1
Họ tên: Nông Tuấn Anh
Lớp: CH 19B-TCNH
Bài cá nhân
Nguyên tắc thống nhất chính trị và kinh tế.
Thống nhất lãnh đạo, chính trị và kinh tế, đảm bảo quan hệ đúng đắn giữa kinh tế
và chính trị và tạo được động lực cùng chiều cho mọi người dân trong xã hội là một trong
những nguyên tắc cơ bản của việc quản lý kinh tế có căn cứ khoa học trong phạm vi
quốc gia.
Nội dung của nguyên tắc:
- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng.
- Bảo đảm sự quản lý của Nhà nước.
- Vừa phát triển kinh tế vừa giữ gìn bảo vệ chủ quyền độc lập đất nước
Tập trung dân chủ.
Nội dung cơ bản của nguyên tắc: Phải đảm bảo mối quan hệ kết hợp chặt
chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ trong quản lý kinh tế. Tập trung phải trên cơ sở
dân chủ, dân chủ phải thực hiện trong khuôn khổ chung.
Biểu hiện của quản lý tập trung: Có kế hoạch chung phát triển đất nước;
Thống nhất ban hành luật pháp; Thực hiện chế độ một thủ trưởng trong quản lý kinh tế.
Biểu hiện của quản lý dân chủ: xóa bỏ cơ chế xin – cho; cạnh tranh bình
đẳng; tăng cường phân cấp quản lý kinh tế
Kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ.
Quản lý Nhà nước theo ngành.
a) Khái niệm ngành trong kinh tế (ngành kinh tế kỹ thuật)
2
Ngành kinh tế kỹ thuật là tổng hợp của nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh, mà
hoạt động của chúng có những đặc trưng kỹ thuật – sản xuất giống nhau, hoặc tương tự
vị kinh tế trong ngành với Ngân sách Nhà nước.
- Thống nhất trong toàn ngành và liên ngành về việc tiêu chuẩn hóa quy cách,
chất lượng sản phẩm. Hình thành tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm.
- Trong việc thực hiện các chính sách, biện pháp phát triển và mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm chung cho toàn ngành và thực hiện sự bảo hộ sản xuất của ngành nội
địa trong những trường hợp cần thiết.
- Trong việc áp dụng các hình thức tổ chứ sản xuất khoa học và hợp lý các đơn vị
sản xuất kinh doanh trong toàn ngành.
- Trong việc thanh tra và kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị
kinh tế trong ngành. Định hướng đầu tư xây dựng lực lượng của ngành, chống sự mất cân
đối trong cơ cấu ngành và vị trí ngành trong cơ cấu chung cua rnền kinh tế quốc dân.
- Thực hiện các chính sách, các biện pháp phát triển thị trường chung cho toàn
ngành, bảo hộ sản xuất ngành nội địa.
- Thống nhất hóa, tiêu chuẩn hóa quy cách, chất lượng hàng hóa và dịch vụ, hình
thành hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm để cơ quan có thẩm quyền
ban bố.
- Thực hiện các biện pháp, các chính sách quốc gia trong phát triển nguồn nhân
lực, nguồn nguyên liệu, nguồn trí tuệ khoa học và công nghệ chung cho toàn ngành.
- Tham gia xây dựng các dự án Luânt, pháp lệnh, pháp quy, thẻ chế kinh tế theo
chuyên môn của mình để cùng các cơ quan nguyên tắc quản lý chuyên môn khác hình
thành hệ thống văn bản pháp luật quản lý ngành.
4
Họ tên: Bùi Minh Đức
Lớp: CH19B-TCNH
Bài cá nhân
Phân định và kết hợp quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất, kinh doanh
Sự cần thiết của việc phân biệt quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất, kinh
ttất cả các doanh nhân, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trên tất cả các lĩnh
vực, thuộc tất cả các ngành, còn doanh nhân thì quản lý doanh nghiệp của mình. Quản lý
nhà nước về kinh tế là quản lý vĩ mô còn quản lý sản xuất, kinh doanh là quản lý vi mô.
- Về mục tiêu quản lý: quản lý nhà nước theo đuổi lợi ích toàn dân, lợi ích cộng
đồng (phát triển nền kinh tế quốc dân, ổn định sự phát triển kinh tế- chính trị- xã hội, tăng
thu nhập quốc dân, tăng mức tăng trưởng của nền kinh tế, giải quyết việc làm…). Quản
lý sản xuất kinh doanh theo đuổi lợi ích riêng của mình (thu được lợi nhuận cao, ổn định
và phát triển doanh nghiệp, tăng thị phần, tạo uy tín cho sản phẩm của doanh nghiệp…)
- Về phương pháp quản lý: Nhà nước áp dụng tổng hợp các phương pháp quản lý
(phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục), trong đó phương
pháp đặc trưng của quản lý nhà nước là cưỡng chế bằng quyền lực nhà nước. Trong khi
đó, doanh nhân chủ yếu áp dụng phương pháp kinh tế và giáo dục thuyết phục.
- Về công cụ quản lý: Công cụ chủ yếu trong quản lý nhà nước về kinh tế là:
đường lối phát triển kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế, kế hoạch phát triển kinh tế,
pháp luật kinh tế, chính sách kinh tế, lực lượng vật chất và tài chính của Nhà nước. Các
doanh nghiệp có công cụ quản lý chủ yếu là: chiến lược kinh doanh, kế hoạch sản xuâtkỹ thuật – tài chính, dự án đầu tư để phát triển kinh doanh, các hợp đồng kinh tế, các quy
trình công nghệ, quy phạm pháp luật, các phương pháp và phương tiện hạch toán.
Nguyên tắc tăng cưòng pháp chế XHCN trong quản lý nhà nước về kinh tế
Sự cần thiết của việc thực hiện nguyên tắc
6
Một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở nước ta hiện nay là một nền kinh tế đa sở hữu về tư liệu sản xuất. Chính sự xuất hiện
của nhiều loại hình kinh tế thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau như: kinh tế nhà
nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân tư bản, kinh tế tư nhân…đòi hỏi Nhà nước phải
quản lý đối với nền kinh tế bằng những biện pháp, trong đó đặc biệt phải coi trọng
phương pháp quản lý bằng pháp luật, trên cơ sở pháp luật. Thực tiễn quản lý nhà nước
đối với nền kinh tế ở nước ta trong những năm qua cho thấy, tình trạng buông lỏng kỷ
chỗ Nhà nước thống nhất quản lý thương mại bằng chính sách, luật pháp và công cụ kế
hoạch hóa (gồm chiến lược, quy hoạch, các chương trình, dự án và kế hoạch) phát triên
thương mại.
Trong thực tiễn, sự thống nhất về chính trị và kinh tế, kinh doanh biểu hiện ở
mức độ cao thấp rất khác nhau, nhưng xu hướng chung là những bất đồng về chính trị
điều gây ra những trở ngại thậm chí là thất bại trong các đàm phán, hợp tác về phát triển
kinh tế, thương mại. Ở đâu và khi nào có sự thống nhất cao giữa chính trị và kinh tế, thì
tình hình phát triển kinh tế, thương mại được thúc đẩy, khả quan hơn hiệu quả hơn.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế đa dạng, nhiều chiều, nhiều tầng nấc khác nhau
hiện nay, các nước vẫn có thể tìm thấy sự thống nhất cao về kinh tế, về lợi ích kinh doanh
nhờ tìm ra những điểm tương đồng, gạt qua những bất đồng, mặc dù nền tảng chế độ
chính trị vẫn có sự khác biệt cơ bản.
Tập trung và dân chủ
Tập trung và dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất, đó là nguyên tắc quan
trọng nhất của quản lý Nhà nước về kinh tế nói chung cũng như về thương mại.
Có hai góc độ nghiên cứu nguyên tắc này: (1) tập trung quản lý vào cơ quan quản
lý cấp trên, cơ quan đầu não trung ương đối với những quyết định quan trọng về thương
8
mại mang tính quốc gia và quốc tế, đồng thời mở rộng quyền tự chủ, tự quyết định cho
các địa phương đối với những vấn đề thương mại mà trung ương không cần, không thể
quản lý hoặc trực tiếp quản lý sẽ kém hiệu quả; (2) tập trung sự quản lý trong tay Nhà
nước (có thẩm quyền riêng của cá nhân và thẩm quyền chung của tập thể) và mở rộng
quyền kinh doanh, tham gia vào quyết định quản lý Nhà nước của mọi người dân, người
tiêu dùng và các doanh nhân (tức là dân chủ cho mọi chủ thể tham gia trao đổi hàng hóa,
dịch vụ trên thị trường, chứ không chỉ dân chủ đối với bộ máy quản lý thương mại cấp
dưới hoặc dân chủ trong tập thể của hệ thống lãnh đạo).
Hoạt động thương mại diễn ra trên phạm vi cả nước và từng địa phương, trong
hướng phát triển thương mại, thị trường hàng hóa và dịch vụ về quy mô, cơ cấu, phạm vi;
các biện pháp thúc đẩy tự do hóa thương mại, bảo vệ sản xuất và thị trường nôi địa, tiêu
chuẩn hóa dịch vụ và sản phẩm trong trao đổi; phát triển các nguồn lực lao động, chất
xám, tài chính, công nghệ kỹ thuật kinh doanh và hạ tầng thương mại, xây dựng các văn
bản quản lý trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao phối hợp với các cơ quan
chuyên môn khác để hình thành thể chế và khung khổ pháp lý thương mại.
Khái niệm “lãnh thổ kinh tế, thương mại” hàm chứa một nhóm các đơn vị kinh tế
các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ có quan hệ với nhau trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, hoạt động thị trường. “Lãnh thổ kinh tế thương mại” bao gồm nhiều cấp, nhiều
mối quan hệ khác nhau. Mỗi doanh nghiệp có thể tham gia đồng thời vào “lãnh thổi kinh
tế” của địa phương và của vùng hoặc phạm vi cả nước tùy theo mức độ, phạm vi lĩnh vực
hàng hóa và dịch vụ mà họ lựa chọn. “Lãnh thổ kinh tế thương mại” không hoàn toàn
đồng nhất với “lãnh thổ hành chính”. Bởi người bán và người mua trong “Lãnh thổ
thương mại” không phải luôn cố định như cư dân cư trú trong “lãnh thổ hành chính”, mặt
khác họ có thể khác nhau về quốc tịch, ngày nay “Lãnh thổ kinh tế thương mại” là một
khái niệm mở bao gồm sự tham gia của các địa phương trong nước với các địa phương ở
nước ngoài có chung đường biên giới.
Quản lý theo lãnh thổ có nội dung quy hoạch, xây dựng và phát triển hạ tầng
thương mại hoặc địa phương hoặc vùng cụ thể hóa chính sách thương mại của quốc gia,
đồng thời xây dựng chính sách, quy định đặc thù lãnh thổ nhằm khai thác lợi thế so sánh
trong thương mại. Phối hợp thương mại với các ngành khác trong công tác quản lý nhà
10
nước từ công tác hoạch định đến tổ chức, điều tiết thị trường và kiểm tra, kiểm soát các
hoạt động trao đổi hàng hóa, cung cấp các dịch vụ, chấp hành luật pháp …. giữa các chủ
thể kinh doanh với người tiêu dung và dân cư trong phạm vi lãnh thổ.
Hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường có thể diễn ra ở phạm vi địa
phương theo lãnh thổ hành chính hoặc theo lãnh thổ thương mại, nhưng suy cho cùng đều
cung cấp dịch vụ quốc tế đối với thị trường nội địa.
Mức độ mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế không có khuôn mẫu chung cho
mọi quốc gia, nhưng mỗi nước đều phải nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và xu hướng
phát triển để vận dụng cho phù hợp. Mở cửa thị trường, hội nhập được thể hiện trong các
chính sách thương mại của quốc gia thông qua việc dỡ bỏ hoặc giảm thấp các rào cản đối
với thương mại và đầu tư. Kết quả của việc thực thi chính sách thương mại trong trường
hợp này được thể hiện trên tầm vĩ mô ở “độ mở” của nền kinh tế ( so sánh kinh ngạnh
xuất khẩu so với GDP).
Giữa bảo vệ thị trường nội địa với mở cửa thị trường, hội nhập quốc tế vừ có sự
thống nhất, nhưng vừa mâu thuẫn nhau. Do vậy, trong quản lý nhà nước về thương mại
cần phải xử lý đúng tính thống nhất và mâu thuẫn đó, luôn coi kết hợp bảo vệ thị trường,
sản xuất nội địa với mở rộng và phát triển thị trường ngoài nước là nguyên tắc của hội
nhập và “sân chơi” chung khu vực và toàn cầu.
12
Họ tên: Ngô Quốc Phong
Lớp: CH19B-TCNH
Bài cá nhân
2.5. Đảm bào tính hiệu lực và hiệu quả của quản lý.
Tính hiệu lực của quản lý được thể hiện ở việc ra quyết định quản lý về thương
mại của nhà nước ở các cấp và ngành thương mại có được thực thi và chấp nhận của đối
tượng quản lý hay không? Các quyết định quản lý được thể hiện ở các văn bản nhà nước
ban hành. Nếu quyết định quản lý không được chuyển tới đối tượng quản lý kịp thời hoặc
đối tượng quản lý không chấp nhận, không thực thi hoặc thực thi rất chậm, điều đó có ý
nghĩa quản lý kém hiệu lực.
Tính hiệu quả của quản lý thể hiện ở mức độ thành công hay kết quả mang lại so
với chi phí nguồn lực đã bỏ ra nhờ có các chính sách, biện pháp hoặc công cụ quản lý của
nhà nước tác động tới thương mại, thị trường. Hiệu quả của quản lý được nhận biết trực
kết từ thực tiễn đổi mới ở nước ta hơn 20 năm qua, kết hợp với tham khảo có chọn lọc
kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường quốc tế, sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác Lênin, quy luật phát triển chung của kinh tế thị trường vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam.
Vì vậy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa là vấn đề lý luận, vừa là vấn
đề thực tiễn mới mẻ, gắn bó giữa nhận thức tính quy luật khách quan, sự lựa chọn con
đường và mô hình phát triển của dân tộc trong thời đại toàn cầu hóa với phát huy vai trò
chủ động, sáng tạo của Đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân lao động.
Tính khách quan trong phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam có đặc trưng quan
trọng là định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đó trong quá trình phát triển kinh tế
đất nước không chỉ dừng lại ở tư tưởng, đường lối chung của Đảng, mà còn phải thể chế
hóa thành những nội dung, chính sách, mục tiêu cụ thể, xác định không ai ngoài Nhà
nước phải đảm đương trách nhiệm ấy.
Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành xu thế khách quan đối với
mọi quốc gia và làm cho nền kinh tế thế giới tiến tới nhất thể hóa thành một chỉnh thể
thống nhất, trong đó mỗi nền kinh tế của quốc gia là một bộ phận không thể tách rời.
Việc hoàn hiện nguyên tắc quản lý kinh tế của Nhà nước ta hiện nay không nằm ngoài xu
thế đó thể hiện ở quan điểm, chủ trương về mở rộng quan hệ ngoại giao, hợp tác với các
quốc gia và tổ chức quốc tế trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, chế độ chính trị và cùng nhau
phát triển. Yêu cầu đặt ra có tính nguyên tắc và mục tiêu trong việc hoàn thiện nguyên tắc
quản lý kinh tế của Nhà nước hiện nay thích ứng với điều kiện mới. Cụ thể là :
15
- Cần phải có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của toàn cầu hóa và vấn đề hội
nhập: Không nóng vội, chủ quan hội nhập bằng mọi giá hoặc chậm trễ mà bỏ lỡ thời cơ.
- Việc hoàn thiện nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế hiện nay không thể xuất
phát từ những yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế mà phải trở thành chính sách chủ
động, đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tiến hành cải cách toàn diện theo các chuẩn mực quốc tế để bắt kịp với các xu
trường ở một số nước sẽ giúp chúng ta có cách đánh giá, vận dụng và thực hiện hiệu quả
nguyên tắc quản lý kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Thực hiện nguyên tắc quản lý kinh tế gắn với đảm bảo bình đẳng xã hội và phát
triển bền vững.
- Cần phải đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bình đẳng xã hội
trong phát triển kinh tế. Nhà nước điều chỉnh lại chính sách phân phối thu nhập trên cơ sở
mối quan hệ giữa thị trường và Nhà nước, có thể sử dụng nhiều công cụ để thực hiện vai
trò điều tiết trong phân phối thu nhập như thuế, ngân sách, tín dụng nhà nước và hệ thống
an sinh xã hội.
17
- Kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và bình đẳng xã hội còn thể hiện nguyên tắc quản lý
của Nhà nước trong cung cấp các dịch vụ công. Nhà nước cần tăng chi tiêu cho cả giáo
dục, y tế và các dịch vụ xã hội khác, đồng thời đảm bảo cho mọi người được bình đẳng
trong việc tiếp cận các dịch vụ đó. Nhà nước nên tạo điều kiện để khai thác tiềm năng của
khu vực kinh tế tư nhân trong việc hỗ trợ Nhà nước cung ứng kết cấu hạ tầng và dịch vụ
xã hội.
- Tăng trưởng trong nền kinh tế thị trường cần phải đi đôi với việc phát triển bền vững.
Nhà nước sử dụng có hiệu quả công cụ pháp luật, thuế, điều lệ hoặc chính sách quyền sở
hữu công khai nguồn tài nguyên...để kiểm soát mức độ nguy hiểm đối với môi trường
sinh thái.
18
Họ tên: Phạm Thị Thảo
Lớp: CH19B-TCNH
bảo một cơ cấu kinh tế lãnh thổ hợp lí và hoạt động kinh tế có hiệu quả trên địa bàn lãnh
thổ.
d) Nội dung quản lý kinh tế theo lãnh thổ
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và dự án phát triển kinh tế - xã hội trên lãnh thổ
( không phân biệt kinh tế trung ương, kinh tế địa phương, các thành phần kinh tế khác
nhau) nhằm xây dựng một cơ cấu kinh tế lãnh thổ hợp lí và có hiệu quả.
- Điều hòa, phối hợp hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các đơn vị kinh tế
trên lãnh thổ nhằm tận dụng tối đa và sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn lực sẵn
có tại địa phương.
- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật của từng vùng lãnh thổ bao gồm:
hệ thống giao thông vận tải; cung ứng điện năng; cấp thoát nước; đường sá, cầu cống; hệ
thống thông tin liên lạc….để phục vụ chung cho cả cộng đồng kinh tế trên lãnh thổ.
- Thực hiện công tác thăm dò, đánh giá tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn lãnh
thổ.
- Thực hiện sự phân bố các cơ sở sản xuất trên địa bàn lãnh thổ một cách hợp lí
và phù hợp với lợi ích quốc gia.
- Quản lý, kiểm soát việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia trên
địa bàn lãnh thổ.
- Quản lý, kiểm soát việc xử lí chất thải, bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn
lãnh thổ.
Kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ.
a) Khái niệm
Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ đòi hỏi phải có sự phối
hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ trên tất cả mọi lĩnh vực
kinh tế. Cả hai chiều quản lý đều phải có trách nhiệm chung trong việc thực hiện mục
tiêu của ngành cũng như của lãnh thổ. Sự kết hợp này sẽ tránh được tư tưởng bản vị của
20