đến tháng 2 năm 2011. Tổng cộng có 154 bệnh được rút thanh,
đánh giá kết quả sau rút thanh được ghi nhận như sau: rất tốt (95,3%), tốt
(3%), khá (1,7%). Như vậy, kết quả sau rút thanh của chúng tôi tương
đương các tác giả trên.
KẾT LUẬN
Trong thời gian t ừ 2/2009 đến 8/2012, tại khoa Ngoại Lồng ngực Mạch máu, bệnh viện Chợ Rẫy TP.HCM có 229 trường hợp đủ tiêu chuẩn