BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------------
PHẠM THỊ HỒNG NHUNG
SỬ DỤNG TÁC PHẨM VĂN HỌC GIÁO DỤC
KĨ NĂNG TỰ BẢO VỆ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------------
PHẠM THỊ HỒNG NHUNG
SỬ DỤNG TÁC PHẨM VĂN HỌC GIÁO DỤC
KĨ NĂNG TỰ BẢO VỆ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục mầm non)
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lã Thị Bắc Lý
HĐ
LQVH
TPVH
Giáo dục kĩ năng tự bảo vệ
Giáo viên
Mầm non
Thực nghiệm
Đối chứng
Mẫu giáo
Hoạt động
Làm quen văn học
Tác phẩm văn học
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Trẻ mầm non là thế hệ tương lai của đất nước. Việc chăm sóc và
giáo dục nhằm phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ là nhiệm vụ hàng đầu
của trường mầm non. Ở lứa tuổi này, do chưa hoàn thiện về thể chất, trí tuệ
cũng như tình cảm xã hội, vì thế trẻ dễ bị ảnh hưởng bởi các tác động từ môi
trường xung quanh theo hai chiều hướng: tiêu cực và tích cực. Xã hội hiện đại
luôn thay đổi với tốc độ chóng mặt cùng biết bao cám dỗ, việc giáo dục cho
trẻ những kỹ năng ứng phó trước mọi tình huống, biết quản lý cảm xúc, học
cách giao tiếp, ứng xử với những người xung quanh, giải quyết mâu thuẫn
giữa các mối quan hệ và thể hiện bản thân một cách tích cực, lành mạnh là
yêu cầu luôn đặt ra cho các nhà giáo dục, nhất là giáo dục mầm non.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn : “Sử dụng tác phẩm
văn học giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” làm đề tài để
nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Những nghiên cứu về GD KNTBV
2.1.1. Trên thế giới
Sigmund Freud là người đầu tiên đề cập tới giáo dục kĩ năng tự bảo vệ
(GDKNTBV) nhưng ông chưa phân loại và nghiên cứu một cách có hệ thống
về vấn đề này.
Anna Freud – con gái của Sigmund Freud đã tiếp tục nghiên cứu và mở
rộng vấn đề GD KNTBV trong tác phẩm rất nổi tiếng của mình: “ Ego and
mechanisms of defense” được xuất bản năm 1936. Theo Anna Freud, con người
có những cơ chế tự bảo vệ và cần tác động để tích cực hóa các cơ chế sau:
- Sự đè nén (dồn nén): là gạt bỏ, đẩy ra ngoài vòng ý thức những cảm
nghĩ hình tượng nếu gợi lên thì khó chấp nhận, không thể chịu được. Nội
2
dung những ý nghĩa hình tượng ấy thường gắn với tình dục hoặc hung tính,
không được dư luận xã hội tán thưởng. Theo tác giả Jo.Godefroid, dồn nén là
nén vào vô thức sự ham muốn hoặc tình huống xung đột – một sự quên chủ
động vẫn duy trì toàn bộ thế năng động lực xung năng bị dồn nến và hình
thành kĩ năng tự bảo vệ.
- Sự phóng chiếu: “Phóng chiếu là phóng lên, gán cho người khác
những tình cảm mà siêu tổng mình không chấp nhận” hoặc “phóng lên, gán
cho người khác những cảm xúc, ham muốn mà không thể chấp nhận của
chính bản thân”. Phóng chiếu là một cơ chế tự bảo vệ nhằm giữ thăng bằng
cho bản thân. Chúng ta gán cho người khác những ý nghĩ, lỗi lầm của mình,
đổ lỗi cho người khác khi chúng ta phạm lỗi, trách người khác về những xu
hướng của chúng ta. Phóng chiếu giúp cho chúng ta tránh được sự lo hãi gây
thoả mãn những xung năng bị phong toả ở thời thơ ấu.
- Sự huyễn tưởng: Huyễn tưởng theo nghĩa thông thường là những hình
ảnh, biểu tượng do trí tưởng tượng tạo ra lúc thức hay ngủ. Huyễn tưởng dành
cho những câu chuyện vô thức đặc biệt của thời tấm bé, chủ thể trên cách
vượt qua áp lực của thực tế, tạo ra những câu chuyện “hoang đường”, người
khác không biết đến nhưng trong quá trình phân tích tâm lý có thể suy ra. Đây
là một cơ chế tự bảo vệ trong quá trình hình thành bản ngã, một cách thoả
hiệp giữa bản ngã và các xung lực bản năng và thực tế. Huyễn tưởng là một
sự chạy trốn thực tế quá khó khăn cần vượt qua trong thế giới hiện thực.
- Sự hợp lý hoá: Là tìm cách lý giải biện minh một hành vi vô lý vô
nghĩa, gán cho những động cơ nguyên nhân có vẻ hợp lý và tìm cho một lý do
xác đáng để biện minh cho việc không thể tiến hành một ứng xử hoặc để giải
thích việc chấp nhận một ứng xử mà không thể chấp nhận được. Đây là một
cơ chế nhằm che đậy những cảm xúc vô thức, chủ thể không thể không chấp
nhận được, nay lý giải như thế nào đã có thể được hiểu, và được chấp nhận,
4
giúp đưa ra lý do bề ngoài có vẻ hợp lý để che dấu lý do, động cơ bên trong
nhằm tự bảo vệ bản thân.
- Sự phủ định (cự tuyệt): là gạt bỏ một ý nghĩa, một biểu tượng và nếu
nó xuất hiện thì xem như không phải do bản thân nghĩ đến; là sự thể hiện
ngược lại bằng vô thức, từ chối thừa nhận sự tồn tại các sự kiện bằng cách
ứng xử của mình.
- Sự hình thành phản ứng: là một cơ chế tự bảo vệ ngược lại ý muốn bị
dồn nén, chủ thể có ý muốn một đàng nhưng thể hiện ra ngoài ngược lại.
Tác phẩm của Anna Freud đã trình bày rõ ràng các định nghĩa về các cơ chế
tự vệ bởi và những cơ chế tự vệ này không chỉ hữu ích trong phương pháp
tiếp cận thân chủ theo trường phái phân tâm học mà còn rất hữu ích trong
công tác tham vấn nói chung. Nhà tham vấn phải hiểu biết rõ và kỹ càng về
quốc (UNESCO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên
hiệp quốc (UNICEF) quan tâm chú ý. Trước tiên là một số chương trình của
UNICEF: chương trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản
trong đó có kĩ năng tự bảo vệ cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Đây sẽ là cơ sở cho
việc giáo dục kĩ năng tự bảo vệ ở lứa tuổi mầm non, đưa lĩnh vực này thành
một môn khoa học về giáo dục trẻ trước tuổi đi học.
2.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề GD KNTBV được các nhà nghiên cứu giáo dục
quan tâm và đã có nhiều công trình nghiên cứu GD KNTBV dưới các góc độ
khác nhau: Triết học, Văn học, Sinh học, Tâm lí học, Giáo dục học…
Trong chương trình của UNICEF năm 1996 “Giáo dục kĩ năng tự bảo
vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài
nhà trường” đã tập trung nhằm vào những chủ đề giáo dục sức khỏe của thanh
thiếu niên do các chuyên gia Úc tập huấn, lực lượng tham dự tập huấn chỉ có
ngành giáo dục và Hội chữ thập đỏ Việt Nam.
6
Đến giai đoạn hai với chương trình “Giáo dục sống khỏe mạnh và kĩ
năng sống” thì nội dung GD KNTBV được phát triển một cách sâu sắc hơn,
cơ bản đối với từng nhóm dối tượng được vận dụng đa dạng hơn. Đó là GD
những KN cần cho việc bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn xã hội dành
cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với những thách thức của
xã hội, vận dụng để giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau trong tình huống
khác nhau của từng loại đối tượng. Ngoài hai lực lượng trong giai đoạn một,
còn có sự tham gia của các tổ chức chính trị, xã hội khác như : Trung ương
Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
Tháng 9 năm 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng UNICEF
xây dựng và thực nghiệm chương trình giáo dục mang tên: “Giáo dục
KNTBV cho học sinh THCS”.
- Phát triển kĩ năng tự bảo vệ bản thân trong sinh hoạt hằng ngày.
Đối với ảnh hưởng của giáo dục tới quá trình phát triển của trẻ, bà nhấn
mạnh: “Sử dụng tác phẩm văn học với ngôn ngữ nghệ thuật đem đến cho trẻ
bài học giáo dục các kĩ năng một cách nhẹ nhàng nhất”.
2.2.2. Ở Việt Nam
Tác giả Trần Quang Hải trong bài báo: “Kho tàng văn học dân giannét đẹp tâm hồn và giáo dục cho người Việt” (trang 4) viết: “ Từ ngàn xưa,
cha ông ta đã quan tâm đến việc dùng văn chương để mang lại bài học giáo
dục sâu sắc về cuộc sống cho con cháu”…. “Từ câu nói, làn điệu là những
đòi hỏi bức thiết trong xã hội, đúc kết những kinh nghiệm sống nhằm giáo
dục kĩ năng bảo vệ mình. Qua thời gian, những câu nói hay, những làn điệu
mượt mà được nhân dân sưu tập và gìn giữ trong kho tàng văn học”.
PGS- TS Đặng Văn Lung, Trưởng Ban Văn học dân gian, Viện Văn
học phát biểu: “Văn học là câu nói triết lí, bao hàm một nội dung giáo dục
nào đó. Qua thời gian, nó không nhạt phai như lời nói suông mà được lưu giữ
thành vần điệu, mọi người có thể thêm vào hoặc bớt đi để ứng với hoàn cảnh
8
cụ thể, mang lại bài học giáo dục thấm thía.”(trích “Đàm đạo giá trị văn
học” báo Văn nghệ)
Như vậy, trên thế giới cũng như trong nước đã có khá nhiều các tổ
chức, các nhà tâm lí, giáo dục học quan tâm nghiên cứu về vấn đề GD
KNTBV. Kết quả của những công trình nghiên cứu này có ý nghĩa lí luận và
thực tiễn to lớn, có tác dụng định hướng trong việc lựa chọn nội dung, biện
pháp, hình thức GD KNTBV cho trẻ. Về vấn đề sử dụng TPVH GD KNTBV
chỉ mới được đề cập mà chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu. Đối
tượng nghiên cứu của đề tài “Sử dụng TPVH GD KNTBV cho trẻ MG 5-6
tuổi” cũng chưa có. Trong khi đó, trẻ 5-6 tuổi là giai đoạn tiền Tiểu học,
chuẩn bị có những bước ngoặt thay đổi về môi trường sống cùng các mối
7.1. Nghiên cứu các tác phẩm thơ, truyện có nội dung giáo dục kĩ năng
tự bảo vệ cho trẻ 5 – 6 tuổi.
7.2. Nghiên cứu thực trạng việc sử dụng tác phẩm văn học giáo dục kĩ
năng tự bảo vệ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động Làm quen với tác phẩm
văn học và hoạt động khác ở một số trường mầm non trên địa bàn Hà Nội và
tỉnh Ninh Bình.
8. Phương pháp nghiên cứu:
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu như : Phương pháp phân tích,
khái quát hóa, tổng hợp các công trình nghiên cứu, các tài liệu lí luận có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
8.2.1. Phương pháp điều tra:
Sử dụng phương pháp điều tra (Anket) đối với 40 giáo viên mầm non,
kết hợp trao đổi với giáo viên về nội dung, hình thức, biện pháp và cách thức
tổ chức quá trình giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ 5 - 6 tuổi tại một số
trường mầm non ở Hà Nội và tỉnh Ninh Bình. Đồng thời tìm hiểu những hạn
chế trong quá trình giáo dục này.
10
8.2.2. Phương pháp quan sát:
Dự giờ, quan sát và ghi chép việc sử dụng tác phẩm văn học để đánh
giá kĩ năng tự bảo vệ của trẻ 5 - 6 tuổi tại một số trường mầm non ở Hà Nội
và tỉnh Ninh Bình.
8.2.3. Phương pháp đàm thoại:
Đàm thoại với giáo viên để điều tra những khó khăn, hạn chế mà giáo
viên gặp phải khi sử dụng tác phẩm văn học giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho
trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
8.2.4. Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TPVH GD KNTBV
CHO TRẺ MG 5-6 TUỔI
1.1. Cơ sở tâm, sinh lí và giáo dục học
1.1.1.Cơ sở sinh lí học:
Thứ nhất, các chức năng sinh lí trẻ chưa hoàn thiện, dễ bị tổn thương
gây ra sự mất cân bằng tạm thời giữa các chức năng sinh lí. Ba thành phần
chính của não bộ người bao gồm: đại não, tiểu não và thân não, chúng đảm
nhận các chức năng khác nhau. Trong đó, đại não là phần lớn nhất và phát
triển cao cấp nhất của bộ não con người, có vai trò quan trọng nhất trong hệ
thần kinh: chức năng trí tuệ cao cấp, ngôn ngữ, cảm xúc, khả năng hòa nhập
tất cả các loại kích thích cảm giác, khởi đầu của đường vận động. Nhờ có hoạt
động của đại não mà đặc biệt là vùng vỏ tạo nên sự thống nhất mọi hoạt động
khác nhau trên cơ thể.
Những thành quả đạt được trên lĩnh vực giải phẫu sinh lí người đã cho
chúng ta thấy được sự ảnh hưởng quan trọng trên các vùng não bộ tới trạng
thái cơ thể. Do quá trình hưng phấn chiếm ưu thế rõ rệt so với quá trình ức
chế, đồng thời sự hạ thấp khả năng ức chế của não đối với vùng dưới vỏ não
càng gây ra những hiện tượng mất cân đối, khó thở, đau ở vùng ngực, tim đập
mạnh, dễ hồi hộp, dễ xúc động, thậm chí dễ bị kích động nhưng lại khó kiềm
chế. Trẻ rất dễ thay đổi tâm trạng, tình cảm, nhanh chóng chuyển từ trạng thái
buồn bã sang trạng thái vui vẻ và ngược lại : rất dễ tỏ ra thân mật với mọi
người nhưng cũng có thể ngay lập tức chuyển sang thái độ giận dỗi, nổi
khùng, cáu kỉnh, mất bình tĩnh. Đôi khi, trẻ còn vi phạm kỉ luật mà thực chất
13
này cũng có nghĩa mọi sự nhận thức đều bắt đầu từ cảm giác và tri giác. Trẻ
nhận thức thế giới hiện thực đang diến ra xung quanh chủ yếu bằng con
đường cảm tính. Điều này sẽ rất nguy hiểm khi trẻ dùng cảm tính để ứng xử
trước mọi tình huống xảy ra hằng ngày trong cuộc sống. Trẻ chỉ có thể nhận
thức những gì trong thế giới khi chúng trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy, nếm, sờ,
mó… Kinh nghiệm sống của trẻ dần hình thành bắt nguồn từ bước đầu đó, chỉ
thông qua trải nghiệm, trẻ mới phát triển. Ban đầu, chúng chưa phân định rõ
sự khác biệt, đúng-sai trong các sự vật hiện tượng xung quanh, dần dần trẻ bắt
chước người lớn và thông qua trải nghiệm mới hình thành hiểu biết.
Trẻ 5-6 tuổi, như cầu giao tiếp ngày càng mở rộng, hoạt động với đồ
vật chuyển sang hoạt động vui chơi, tương tác xã hội với bạn bè và những
người xung quanh trẻ. Nhờ quá trình sống và giao tiếp với mọi người ( bố mẹ,
cô giáo, bạn bè, người thân…), các thao tác, các kĩ năng của trẻ được hình
thành một cách tự nhiên.
Trẻ mầm non tư duy theo lối trực quan hình ảnh, từ tên gọi, đặc điểm,
hoạt động, tính chất của các sự vật hiện tượng trẻ đều nhận thức qua những
hình ảnh trực quan, tiếp nhận trực tiếp qua các giác quan. Người thân xung
quanh trẻ, đặc biệt là cha mẹ có những ảnh hưởng đầu tiên tới việc hình thành
nhân cách trẻ. Giao tiếp xúc cảm trực tiếp với người lớn có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến sự phát triển tâm lí của trẻ, đặc biệt là về mặt xúc cảm. Đây là thời kỳ
tâm lý trẻ có những biến động nhanh mạnh, đột ngột với những đảo lộn cơ
bản, tâm hồn trẻ nhạy cảm và dễ bị xao động. Từ đây dễ có tình trạng mất cân
đối, không bền vững của các hiện tượng tâm lí.
Thứ hai, ý thức bản ngã của trẻ phát triển mạnh mẽ
Trẻ cho rằng mình là người lớn và muốn mọi người xung quanh nhìn
nhận, đối xử với mình như người lớn. Trong giao tiếp với người lớn, trẻ tiếp
15
Cũng do đặc điểm giàu xúc cảm, tình cảm, mọi suy nghĩ hành động và
cả tư duy của trẻ đều bị tình cảm chi phối, có nhà tâm lí đã nói rằng : Trẻ lứa
tuổi mầm non thích đối tượng, con người nào thì làm theo đối tượng, con
người đó, không phải vì trẻ hiểu về đối tượng, con người đó mà do tình cảm
yêu ghét, thích hay không thích chi phối. Không chỉ vậy, trẻ cũng mong muốn
được thể hiện tình cảm của mình với mọi người xung quanh, trẻ thích sử dụng
ngữ điệu êm ái, nét mặt vui tươi để thể hiện tình cảm yêu thương, quan tâm
của mình tới mọi người. Tuy nhiên khi không thích hoặc ghét ai đó, trẻ trở
nên giận dữ, cau có nét mặt, có khi sử dụng ngữ điệu thô và mạnh để trả lời.
Thứ năm, xuất hiện tiền đề của sự hình thành nhân cách
Trẻ 5-6 tuổi biểu hiện hành vi dưới ảnh hưởng của những ấn tượng trực
tiếp bên ngoài và của những mô hình được giữ lại trong trí nhớ làm cho thế giới
nội tâm được hình thành, hành vi của trẻ được cải tiến. Trí nhớ lúc này giúp trẻ
tìm thấy vị trí của mình với những người xung quanh, trẻ bắt đầu nhận ra mối
quan hệ giữa quá khứ - hiện tại – tương lai. Trẻ bắt đầu hình thành cấu tạo tâm lí
bên trong và cấu trúc này có tác dụng chi phối hành vi của nó tức là xuất hiện
động cơ, tuy nhiên trẻ hành động chưa có động cơ rõ ràng.
Một đặc điểm nổi bật trong hành vi của trẻ là hành động bột phát do
ảnh hưởng của tình cảm và ý muốn nảy sinh từ hoàn cảnh trực tiếp, vì thế
hành vi của trẻ phụ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài. Người lớn cần dỗ trẻ bằng
cách đưa cho trẻ đồ chơi kích thích sự chú ý của trẻ.
Trẻ đã thực hiện những hành động hướng tới những mục đích được chỉ
ra bằng lời nói nhưng trẻ thường không làm được theo ý ban đầu, thế giới nội
tâm của trẻ tuy đã hình thành nhưng chưa ổn định.
Tình cảm ở trẻ 5-6 tuổi có thêm hình thái mới, trẻ mong được khen
ngợi và sợ khi người lớn tỏ ra không bằng lòng. Lời khen của người lớn giúp
hình thành sự tự tin của trẻ, nhờ đó trẻ luôn cố gắng làm việc tốt. Ở trẻ còn
17
- Những động cơ gắn liền với ý thích muốn được như người lớn.
Nguyện vọng này biến thành động cơ, dẫn trẻ tới việc sắm vai trong những trò
chơi đóng vai theo chủ đề.
- Những động cơ gắn liền với quá trình chơi có tác động thúc đẩy hành
vi của trẻ khá mạnh mẽ. Trẻ ham chơi không phải do kết quả của trò chơi
mang lại, mà chính quá trình chơi làm cho trẻ thích thú. Có thể nói rằng hành
động của trẻ được thúc đẩy bởi động cơ vui chơi. Động cơ này làm toàn bộ
hành vi của đứa trẻ mang một sắc thái riêng biệt và đó cũng là nét độc đáo của
tuổi mẫu giáo.
- Những động cơ làm cho người lớn vui lòng và yêu mến cũng bắt đầu
xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy trẻ thực hiện những
hành động tích cực.
Ở trẻ 5-6 tuổi, một loạt động cơ của hành vi mang tính đạo đức xã hội
được hình thành, thể hiện ở sự quan tâm của trẻ đối với những người xung
quanh. Trong điều kiện có sự giáo dục đúng đắn thì loại động cơ này sẽ được
phát triển mạnh ở các giai đoạn sau. Đó là cốt lõi trong nền tảng đạo đức của
nhân cách con người trong tương lai.
Thứ bảy, sự hình thành ý thức về bản thân
Ý thức bản thân ở trẻ 5-6 tuổi được thể hiện rõ nét, khi trẻ biết tách
mình ra khỏi mọi người xung quanh để nhận ra chính mình, biết mình có một
sức mạnh và một thẩm quyền nào đó trong cuộc sống.
Năm tháng qua đi, việc tiếp xúc của trẻ với thế giới bên ngoài dần được
mở rộng. Trẻ biết được nhiều điều lí thú trong tự nhiên, trẻ bắt đầu tìm hiểu
thế giới của chính con người và dần dần khám phá ra được rằng xung quanh
có rất nhiều mối quan hệ chằng chịt giữa người và người. Trẻ rất muốn phát
hiện ra những mối quan hệ ấy, nhập vào đó để học làm người lớn. Trong hoạt
19