BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN XUÂN TĨNH
BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐÁ BÓNG
CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH GDTC –
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN XUÂN TĨNH
BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐÁ BÓNG
CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH GDTC –
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
Chuyên ngành: Giáo dục Thể chất
Mã số: 60.14.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHAN THỊ HỒNG VINH
HÀ NỘI, NĂM 2015
: Giáo viên
SV
: Sinh viên
GDTC
: Giáo dục thể chất
TDTT
: Thể dục thể thao
CĐSL
: Cao đẳng Sơn la
TT
: Thứ tự
m
: mét
s
: giây
Bảng 2.4.1. Thực trạng về các kỹ năng đá bóng mà SV thường................48
được rèn luyện...........................................................................................48
Bảng 2.4.3. Thực trạng sử dụng các phương pháp để rèn luyện kỹ năng đá
bóng cho SV...............................................................................................52
Bảng 2.4.3.1. Thực trạng phương pháp GV sử dụng rèn luyện kỹ năng đá
bóng cho SV...............................................................................................54
Bảng 2.4.3.2. Kết quả phỏng vấn lựa chọn 1 số bài Test đánh giá biện pháp
rèn luyện kỹ năng đá bóng..........................................................................57
Bảng 2.5.1.1. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới rèn luyện kỹ năng đá
bóng của SV (tính theo %)........................................................................60
Bảng 2.5.2. Các yếu tố khách quan ảnh hưởng tới rèn luyện kỹ năng đá
bóng của SV (tính theo %).........................................................................64
Bảng 2.5.5. So sánh mức độ ảnh hưởng của yếu tố chủ quan và yếu tố
khách quan tới rèn luyện kỹ năng đá bóng của SV....................................67
Bảng 3.3.4 . Cơ sở vật chất phục vụ môn bóng đá của Trường Cao đẳng
Sơn La cần tăng cường...............................................................................78
Bảng 3.3.6. Bảng các mức độ đánh giá kết quả học tập học phần.............81
Bảng 3.5.1: Kết quả kiểm tra kĩ năng đá bóng của 2 nhóm đối chứng và
thực nghiệm của sinh viên chuyên ngành GDTC - Trường Cao Đẳng Sơn
La (nA = nB= 14) tbảng = 2,14..................................................................84
Bảng 3.5.2. Kết quả kiểm tra kĩ năng đá bóng của 2 nhóm đối chứng và
thực nghiệm sau 1 tháng thực nghiệm. (nA = nB= 14) tbảng = 2,074.......85
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.3.2.2. Nhận thức của SV về mục đích rèn luyện kỹ năng đá bóng
....................................................................................................................48
Biểu đồ 2.5.1.2. Biểu đồ minh họa ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan....63
giáo dục phải thực sự là quốc sách hang đầu’’.
Giáo dục thể chất là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và
Nhà nước ta, và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục thể chất
1
được hiểu là: “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn
thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi
thọ của con người”.
Giáo dục thể chất là một lĩnh vực thể dục thể thao (TDTT) xã hội với
nhiệm vụ là: “Phát triển toàn diện các tố chất thể lực, và trên cơ sở đó phát
triển các năng lực thể chất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khoẻ,
hình thành theo hệ thống và tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỹ
năng và kỹ xảo quan trọng cho cuộc sống”. Đồng thời chương trình giáo dục
thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp
nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục đó là: “Trang bị kiến thức, kỹ năng và
rèn luyện thể lực cho học sinh sinh viên”.
Trước nhũng yêu cầu đổi mới toàn diện đó, để nâng cao chất lượng
hiệu quả của giáo dục phải tiến hành đổi mới giáo dục theo hướng tiên tiến và
hiện đại, một trong những hoạt động của quá trình đó chính là đổi mới nội
dung kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo theo hướng tích cực hóa. Nội dung
kiểm tra, đánh giá phải luôn bám sát vào chương trình học để đánh giá chính
xác và có hiệu quả nhằm phát huy hết năng lực của người học.
Sinh viên chuyên ngành GDTC là lực lượng lao động trí thức trong
tương lai của đất nước họ có nhiệm vụ vô cùng quan trọng là chăm lo, giáo
dục thể chất cho thế hệ trẻ Việt Nam trong tương lai và là người trực tiếp thực
hiện đề án: “Nâng cao tầm vóc và thể trạng người Việt Nam’’ của viện khoa
học Thể Dục Thể Thao. Do đó, để góp phần phát triển nguồn nhân lực quan
trọng của đất nước có trí tuệ cao, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo
đức, đáp ứng được những đòi hỏi của nền kinh tế - xã hội thì việc quan tâm
GDTC Trường Cao Đẳng Sơn La.
Chính vì những lí do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài:
Biện pháp rèn luyện kỹ năng đá bóng cho sinh viên chuyên ngành
GDTC – Trường Cao Đẳng Sơn La
3
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu biện pháp nhằm phát triển rèn luyện kỹ năng đá bóng cho
sinh viên chuyên ngành khoa Giáo Dục Thể Chất Trường Cao Đẳng Sơn La
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Biện pháp rèn luyện kỹ năng đá bóng cho sinh viên chuyên ngành
GDTC Trường Cao Đẳng Sơn La.
3.2 Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy học môn bóng đá cho sinh viên chuyên ngành GDTC
Trường Cao Đẳng Sơn La
4. Giả thiết khoa học:
4.1 Kỹ năng đá bóng của sinh viên chuyên ngành GDTC còn hạn chế
một trong những nguyên nhân là do điều kiện tập luyện phương pháp tập
luyện chưa hợp lý.
4.2 Nếu bổ sung bài tập nâng cao về thực hành và thi đấu thường xuyên
vào chương trình môn học thì sẽ phát huy được tiềm năng và phát triển kỹ
năng đá bóng cho sinh viên chuyên ngành GDTC Trường Cao Đẳng Sơn La.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa vấn đề lý luận về phát triển rèn luyện kỹ năng đá
bóng cho sinh viên chuyên ngành GDTC.
5.2 Đánh giá thực trạng sự phát triển rèn luyện kỹ năng của sinh viên
môn bóng đá trong chương trình hiện hành của sinh viên chuyên ngành
GDTC Trường Cao Đẳng Sơn La.
nguyên nhân những hạn chế trong việc xây dựng biện pháp rèn luyện kỹ năng
thực hành của sinh viên chuyên ngành khoa GDTC.
- Phỏng vấn sinh viên khoa GDTC Trường Cao Đẳng Sơn La về nhu
cầu, điều kiện, phương tiện phục vụ cho công tác tập luyện, rèn luyện kỹ năng
chất lượng học tập môn bóng đá của sinh viên khoa GDTC.
7.3 Phương pháp dùng bài thử:
Là hệ thống các phương pháp nâng cao bài tập phát triển năng lực được
thực tiễn thừa nhận, tiêu chuẩn hóa về nội dung, hình thức và điều kiện thực
tiễn nhằm đánh giá chính xác kỹ năng thực hành của sinh viên.
5
7.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
- Là phương pháp mà người ta đưa vào quá trình giảng dạy,huấn luyện
những nhân tố mới phương pháp nghiên cứu, xây dựng hệ thống bài tập thực
hành bóng đá nhằm phát triển năng lực bóng đá cho sinh viên trường cao
đẳng sư phạm sơn la.
7.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm:
- Xây dựng hệ thống các nội dung biện pháp rèn luyện kỹ năng mới dựa
vào tiêu chuẩn đánh giá hiện hành để kiểm tra và so sánh.
- Áp dụng các nội dung kiểm tra được xây dựng giúp nghiên cứu có các
chứng cứ khách quan để nâng cao chất lượng năng lực trong quá trình tập
luyện thực hành môn đá bóng cho sinh viên.
- Sử dụng các test thể lực để áp dụng vào quá trình nghiên cứu.
7.6 Phương pháp toán học thống kê.
Phương pháp này dùng để xử lí các số liệu thu thập được sau khi thực
nghiệm nhằm xây dựng có hiệu quả nội dung kiểm tra đánh giá kĩ năng thực
hành môn đá bóng cho sinh viên chuyên ngành GDTC.
8. Cấu trúc của luận văn:
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, giữ vững an ninh quốc phòng.
Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu của GDTC trong nhà trường các cấp
là gắn liền và góp phần thực hiện mục tiêu của giáo dục và đoàn tạo theo tinh
thần nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản việt nam, nhằm nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và
có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ và năng động sáng tạo.
Ở Liên xô trước đây quan điểm giáo dục con người toàn diện đã được
V.I.lênin quan tâm và phát triền.Người ta vách ra mối tương quan giữa giáo
dục và điều kiện vật chất xã hội. Đồng thời làm phong phú thêm cho tư tưởng
Mác - Ăngghen được áp dụng cho chế độ xã hội chủ nghĩa. Lênin là người
đầu tiên đưa GDTC là nội dung bắt buộc vào trong nhà trường các cấp.
7
Nhận thức rõ về lợi ích của TDTT đối với cá nhân và xã hội, ngay sau
khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa được thành lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn dân
tham gia tập thể dục và bản thân người luôn luôn đi đầu trong công việc cũng
như tự giác tập luyện TDTT. Đồng thời người đã ký sắc lệnh thành lập nhà
thể dục, nhằm xây dựng và phát triển phong trào” khỏe vì nước” tư tưởng của
người đã trở thành động lực thúc đẩy phong trào phát triển quần chúng nhân
dân tập thể dục, rèn luyện thân thể và góp phần to lớn trong công cuộc kháng
chiến thắng lợi dân tộc. Trong giai đoạn đất nước xây dựng CNXH, vừa trải
qua chiến tranh với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH
không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đảng ta nhận định” Muốn
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội cần phải có con người mới xã hội chủ
nghĩa”. Đó là con người phát triển toàn diện về Đức - Trí - Thể - Mỹ và lao
động kỹ thuật. Hơn nữa trong những thời kỳ cách mạng khác nhau, đảng và
nhà nước ta luôn quan tâm đến mục tiêu giáo dục cho thế hệ trẻ nhằm giáo
dục hình thành nhân cách cho học sinh, sinh viên - người chủ tương lai của
Ghi rõ:”.... Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần
chúng, từng bước đưa việc rèn luyện thói quen hàng ngày của đông đảo nhân
dân ta, trước hết là thế hệ trẻ, nâng cao chất lượng giáo dục các trường học....
Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội Đảng X về phương hướng nhiệm vụ phát
triển thể dục thể thao 5 năm 2006-2010 đã ghi rõ:”...Việc dạy và học TDTT
trong trường học là bắt buộc...”
Chỉ thị 106/CT-TW ngày 02/10/1958 của Ban Bí thư Trung ương đảng
về công tác TDTT và chính phủ (2002), Chiến lược phát triển giáo dục 20012010 của Ban Bí thư Trung ương đảng về tăng cường coongtacs TDTT trong
những năm tiếp theo là một bước phát triển mới,xác định vị trí quan trọng của
TDTT, coi trọng TDTT là một nhu cầu của quần chúng, là một mặt của chủ
9
nghĩa xã hội. Chủ trương trên được cụ thể hóa tới sụ phát triển phong trào
TDTT trong sinh viên, học sinh....
Chỉ thị 112/CT ngày 09/05/1989 của Hội đồng bộ trưởng (nay là chính
phủ) về công tác TDTT trong những năm trước mắt có ghi:” ....Đối với học
sinh, sinh viên trước hết nhà trường phải thực hiện nghiêm túc việc giảng dạy
môn TDTT theo chương trình quy định, có biện pháp tổ chức, hướng dẫn các
hình thức tập luyện và hoạt động thể thao tự nguyện ngoài giờ học...”.
Chỉ thị 36/CT-TW ngày24/03/1994 về công tác TDTT trong giai đoạn
mới đã nêu rõ: “ Cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân
thể, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp tạo những điều kiện cần
thiết về cơ sở vật chất, để thực hiện chế độ DGTC bắt buộc ở tất cả các
trường học.
Vì vậy, Giáo dục thể chất là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục
đào tạo và thể dục ngành nghề là một mặt
quan trọng trong hệ thống GDTC
cách tiếp cận cơ bản sau:
- Cách tiếp cận thứ nhất: Có thể kể đến các tác giả nghiên cứu nghiêng
về mặt thao tác hành động, hoạt động như:
Theo V.A.Kruchexki thì “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động
hay một hoạt động nào đó nhờ sử dụng những thủ thuật, những phương thức
đúng đắn”. Ông cho rằng: Chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con
người đã có kỹ năng, không cần đến kết quả của hành động.
Trong cuốn A.G. Côvaliôp cũng cho rằng “Kỹ năng là phương thức
thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động, ở đây
ông cũng không đề cập tới kết quả của hành động, theo ông kết quả của hành
động phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó quan trọng hơn là năng lực của con
người chứ không đơn thuần là cách nắm vững cách thức hành động là đem lại
kết quả tương ứng
Tác giả Trần Trọng Thủy, Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động. Còn
người được nắm bắt được cách thức hành động tức là có kỹ thuật hành động
và có kỹ năng.
11
- Cách tiếp cận thứ hai: Xem xét kỹ năng nghiêng về mặt năng lực của
con người. Theo quan niệm này thì kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính
mềm dẻo, linh hoạt sáng tạo, vừa có tính mục đích. Khuynh hướng này nổi
bật với các tác giả: N.Đ Lêvitôp , K.K platonop, Nguyễn Quang Uẩn, Hà Thị
Đức, Trần Quốc Thành,... Tuy Cách trình bày khác nhau, nhưng hầu hết các
tác giả đều thống nhất: Kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả một nhiệm
vụ về mặt lý luận hay thực tiễn nhất định, là khả năng thực hiện có hiệu quả
một nhiệm vụ về mặt lý luận hay thực tiện nhất định, là năng lực vận dụng tri
thức và kinh nghiệm đá có vào hoạt động cá nhân
Theo N.Đ.Levitop thì “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành
động nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng
Mặc dù có các quan điểm khác nhau nhưng nói về kỹ năng các tác giả
đều thống nhất:
- Mọi kỹ năng đều phải dựa trên cơ sở kinh nghiệm đã có. Muốn hành
động, muốn thao tác được trước hết phải có kiến thức về nó.
- Kỹ năng là mặt kỹ thuật của một hành động nhất định, không có kỹ
năng trừu tượng, tách rời hành động của cá nhân, kỹ năng của con người bao
giờ cũng gắn với mục đích hành động.
- Để có kỹ năng đòi hỏi con người phải biết cách thức hành động trong
những điều kiện cụ thể và hành động theo quy trình, muốn vậy, phải có sự
luyện tập.
- Tiêu chuẩn để xác định sự hình thành và mức độ phát triển của kỹ
năng là: tĩnh chính xác, tính thành thạo, tính rút gọn hành động, tính sáng tạo
trong hành động.
- Kỹ năng thuộc phạm trù kết quả hành động có liên quan mật thiết đến
năng lực của con người, vì vậy người ta còn gọi kỹ năng là năng lực chuyên biệt.
13
Với cách tiếp cận trên, chúng ta có thể hiểu : Kỹ năng là năng lực thực
hiện có hiệu quả một hành động hay một công việc nào đó bằng cách vận
dụng linh hoạt kinh nghiệm đã có trong những điều kiện nhất định.
Khi có kỹ năng , nhờ luyện tập mà kỹ xảo được hình thành.
Nghĩa là do sự lập lại một cách có mục đích, có hệ thống thao tác, dẫn
đến sự củng cố và hoàn thiện hành động (hành động trở nên khái quát, thuần
thục.....) quá trình hoàn thiện hành động để hình thành kỹ xảo diễn ra theo
các quy luật: quy luật về sự tiến bộ không đều, quy luật đỉnh của phương pháp
luyện tập, quy luật về sự tác động qua lại giữa kỹ xảo đã có và kỹ xảo mới.
Nắm vững được các kỹ năng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình
thành các kỹ xảo.
mò mẫm, theo con đường thử và sai mà là quá trình tập luyện có mục đích, có
nội dung, có chương trình, có kế hoạch, có phương pháp,.... được tổ chức
dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Các biện pháp tập luyện phải được phát huy được tính tự giác, tích cực,
chủ động sáng tạo của sinh viên, phải biến quá trình tập luyện thành quá trình
tự tập luyện của sinh viên là chính. Có như vậy, trong quá trình tập luyện cho
sinh viên chuyên ngành mới đạt được hiệu quả cao. Nói cách khác, trong quá
trình tập luyện thì giáo viên giữ vai trò chủ đạo, là người có tổ chức, điều
khiển quá trình tập luyện và sinh viên giữ vai trò chủ động, tự tổ chức, tự điều
khiển trong quá trình luyện tập của bản thân.
1.3 Lý luận về rèn luyện kỹ năng đá bóng cho sinh viên chuyên
ngành giáo dục thể chất.
1.3.1 Đặc điểm môn đá bóng.
Đá bóng là môn thể thao đối kháng trực tiếp, các tình huống trên sân rất đa
dạng và phức tạp đòi hỏi phải có ý chí chiến đấu cao, sự phối hợp thông minh
15
của cả một tập thể. Sự phong phú, đa dạng và hấp dẫn của môn đá bóng được thể
hiện ở 3 đặc điểm lớn sau: Tính tập thể, tính chiến đấu, tính phức tạp.
Tính tập thể, trận đấu đá bóng được tiến hành trên sân rộng với 2 đội,
mỗi đội 11 cầu thủ. Trong một đội bóng các cá nhân cầu thủ rất quan trọng,
một đội bóng hay không thể thiếu các cầu thủ xuất sắc. Tuy nhiên không bất
cứ một cầu thủ nào đủ sức vượt qua một không gian rộng lớn và sự cản phá
quyết liệt của đối phương để ghi bàn thắng. Điều đó có nghĩa là sức mạnh của
đội bóng được thể hiện trước hết ở tính tập thể. Điều này đòi hỏi các cầu thủ
phải biết chơi có tổ chức, biết phối hợp chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau
trong tấn công cũng như trong phòng thủ vì mục đích chung của toàn đội là
giành chiến thắng.
Với trình độ kỹ thuật, chiến thuật cao như ngày nay do vậy tính tập thể
xảy ra mà cầu thủ phải giải quyết tức thời, mà trong thực tế các tình huống đó
thường diễn ra rất đa dạng và không hề lập lại. Đây là điều vô cùng khó khăn
nhưng đồng thời lại vô cùng hấp dẫn của đá bóng.
Bóng đá ngày càng phát triển yêu cầu đối với cầu thủ ngày càng cao.
Để đáp ứng tốt được những yêu cầu đó thì trong mỗi cầu thủ phải biết vận
dụng một cách linh hoạt, sáng tạo và hợp lý các kỹ, chiến thuật cả trong tấn
công lẫn phòng thủ ở trình độ cao, trong nhịp độ thi đấu cao của trận đấu
1.3.2 Lợi ích và tác dụng của đá bóng.
Đá bóng là môn thể thao đặc biệt. với sự hoạt động đa dạng, phức tạp,
đòi hỏi cao về ý chí, bóng đá đã đem lại cho người tham gia nhiều lợi ích thiết
thực cả về thể chất lẫn tinh thần.
Đá bóng là môn thể thao giảm sự căng thẳng.
Đến với bóng đá dù với hình thức nào những người tham gia đều có
những giây phút thư giãn sảng khoái, giúp làm giảm sự mệt mỏi về tinh thần
tạo điều kiện tốt cho công việc hàng ngày.
17