Tình Hình Cán Cân Thanh Toán Quốc Tế Ở Việt Nam Hiện Nay - Pdf 34

TRƯờNG ĐạI HọC KINH Tế QUốC DÂN
KHOA ngân hàng tài chính
------------

đề tài :

tài chính quốc tế nâng cao

VN CN CN THANH TON QUC T
CA VIT NAM HIN NAY
Nhóm thực hiện

: Nhóm 5

Chuyên ngành
Lớp

: Tài chính quốc tế
: Tài chính quốc tế 50

Hà NộI, NĂM 2011

LI M U
Hi nhp kinh t quc t ó v ang l xu th ca thi i v din ra ngy
cng sõu rng v ni dung, quy mụ trờn nhiu lnh vc. Trong xu th ú, quỏ
trỡnh hi nhp kinh t quc t ca Vit Nam ó din ra t lõu, k t khi Vit

1


Nam khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986. Việt

kinh tế tự do phát triển mạnh, bên cạnh các khoản thu nhập thu nhập từ hoạt
động xuất nhập khẩu, các quốc gia còn có những khoản thu nhập từ các hoạt
động cung cấp dịch vụ quốc tế lẫn nhau. Từ đó cán cân đối ngoại mở rộng
hơn ngoài phạm vi là cán cân thương mại. Đến đầu thế kỷ 20, do sự phát triển
các hình thức đầu tư vốn trực tiếp, gián tiếp giữa các quốc gia, cho nên nhu
cầu thiết lập một cán cân thanh toán tổng hợp để phản ánh tất cả những ràng
buộc lẫn nhau trong quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng trở nên cấp bách.
Tuy vậy, sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2, các nước mới thiết lập
cán cân thanh toán quốc tế hoàn chỉnh. Để thực hiện chức năng giám sát tiền
tệ của các nước thành viên, vào năm 1948 IMF đã đưa ra những hướng dẫn cụ
thể cho các nước thành viên trong việc thống nhất lập báo cáo về cán cân
thanh toán quốc tế của mình.
Theo IMF thì, cán cân thanh toán quốc tế là một bản báo cáo thống kê ghi
chép và phản ánh các giao dịch kinh tế giữa những người cư trú với người
không cư trú.
Ngoài ra, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về BOP như sau:
BOP là bảng cân đối, so sánh và đối chiếu giữa các khoản tiền thu được với
các khoản tiền chi trả cho nước ngoài của một nước trong một thời gian nhất
định.
BOP là một biểu tổng hợp phản ánh tất cả các giao dịch dưới hình thức tiền tệ
của một nước với các nước khác.
Từ các khái niệm trên cần lưu ý một vài điểm như sau:
Thứ nhất, “Người cư trú” và “không cư trú” là các cá nhân, các gia đình,
các công ty, các cơ quan đại diện cho các quốc gia, các tổ chức quốc tế…Căn
1


cứ xác định “người cư trú” hay “không cư trú” chủ yếu dựa vào qui định về
thời gian sinh sống, làm việc liên tục cần thiết tại quốc gia đó của nước sở tại,
thường là 1 năm (một số qui định là hơn 6 tháng).

biết cơ cấu tỷ lệ mối quan hệ giữa một quốc gia với quốc gia khác từ đó hoạch
định chính sách để điều chỉnh cơ cấu hợp lý.
2.3.Cán cân chi trả và cán cân thu chi
Cán cân chi trả phản ánh thực sự các khoản đã thu – chi.
Cán cân thu chi phản ánh các khoản thu –chi, không cần đã thực
sự chi ra hay chưa mà chỉ cần nghiệp vụ đã phản ánh.
3.Vai trò của cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán quốc tế là tấm gương phản ánh tổng hợp tình
hình hoạt động kinh tế đối ngoại, và ở một mức độ nhất định phản ánh tình
hình kinh tế - xã hội của một quốc gia thông qua cán cân thương mại, cán cân
vốn, dự trữ ngoại tệ; cho biết quốc gia là con nợ hay chủ nợ đối với phần còn
lại của thế giới.
Phản ánh mức độ mở cửa hội nhập của nền kinh tế quốc gia vào
nền kinh tế thế giới và địa vị tài chính của quốc gia trên trường quốc tế.
Phản ánh cung cầu ngoại tệ của một quốc gia, có ảnh hưởng to lớn
đến tỷ giá hối đoái, chính sách tỷ giá, chính sách tiền tệ quốc gia.
4.Nội dung và cách xác lập CCTTQT.
4.1. Cách ghi chép vào CCTTQT
Việc ghi chép vào CCTTQT dựa trên nguyên tắc bút toán kép, nghĩa là mỗi
một giao dịch với nước ngoài sẽ được ghi 2 lần( đối ứng), một lần bên nợ và
một lần bên có với giá trị bằng nhau. Về nguyên tắc :
- Ghi Nợ : Trong trường hợp phải chi trả nước ngoài hay có dòng tiền chảy ra
khỏi quốc gia. Trong CCTTQT những khoản này được mang dấu “-”. Phản
ánh sự tăng cầu về ngoại tệ.
- Ghi Có : Trong trường hợp nhận được chi trả từ nước ngoài hay có dòng tiền
từ bên ngoài chảy vào quốc gia. Trong CCTTQT những khoản này được
1


mang dấu “+”. Phản ánh sự tăng cung về ngoại tệ.

trú và người không cư trú.
Các khoản thu nhập của người cư trú được trả bởi người không cư trú phát
sinh cung ngoại tệ, ghi vào bên “Có” với dấu “+”. Ngược lại, các khoản chi
trả cho người không cư trú sẽ làm phát sinh cầu ngoại tệ, sẽ được ghi vào bên
Nợ với dấu “-”.
Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thu nhập, bao gồm quy mô thu nhập(mức
tiền lương, thưởng, tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động đầu tư và lãi suất) và các
yếu tố thuộc môi trường kinh tế chính trị, xã hội.
4.2.1.4.Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều.
Bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, giá trị của các khoản quà tặng và
các chuyển giao khác bằng tiền và hiện vật cho mục đích tiêu dùng giữa
những người cư trú và không cư trú, phản ánh sự phân phối lại thu nhập.
Các khoản thu( nhận) phát sinh cung ngoại tệ nên được ghi vào bên Có với
dấu “+”. Ngược lại các khoản chi( cho) phát sinh cầu ngoại tệ đượ ghi vào
bên Nợ với dấu “-”.
Quy mô và tình trạng của cán cân chuyển giao vãng lai một chiều phụ thuộc
chủ yếu vào các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế, tâm lý, tình cảm. chính
trị - xã hội và ngoại giao giữa các nước.
4.2.2.Cán cân vốn ( Capital Accoun : KA).
Được tổng hợp toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch kinh tế giữa “người cư trú”
với “người không cư trú” về chuyển vốn từ nước ngoài vào Việt Nam và
chuyển vốn từ Việt Nam ra nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp, đầu tư
vào giấy tờ có giá, vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước
ngoài, chuyển giao vốn một chiều, các hình thức đầu tư khác và các giao dịch
khác theo quy định của pháp luật Việt Nam làm tăng hoặc giảm tài sản có
hoặc tài sản nợ
1


4.2.2.1. Cán cân di chuyển vốn dài hạn : Phản ánh các luồng vốn đi ra, đi vào

như luồng vốn đi vào, ta chi Có với “+”. Ngược lại, ghi Nợ với dấu “-”. Quy
mô và tình trạng của cán cân chuyển giao vốn một chiều phụ thuộc vào các
nhân tố như: mối quan hệ ngoại giao, hợp tác kinh tế - chính trị- xã hội giữa
các nước có chung lợi ích và tình hữu nghị đặc biệt.
4.3.Cán cân bù đắp chính thức : Gồm dự trữ ngoại hối của quốc gia, các
khoản vay giữa các ngân hàng Trung Ương của các quốc gia, nhằm làm cho
BOP của các quốc gia về trạng thái cân bằng.
4.4 Nhầm lẫn và sai sót.
Sở dĩ có các khoản mục nhầm lẫn và sai sót trong BOP do:
− Các giao dịch phát sinh giữa người cư trú và người không cư trú rất nhiều.
Do vậy trong quá trình thống kê rất khó không có sai sót.
− Sự không trùng khớp giữa thời điểm diễn ra giao dịch và thời điểm thanh
toán.
4.5. Một vài phân tích cơ bản.
CCTTQT

= CC vãng lai + CCvốn + nhầm lẫn, sai sót + CC bù đắp chính

thức = 0.
CC tổng thể = CC vãng lai + CC vốn + nhầm lẫn sai sót.
CC cơ bản = CC vãng lai + CC di chuyển vốn dài hạn.
5.Cân bằng BOP khi thâm hụt hoặc thặng dư:
5.1.Khi thâm hụt :
Cán cân thanh toán quốc tế có thâm hụt, tỷ giá tăng cao, đồng nội tệ mất giá.
Để ổn định BOP đòi hỏi phải thực hiện những giải pháp cơ bản sau đây:
− Tăng xuất khẩu.
− Giảm nhập khẩu.
1



có ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÁN CÂN THANH TOÁN
CỦA NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1.Cán cân vãng lai
2.1.1.Cán cân thương mại.
2.1.1.1. Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Sau giai đoạn mở cửa kinh tế, thương mại quốc tế của Việt Nam tăng lên
nhanh chóng. Tính trung bình từ năm 1990 đến 2010, xuất khẩu Việt Nam
tăng trung bình 19,04%/ năm , trong khi đó nhập khẩu tăng trung bình 20,1%/
năm. Cụ thể:
Biểu đồ: Giá trị xuất nhập khẩu Việt Nam 2001-2006
1


Đơn vị : tỷ USD

Nguồn : Tổng cục thống kê
Năm 2001, giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa chỉ đạt 26 tỷ USD, tăng
trưởng xuất nhập khẩu là 4% nhưng đến năm 2002, tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu đã tăng lên 31,15 tỷ USD , tăng 19,8% so với năm trước đó. Con số này
đã được cải thiện và bứt phá trong các năm tiếp theo. Đặc biệt năm 2007, khi
Việt Nam chính thức gia nhập WTO, thương mại quốc tế được mở rộng, tổng
kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đã lên đến 111 tỷ USD.
Biểu đồ: Cán cân thương mại Việt Nam 2006-2010

1



xuống 61,94 tỷ USD năm 2009, giảm gần 50% sau đó năm 2010 lại tiếp tục
giảm với tốc độ chậm hơn khoản 20%.
- Nhóm hàng nông lâm thủy sản
Gạo: xuất khẩu gạo gia đoạn này có xu hướng tăng nhẹ khoảng 12,2% và đạt
32,48 tỷ USD trong năm 2010
- Nhóm hàng chế biến:
Đây là nhóm hàng gồm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: dệt may, giày
dép, sản phẩm cơ khí, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, điện tử, thủ công mỹ
nghệ… Có thể phân chia các mặt hàng này thành hai nhóm
+ Hàng chế biến chính: thủ công mỹ nghệ, dệt may, giày dép, thực phẩm chế
biến, hóa phẩm tiêu dùng, sản phẩm cơ khí – điện, vật liệu xây dựng, sản
phẩm gỗ.
Hàng dệt may: kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta giai đoạn
2008- 2010 tiếp tục tăng nhanh năm 2008 mới chỉ đạt 9,12 tỷ USD thì năm
2010 đã tăng lên 11,21 tỷ USD tăng 22,9%.
Giày dép các loại: kim ngạch xuất khẩu tăng với xu hướng chậm. Năm 2010
kim ngạch xuất khẩu giày dép tăng 7,44% so với năm 2008 từ 47,67 tỷ USD
lên 51,22 tỷ USD.
Gỗ và sản phẩm gỗ: kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này dao động trong
khoản 30 tỷ USD.

1


Cơ cấu xuất khẩu theo nhóm ngành của Việt Nam
Đơn vị: tỷ USD

+ Hàng chế biến cao: điện tử và linh kiện máy tính, phần mềm.
Từ năm 2001 đến 2010, nguyên liệu thô và sản phẩm sơ chế giá trị gia tăng
thấp chiếm một tỷ lệ khá lớn. Kim ngạch xuất khẩu khoáng sản (dầu thô và

- Xăng dầu các loại: lượng nhập khẩu xăng có xu hướng giảm mạnh. Nếu
như năm 2008 trị giá nhập khẩu mặt hàng này lên tới 10,97 tỷ USD thì năm
2010 chỉ còn ở mức 6,08 tỷ USD giảm 45%.

Cơ cấu nhập khẩu theo nhóm ngành của Việt Nam

1


Đơn vị: tỷ USD

Nguồn: Tổng cục Thống kê
2.1.1.3.Thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu
Biểu đồ: Cán cân thương mại Việt Nam phân theo khu vực kinh tế

1


Kể từ năm 1995 trở lại đây, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO, Việt Nam chủ
yếu nhập siêu từ các nước trong khu vực ASEAN,Trung Quốc, Hàn Quốc và
Nhật Bản, nhưng lại xuất siêu sang Mỹ và châu Âu. Việt Nam nhập khẩu chủ
yếu các mặt hàng tư liệu sản xuất (máy móc thiết bị và nguyên, nhiên vật
liệu), khoảng trên dưới 90% tổng giá trị nhập khẩu, trong khi xuất khẩu các
mặt hàng nguyên liệu thô, sản phẩm nông nghiệp, và hàng dệt may. Các số
liệu thống kê những năm gần đây đều cho thấy, Việt Nam nhập khẩu chủ yếu
từ Trung Quốc và ASEAN các mặt hàng chính như giấy, clinker, sắt thép,
phân bón, và gỗ (> 80% tổng giá trị nhập khẩu các mặt hàng này), hàng may
mặc (>70%), và máy móc thiết bị (khoảng 40%).
2.1.1.4.Đánh giá chung
Qua những số liệu về thị trường và cơ cấu, những con số tuyệt đối và tương

510
646
700
Xuất khẩu
0
0
6
154
Dịch vụ vận tải
0
1879
2356
Dịch vụ bưu chính viễn
thông
120
110
80
285
375
Dịch vụ du lịch
0
0
3930
Dịch vụ tài chính
270
332
230
Dịch vụ bảo hiểm
50
65

0
0
0
Dịch vụ tài chính
270
300
230
Dịch vụ bảo hiểm
302
461
473
Dịch vụ Chính phủ
40
40
75
103
Dịch vụ khác
850
0
850

200
9
576
6
206
2

7460
2306

820

_

Cán cân dịch vụ
Nguồn: Tổng cục thống kê
Từ cuối những năm 1990, Việt Nam đã mở cửa cho các nhà cung cấp dịch
vụ nước ngoài tham gia trong các lĩnh vực tư vấn pháp luật, kiểm toán, máy móc
1

2010

_

8320

1470
_
_
_


công trình, kiến trúc viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm và dịch vụ chứng khoán.
Trong tổng thể nền kinh tế, ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn (khoảng
hơn 40% GDP), tuy nhiên hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ vẫn còn khá hạn
chế. Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007 là một cơ hội tốt để chúng ta có thể
hội nhập,tiếp tục mở rộng thị trường. Tuy nhiên cũng là một thách thức không
nhỏ khi ta phải cạnh tranh với những nước có trình độ cao hơn. Riêng ngành
dịch vụ, theo các cam kết trong đàm phán WTO, Việt Nam sẽ phải mở cửa tới
10 ngành và 100 phân ngành trong tổng số 11 ngành và 155 phân ngành dịch vụ.

Đông Nam Á là 10,6, của Hồng Kông là 320,8, của toàn thế giới là 10,9, của
châu Âu là 10,9, của châu Mỹ 14,8, của châu Đại Dương là 14,8...).Ngoài du
lịch, một số loại dịch vụ khác còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ, như dịch vụ bảo hiểm
chỉ chiếm 1,1%, dịch vụ bưu chính viễn thông chiếm tỷ trọng 1,7%, dịch vụ tài
chính chỉ chiếm 5,5%... Ngay dịch vụ hàng hải của một nước có vùng biển rộng
hàng triệu km2, có bờ biển dài trên 3.000 km, nhưng chỉ chiếm 13,4%.
Thứ ba, trong xuất, nhập khẩu dịch vụ, Việt Nam vẫn ở vị thế nhập siêu.
Năm 2005 nhập siêu 215 triệu USD, năm 2006 nhập siêu 22 triệu USD, năm
2007 nhập siêu 367 triệu USD, năm 2010 là 860 triệu USD. Những yếu tố làm
mất cân đối cán cân xuất, nhập khẩu dịch vụ gồm có cước phí I, F hàng hóa
nhập khẩu do nước ngoài thu được ở mức rất lớn và tăng nhanh qua các năm
(năm 2005 là 1.509 triệu USD, năm 2006 là 1.812 triệu USD, năm 2007 ước
2.482 triệu USD); dịch vụ bảo hiểm xuất khẩu chỉ có 65 triệu USD, nhưng nhập
khẩu lên đến 210 triệu USD; dịch vụ khác xuất khẩu có 277 triệu USD, nhưng
nhập khẩu lên tới 1.030 triệu USD. Điều đó chứng tỏ sự vươn lên và sức cạnh
tranh trong lĩnh vực dịch vụ của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu, nhiều loại và
thị phần đã rơi vào tay những doanh nghiệp, tổ chức ngoài nước.
2.1.3.Cán cân thu nhập và chuyển giao vãng lai một chiều
Các nhân tố ảnh hưởng tới cán cân thu nhập bao gồm quy mô thu
nhập( mức tiền lương, thưởng; tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động đầu tư và lãi suất)
và các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, chính trị, xã hội.
Sau khi gia nhập WTO, thâm hụt cán cân thu nhập của Việt Nam gia tăng:
năm 2007 thâm hụt 3 tỷ USD, 2008 và 2009 là 4,9 tỷ USD. Đó là do phần thu
của các hạng mục thu nhập đầu tư (gồm thu lãi tiền gửi của hệ thống ngân hàng,
thu cổ tức từ hoạt động đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài và đầu tư
vào chứng khoán do người không cư trú phát hành) tăng với tốc độ thấp hơn tốc
độ tăng chi của các hạng mục này. Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước
ngoài mới ở giai đoạn đầu nên khả năng thu lãi và cổ tức chưa cao, trong khi
luồng vốn FDI và vay nợ nước ngoài được thu hút trong thời gian qua tăng và sẽ
tiếp tục mở rộng sau khi gia nhập WTO sẽ khiến các khoản lãi phải trả cho các

khả năng thanh toán đã không thể giữ giá được đồng tiền, và dữ trữ ngoại hối bị
cạn kiệt.
Đề cải thiện tình trạng cán cân vãng lai thì yếu tố quan trọng nhất đó là cải thiện
tình trạng cán cân thương mại và cán cân dịch vụ.
Thứ nhất, trong tình hình hiện nay, các DN nên tập trung vào việc sản xuất
hàng phục vụ thị trường nội địa kết hợp đẩy mạnh xuất khẩu, tiết giảm chi phí,thay

1


đổi cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng các nhóm hàng công nghiệp,
những mặt hàng mới có hàm lượng giá trị gia tăng cao, giảm dần xuất khẩu hàng
khoáng sản, nguyên liệu thô, nông sản chưa gia công, chế biến, đồng thời củng cố
thị trường trong nước, khuyến khích người tiêu dùng sử dụng hàng hóa sản xuất
trong nước…
Thứ hai, hướng vào các dịch vụ phi hàng hóa như du lịch, xuất khẩu lao
động... Đối với du lịch, những việc cần làm ngayphải là làm du lịch theo hướng
chuyên môn hoá và có quy hoạch dài hạn:vừa tạo nhiều sân chơi đa dạng vừa cung
cấp các mặt hàng lưu niệm vừagiới thiệu những đặc trưng của đất nước và con
người Việt Nam chứkhông phải làm du lịch chỉ có nhà hàng và khách sạn. Đối với
xuất khẩulao động, việc cần làm nhất là ngăn chặn làn sóng lao động bỏ việc trốn
ra ngoài làm bằng cách ban hành nghị định quy định rõ trách nhiệm liên đới giữa
ngân hàng cho vay vốn, địa phương, gia đình, công ty môi giới trong việc quản lý
lao động và các biện pháp chế tài tương xứng; tăng cường khâu tuyển chọn, đào
tạo và minh bạch hóa thông tin tuyển dụng.
Thứ ba , ưu đãi thu hút đầu tư vào các ngành sản xuất nguyên liệu, gia công
xuất khẩu để giảm dần và thay thế nguồn nguyên nhiên liệu vẫn phải nhập từ nước
ngoài như xăng dầu, phân bón, nguyên phụ liệu dệt may, da…
Thứ tư, Tăng các rào cản thuế và phi thuế đối với hàng nhập khẩu. Việc tăng
thuế phải được xemxét trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của WTO và phải

triển nhà ở xã hội và nhà ở cho người có thu nhập thấp; xây dựng công trình phúc
lợi (nhà ở, bệnh viện, trường học, văn hoá, thể thao) cho người lao động làm việc
trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; các dự
án đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Thứ ba, thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân; không cấp phép cho các
dự án công nghệ lạc hậu, dự án tác động xấu đến môi trường; thẩm tra kỹ các dự án
sử dụng nhiều đất, giao đất có điều kiện theo tiến độ dự án; cân nhắc về tỷ suất đầu
tư/diện tích đất, kể cả đất Khu Công nghiệp. Tiến hành rà soát các dự án đã cấp
giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn cả nước để có hướng xử lý đối với từng loại
dự án. Để làm được điều này cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành và
địa phương để rà soát các dự án FDI đã cấp giấy chứng nhận đầu tư trên phạm vi

1


cả nước, trên cơ sở đó có các biện pháp hỗ trợ, tập trung tháo gỡ vướng mắc và tạo
điều kiện để các dự án có thể triển khai; thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư đối với
các dự án không có khả năng triển khai thực hiện.
Nhóm giải pháp về quy hoạch
Thứ nhất,làm tốt công tác xây dựng quy hoạch và quản lý quy hoạch, đặc
biệt là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch lãnh thổ, quy
hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch ngành và các sản phẩm chủ yếu; rà soát điều
chỉnh cho phù hợp và kịp thời đối với các quy hoạch đã lạc hậu; có kế hoạch cụ thể
để thực hiện các quy hoạch đã được duyệt.
Thứ hai, công bố rộng rãi các quy hoạch đã được phê duyệt, đẩy nhanh tiến
độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư; rà soát, kiểm tra, điều chỉnh quy
hoạch sử dụng đất một cách hiệu quả, nhất là đối với các địa phương ven biển
nhằm đảm bảo phát triển kinh tế và môi trường bền vững.
Thứ ba, quán triệt và thực hiện thống nhất các quy định của Luật Đầu tư
trong công tác quy hoạch, đảm bảo việc xây dựng các quy hoạch ngành, lĩnh vực,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status