CHUYÊN ĐỀ 3: Cải thiện cơ cấu và hạn chế thâm hụt của cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam doc - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN HÀ NỘI

CHUYÊN ĐỀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
CHUYÊN ĐỀ 3: Cải thiện cơ cấu và hạn chế thâm hụt của cán
cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
Nhóm chuyên đề: - Đỗ Thị Ánh Hồng
- Lê Thị Thuý Hồng
- Đoàn Thị Huế
- Bùi Tuấn Hùng
- Mai Thị Hương
- Đặng Hoàng Lan
- Đào Thị Thanh Loan
Người hướng dẫn: TS. Đặng Ngọc Đức
1
Hà Nội - 2013
2
Chuyên đề 3: Cải thiện cơ cấu và hạn chế thâm hụt của
cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
Cán cân thanh toán quốc tế là một trong những tài khoản kinh tế vĩ mô
quan trọng phản ánh hoạt động kinh tế đối ngoại của một nước với phần còn lại
của thế giới. Nó có quan hệ chặt chẽ với các tài khoản kinh tế vĩ mô khác như
bảng cân đối ngân sách, cân đối tiền tệ, hệ thống tài khoản quốc gia. Chính vì vậy,
cán cân thanh toán đã trở thành công cụ quan trọng để đề ra các chính sách phát
triển kinh tế và những diễn biến trong cán cân thanh toán của một nước là mối
quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách.
Tuy nhiên, để lập được một bản cán cân thanh toán quốc tế đầy đủ chính
xác và kịp thời là một việc rất khó khăn do phạm vi thu thập số liệu cán cân thanh
toán quốc tế quá rộng. Việc phân tích các tình trạng và đưa ra các giải pháp điều
chỉnh cán cân thanh toán trong từng thời kì phát triển kinh tế của một quốc gia
cũng là việc khó do các khu vực trong nền kinh tế có quan hệ tác động lẫn nhau.
Có thể nói rằng việc thành lập, phân tích điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế đối

- Ở tầm quản lý kinh tế vĩ mô:
+ Chính sách đối ngoại nói chung và chính sách thương mại quốc tế nói
riêng
+ Kiểm soát sự di chuyển của các luồng vốn: Đầu tư nước ngoài và xuất
khẩu vốn
+ Điều hành chính sách tỷ giá
- Ở tầm vi mô:
+ Cung cầu ngoại tệ và dự đoán sự biến động tỷ giá
4
+ Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
+ Hoạt động kinh doanh ngoại tệ
1.1.4 Nguyên tắc hạch toán
- Bên thu: khoản thu từ người không cư trú được ghi “có” và biểu hiện
bằng dấu “+”: phản ánh sự gia tăng của cung ngoại tệ
- Bên chi: Khoản chi cho người không cư trú được ghi “nợ” và biểu hiện
bằng dấu “-”, phản ánh sự gia tăng về cầu ngoại tệ
Việc ghi chép theo các nguyên tắc nhất định và thống nhất:
- Nguyên tắc ghi nợ và ghi có:
Ghi nợ phản ánh lượng giá trị bị giảm xuống (khoản chuyển ra nước ngoài)
và được ghi dấu âm (-) trong CCTT.
Ghi có phản ánh lượng giá trị tăng lên (khoản nhận từ nước ngoài) và được
ghi dấu (+) trong CCTT.
Việc phân biệt khoản có hoặc khoản nợ có thể dựa vào luồng tiền di chuyển
giá trị hoặc luồng tiền thanh toán. Các giao dịch chưa được thực hiện trong kỳ
không được hạch toán trong CCTT, nghĩa là CCTT chỉ hạch toán những giao dịch
diễn ra thực sự.
- Nguyên tắc ghi sổ kép:
Tất cả các giao dịch phát sinh ghi có đều phải được cân bằng lại bằng cách
ghi nợ vào khoản mục tương ứng và ngược lại.
Tổng số các khoản ghi nợ phải bằng tổng số các khoản ghi có.

quốc phòng.
+ Các giao dịch với các cơ quan khác như: Phái đoàn viện trợ, các phái
đoàn du lịch Chính phủ, thông tin và các văn phòng thúc đẩy thương mại.
- Dịch vụ tư nhân:
+ Các dịch vụ thông tin và tin học.
+ Các dịch vụ xây dựng.
+ Các dịch vụ bảo hiểm.
+ Các chi phí bản quyền và giấy phép.
+ Các dịch vụ tài chính.
+ Các dịch vụ kinh doanh khác.
+ Các dịch vụ phục vụ cá nhân.
- Cán cân thu nhập: Hạch toán tất cả các khoản thu nhập từ hai yếu tố sản
xuất: Lao động và vốn. Thu nhập từ lao động gọi là thu nhập của người lao động.
Thu nhập từ vốn gọi là thu nhập đầu tư.
a. Thu nhập của người lao động bao gồm lương, thưởng và các khoản thu
nhập khác bằng tiền hoặc bằng hàng do người không cư trú trả cho người cư trú
và ngược lại.
b. Thu nhập đầu tư bao gồm:
+ Thu nhập đầu tư trực tiếp (các khoản thu nhập đầu tư và tái đầu tư)
+ Thu nhập đầu tư vào giấy tờ có giá (thu nhập do nắm giữ cổ phiếu, trái
phiếu,các giấy tờ có giá và các công cụ tài chính khác).
+ Thu nhập đầu tư khác: các khoản thu về tài sản của người cư trú
7
- Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều: Ghi chép các khoản chuyển giao
dưới dạng không hoàn lại như quà tặng, viện trợ và các khoản chuyển giao khác
bằng tiền mặt hoặc hiện vật giữa người cư trú và người không cư trú cho mục đích
tiêu dùng này bao gồm:
a. Chuyển giao khu vực chính phủ
- Các khoản viện trợ không hoàn lại (các khoản chuyển giao bằng tiền hoặc
bằng hàng ví dụ như quà tặng về thực phẩm, quần áo, thuốc men và hàng tiêu

Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng dài hạn, hiệu quả biên của vốn đầu tư (MEI hay ICOR)
và các yếu tố thuộc về môi trường đầu tư, sự ổn định về chính trị, xã hội.
- Cán cân di chuyển vốn ngắn hạn
Cũng bao gồm các khoản vốn đi ra hay đi vào của khu vực tư nhân (chiếm
tỷ trọng lớn) và khu vực nhà nước nhưng dưới rất nhiều các các hình thức khác
nhau: Tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, các hoạt động trên kinh doanh
ngoại hối và giấy tờ có giá ngắn hạn kể cả các luồng vốn đầu cơ.
Luồng vốn đi vào phản ánh sự gia tăng của NV (TSN), như đã đề được cập,
do làm tăng cung ngoại tệ nên vẫn được ghi “Có” với dấu “+”. Ngược lại, luồng
vốn đi ra phản ánh sự ra tăng của TS (TSC) song lại làm tăng cầu ngoại tệ nên vẫn
được ghi vào bên “Nợ” với dấu “-”.
Khác với cán cân vốn dài hạn, quy mô và tình trạng cán cân vốn ngắn hạn
phụ thuộc vào các nhân tố như: Chênh lệch tỷ giá, tỷ suất lợi tức kỳ vọng ngắn
hạn, lãi suất và các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế, chính trị - xã hội.
- Cán cân chuyển giao vốn một chiều
9
Bao gồm các khoản chuyển giao vốn một chiều như viện trợ không hoàn lại
với mục đích đầu tư, các khoản nợ được xoá.
Khi được nhận các khoản viện trợ không hoàn lại và được xoá nợ, tương tự
như luồng vốn đi vào, gia tăng NV (TSN), làm tăng cung ngoại tệ nên được ghi
“Có” với dấu “+”. Ngược lại, khi viện trợ hay xoá nợ cho người không cư trú,
luồng vốn đã đi ra làm tăng cầu ngoại tệ nên được ghi vào bên “Nợ” với dấu “-”.
Khác với các cán cân vốn trên đây, quy mô và tình trạng cán cân chuyển
giao vốn một chiều phụ thuộc chủ yếu vào các mối quan hệ ngoại giao, hợp tác
kinh tế - chính trị - xã hội giữa các nước có chung lợi ích và tình hữu nghị đặc
biệt.
1.2.3. Tài khoản dự trữ:
- Ghi lại những thay đổi về tài sản dự trữ của cơ quan quản lư tiền tệ để tài
trợ và điều hoà sự mất cân đối của cán cân thanh toán. Nó có thể là những dạng
sau:

phía dưới, đặt các giao dịch điều chỉnh. Khi số dư các giao dịch tự định bằng
không (có nghĩa là các khoản thu tự định bằng các khoản chi tự định), cán cân
thanh toán là cân bằng. Khi tổng các khoản thu tự định (những khoản có) lớn
hơn tổng các khoản chi tự định (những khoản nợ), có một thặng dư; và khi tổng
số các khoản thu tự định nhỏ hơn tổng số các khoản chi tự định, có một thâm
hụt. Trong mỗi trường hợp, sự đo lượng mất cân bằng kế toán (thặng dư hay
thiếu hụt) được xác định bằng chênh lệch giữa tổng số những khoản thu tự định
và tổng số những khoản chi tự định.
Do cán cân thanh toán là đồng nhất thức, chúng ta luôn có:
Tổng các giao dịch tự định + tổng các giao dịch điều chỉnh = 0
11
Hay: Tổng các giao dịch tự định = - Tổng các giao dịch điều chỉnh
Do đó, đo lường sự mất cân bằng các cân thanh toán cũng có thể xác định
được là số âm của chênh lệch giữa các khoản thu và chi của giao dịch điều chỉnh.
Tuy nhiên, sự phân biệt giữa giao dịch tự định và giao dịch điều chỉnh
trong thực tế là không rõ ràng do đó không có cách đo lường kế toán duy nhất về
sự mất cân bằng cán cân thanh toán. Nói chung, để phản ánh trạng thái của cán
cân thanh toán quốc tế của một nước người ta thường dùng cán cân tổng thể (tổng
hợp cán cân vãng lai và cán cân vốn và tài chính). Tuy nhiên, cán cân tổng thể đôi
khi không được đánh giá chính xác bằng cán cân vãng lai bởi vì nó không phản
ánh đúng năng lực sản xuất hay khả năng cạnh tranh kinh tế của một nước. Chẳng
hạn, khi một nước thặng dư cán cân thanh toán, điều này nghe có vẻ lành mạnh
nhưng nếu đi sâu vào phân tích từng chỉ tiêu lại thấy cán cân vãng lai bị thiếu hụt
lớn và được tài trợ hoàn toàn bằng vay nợ, đầu tư nước ngoài. Do đó, sự phân tích
thoả đáng về cơ cấu tài trợ liên quan đến sự ổn định các cân vãng lai trong tương
lai là rất cần thiết.
B. Phân tích tài khoản vãng lai:
Như ta đã biết, trong cán cân thanh toán, cán cân vãng lai giữ vai trò đặc
biệt quan trọng. Vì vậy, khi phân tích cán cân thanh toán cần phải chú trọng phân
tích cán cân vãng lai và số dư tài khoản vãng lai.

G: Chi tiêu và đầu tư của chính phủ
Định nghĩa này được Alexander đưa ra vào năm 1950. Từ định nghĩa trên
ta thấy, cán cân vãng lai của một nước chỉ có thể được cải thiện bằng sự tăng tương
đối của thu nhập quốc dân so với chi tiêu hay sự giảm tương đối chi tiêu so với thu nhập
quốc dân.
13
Thứ ba: cán cân vãng lai là chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư của toàn bộ
nền kinh tế.
CA = S - I
S: Tiết kiệm trong nước I: Đầu tư trong nước CA : Cán cân vãng lai
Nếu chia tổng tiết kiệm (S) và đầu tư (I) của toàn bộ nền kinh tế thành các
phần về khu vực chính phủ và tư nhân. Ta có:
CA = (Sp+Sg) – (IP+Ig) hay CA= (Sp-Ip) + (Sg-Ig)
hay: CA = (Sp-Ip) + (Sg-Ig)
Công thức trên cho thấy cán cân vãng lai bằng chênh lệch của khu vực tư
nhân cộng khu vực chính phủ. Vì vậy, khi đề ra các biện pháp, chính sách nhằm
cải thiện cán cân vãng lai phải nghiên cứu tác động của chúng tới hành vi tiết
kiệm và đầu tư. Nếu thâm hụt tài khoản vãng lai xuất hiện do các hoạt động đầu tư
mạnh dẫn đến phần thâm hụt này cần được tài trợ bởi đầu tư trực tiếp tại nước báo
cáo hoặc phần tăng trong các khoản vay bên ngoài hay bởi đầu tư chứng khoán.
Tỷ lệ thâm hụt tài khoản vãng lai tương đối lớn (6% hoặc 7%) có thể là bền vững
nếu nó liên quan đến các hoạt động đầu tư trực tiếp mạnh ở nước báo cáo.
Thứ tư: khi công dân một nước cho vay hay mượn một lượng tiền của
nước ngoài, họ đã tạo ra mét quan hệ tài sản với phần còn lại của thế giới. Vì vậy,
khi phân tích tiết kiệm và đầu tư, phải tính đến nguồn tài chính nước ngoài. Từ đó,
có thể định nghĩa tài khoản vãng lai như những thay đổi trong tài sản nước ngoài
ròng của quốc gia lập báo cáo với phần còn lại của thế giới.
CA= B*
t
- B

khả năng chịu đựng là liệu "điểm uốn" có thể đạt được một cách suôn sẻ và không
gây những bất ổn cho nền kinh tế khi cán cân thương mại đảo chiều đột ngột từ
thâm hụt sang thặng dư, không tạo ra sự thay đổi lớn trong chính sách (ví dụ:
chính sách thắt chặt đột ngột) và không gây ra tình trạng rệu rã của nền kinh tế.
Ngoài ra, tài khoản vãng lai bao gồm tài khoản thương mại hàng hoá và
dịch vụ, tài khoản thu nhập và tài khoản chuyển giao vãng lai. Do đó cần phải
phân tích cụ thể từng tài khoản này để tìm ra nguyên nhân của thâm hụt tài khoản
vãng lai và đưa ra được các biện pháp điều chỉnh thích hợp. Trong đó cần đặc biệt
phân tích cán cân thương mại vì đây thường là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thiếu
hụt cán cân vãng lai và cũng là đối tượng chính khi cán cân thanh toán mất cân
bằng cơ bản.
15
C. Phân tích tài khoản vốn và tài chính
Tài khoản vốn và tài chính bao gồm các luồng vốn dài hạn và ngắn hạn,
chạy vào hoặc chạy ra khỏi một nước. Hay nói cách khác, nó là tổng đầu tư của
nước ngoài và số vay nợ nước ngoài. Như vậy, tình trạng của cán cân thanh toán
có liên quan trực tiếp đến tình trạng tài sản ngoại tệ của một nền kinh tế. Vì vậy,
một gợi ý nhằm giảm bớt thâm hụt cán cân thanh toán là sự điều chỉnh chính sách
của chính phủ nhằm thu hút đầu tư tư nhân hoặc tìm kiếm các khoản vay nước
ngoài.
Đối với bất cứ nước nào, con đường phát triển cũng đầy rẫy trở ngại. Một
trong những trở ngại là tiết kiệm không đáp ứng nhu cầu đầu tư. Vì vậy, sự phụ
thuộc vào nguồn tư bản nước ngoài để bổ sung cho nguồn vốn trong nước giai
đoạn đầu phát triển là điều hiển nhiên. Tuy nhiên, vì lượng tư bản vay hôm nay sẽ
phải trả trong tương lai nên việc sử dụng chúng một cách có hiệu quả là một điều
vô cùng quan trọng.
Có nhiều nguồn tài trợ cho sự thâm hụt cán cân vãng lai nhưng xét về mặt
hiệu quả sử dụng vốn, đầu tư trực tiếp nước ngoài được đánh giá cao hơn cả vì nó
không ảnh hưởng nhiều tới cán cân thanh toán, tới tổng nợ nước ngoài cũng như
tăng trưởng kinh tế và không tạo ra dư nợ. Ngoài ra, nó còn là nhịp cầu để chuyển

hạn trong một thời gian dài, nếu như các khoản nợ đến hạn chiếm tối đa từ 20-
25% xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ.
Bên cạnh việc xem xét các khoản nợ theo chủng loại và thời hạn của các
công cụ nhận nợ, vì thế cũng nên phân tích xu hướng thay đổi theo khu vực các tổ
chức. Cụ thể là khu vực chính phủ và tư nhân bởi vì những khu vực này chịu ảnh
hưởng của những yếu tố khác nhau. Các luồng thay đổi của khu vực chính phủ
chủ yếu được quy định bởi nhu cầu của ngân sách nhà nước. Ngược lại, các luồng
thay đổi trong khu vực tư nhân lại tuỳ thuộc vào mức sinh lời của tài sản trong và
ngoài nước.
17
Nhiều nước đang phát triển sử dụng các luồng vốn vào trong tài khoản tài
chính để hỗ trợ bù đắp cho mức thâm hụt cán cân vãng lai do nhập khẩu và tốc độ
phát triển kinh tế tăng lên, hoặc tăng tài sản dự trữ. Mặc dù có nhiều lợi ích như
vậy, nhưng những thay đổi đột ngột của số vốn rất lớn này cũng gây ra nhiều lo
lắng cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô. Luồng vốn có 4 vấn đề cần
quan tâm chủ yếu sau đây:
+ Các luồng vốn chảy vào có thể chỉ mang tính tạm thời, và do vậy có thể
được rót ra rất nhanh.
+ Các luồng chảy vào này có thể kích thích tăng cung tiền và làm tăng mức
lạm phát trong nước nếu như ngân hàng trung ương can thiệp vào thụ trường
ngoại hối để mua ngoại tệ cung ứng dư thừa. Những hậu quả gây lạm phát như
vậy có thể tránh được nếu như hoạt động can thiệp này mang tính chất có khả
năng triệt tiêu hiệu ứng tăng cung tiền.
+ Nếu ngân hàng trung ương không can thiệp thì luồng vốn chảy vào có thể
làm cho giá của đồng bản tệ tăng lên.
+ Các luồng chảy vào có thể đảm bảo cho hiện tượng tiêu dùng tăng tạm
thời và điều này cuối cùng sẽ dẫn đến việc cắt giảm chi tiêu để trả số nợ tích luỹ.
Từ đó, đưa ra những nghiên cứu sử dụng chúng một cách hiệu quả. Ví dụ:
nguồn vốn ODA nên đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng để tạo tiền đề cho luồng
FDI chảy vào trong nước.

NK 34.886 42.602 58.921
TB = XK - NK -2.439 -2.776 -10.360
% so với GDP -4,6 -4,6 -14,5
19
Năm 2005, 2006 mức thâm hụt cán cân thương mại tuy có giảm so với
những năm trước nhưng vẫn ở mức cao. Đặc biệt trong năm 2007, cán cân thương
mại thâm hụt ở mức kỷ lục cao lên tới 10.360 triệu USD, chủ yếu do cả tiêu thụ
trong nước và xuất khẩu tăng cao. Tuy nhiên, tốc độ tăng của xuất khẩu nhỏ hơn
tốc độ tăng của nhập khẩu nên gây ra thâm hụt tăng một cách đột biến.
2.1.1.2. Cán cân dịch vụ (Se)
Đối với nhiều nước phát triển thì cán cân dịch vụ là một phần quan trọng
trong cán cân vãng lai nói riêng và cán cân thanh toán quốc tế nói chung, tuy
nhiên đối với Việt Nam thì cán cân dịch vụ chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cán
cân vãng lai cũng như toàn bộ cán cân thanh toán.
Đơn vị: Triệu USD
Năm 2005 2006 2007
Se -219 -8 -894
Nhìn vào bảng số liệu trên, có thể thấy quy mô xuất khẩu của Việt Nam nói
chung còn rất nhỏ. Xét trên khía cạnh về tỷ trọng của xuất khẩu dịch vụ trong tổng
kim ngạch của xuất khẩu nói chung (bao gồm cả hàng hóa dịch vụ) thì tỷ trọng
của xuất khẩu dịch vụ vừa nhỏ lại vừa có xu hướng giảm đi, nguyên nhân chính là
do sức cạnh tranh của ngành dịch vụ nước ta trên thị trường thế giới còn chưa cao,
tốc độ tăng của kim ngạch xuất khẩu dịch vụ luôn thấp, còn thấp hơn tốc độ tăng
của xuất khẩu hàng hóa.
Mặt khác, cơ cấu xuất khẩu dịch vụ còn một số điểm bất hợp lí và chuyển
dịch chậm. Dịch vụ du lịch (xuất khẩu tại chỗ) luôn chiếm tỷ trọng cao nhất
(55,2% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ) nhưng tốc độ tăng còn thấp và “mật
độ” khách du lịch quốc tế đến Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực, ở
Châu Á và trên thế giới.
Ngoài du lịch, một số dịch vụ khác chiếm tỷ trọng rất nhỏ, như dịch vụ bảo

Đơn vị: Triệu USD
Năm 2005 2006 2007
Tr 3.380 4.049 6.430
Tư nhân 3.150 3.800 6.180
Chính phủ 230 249 250
Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy, trong cán cân chuyển giao vãng lai
của Việt Nam thì bộ phận chiếm tỷ trọng chủ yếu là chuyển giao tư nhân, còn bộ
phận chuyển giao chính phủ chiếm tỷ trọng không đáng kể và thường xu hướng ổn
định. Chuyển giao tư nhân của Việt Nam chủ yếu là chuyển tiền của người Việt
Nam sống ở nước ngoài (kiều hối)… Việc thiết lập thêm những kênh chuyển tiền
mới đã giúp cho người Việt Nam ở nước ngoài yên tâm chuyển tiền qua các kênh
chính thức và giúp giảm các chi phí chuyển tiền cũng như các rủi ro. Thêm vào
đó, chính sách thu hút kiều hối ngày càng thông thoáng chẳng hạn như cho phép
người Việt Nam trực tiếp mang tiền về nước mà không giới hạn số lượng chỉ cần
khai báo hải quan, cho phép Việt kiều mua nhà hay đầu tư tại Việt Nam… Đặc
biệt, việc Chính Phủ cho phép mở rộng đối tượng làm đại lí chi trả kiều hối đã tạo
thêm nhiều kênh chuyển tiền từ nước ngoài về, làm tăng sự cạnh tranh giữa các tổ
chức dịch vụ chi trả ngoại tệ tạo áp lực buộc các tổ chức này phải giảm chi phí
chuyển tiền và nâng cao chất lượng dịch vụ. Chính những điều này đã tạo nên sự
tăng vọt của lượng kiều hối chuyển về nước khiến cho chuyển giao tư nhân của
Việt Nam tăng lên không ngừng, nhờ đó Chính phủ bù đắp được một phần thâm
hụt của cán cân vãng lai.
2.1.2. Cán cân vốn
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

22
Đơn vị: Triệu USD
Năm 2005 2006 2007
FDI 1.889 2.315 6.550
Năm 2005, hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam mới thật sự khởi sắc,

Nguồn: SBV, IMF, WB
2.2.1.1 Cán cân thương mại (TB)
Năm 2008 2009 2010
TB -14,2 -8,9 -5,1
Nguồn: SBV, IMF, WB
Năm 2008. cán cân thương mại tiếp tục thâm hụt cao hơn năm 2007, lên tới
14,2 tỷ USD. Nguyên nhân chính là do giá cả hàng hóa trên thế giới tăng cao.
Theo Tổng cục Thống kê, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu tháng 12/2008 ước tính
đạt 4,9 tỷ USD, tăng 16,2% so với tháng trước chủ yếu do sản lượng dầu thô khai
thác tăng, mức tiêu thụ hàng dệt may mạnh hơn vào tháng cuối năm và lượng gạo
xuất khẩu đã tăng trở lại.
Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước tính đạt 62,9
tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
(kể cả dầu thô) đạt 34,9 tỷ USD, tăng 25,7%, chiếm 49,7% tổng kim ngạch xuất
khẩu; khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%, chiếm 50,3%. Trong
tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008, nhóm hàng công nghiệp nặng và
khoáng sản chiếm tỷ trọng 31%, nhóm hàng nông sản chiếm 16,3%.
Năm 2009 là năm kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng
hoảng tài chính thế giới, giá cả hàng hóa thế giới sau thời kì tăng giá vào khoảng 3
quý đầu năm 2008 đã có chiều hướng giảm mạnh trên thị trường thế giới cùng với
xu hướng giảm mạnh của giá dầu, điều này gây ra khó khăn cho hoạt động xuất
khẩu của nhiều nước và Việt Nam.
24
Nếu như trong các năm 2005-2006, kiều hối (chiếm hơn 90% khoản mục
“Chuyển giao”) đã vượt quá nhu cầu cần bù đắp thâm hụt cán cân thương mại,
làm giảm nhẹ đáng kể thâm hụt của cán cân vãng lai, thì nay, tình hình trên đã trở
nên xấu hơn nhiều trong năm 2009. Thông tin từ Ngân Hàng Nhà nước chi nhánh
TPHCM cho biết, trong 10 tháng đầu năm, lượng kiều hối nhận được tại các ngân
hàng trên địa bàn vào khoảng 2,6 tỉ đô la Mỹ, chỉ bằng 60% so với cùng kỳ năm
ngoái. Chúng ta biết rằng, TPHCM là nơi nhận gần 60% tiền kiều hối cả nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status