TÓM LƯỢC
Với đề tài: Ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động kinh doanh của
công ty TNHH sản xuất, thương mại và dịch vụ tổng hợp Anh Mỹ.
Em nghiên cứu các vấn đề:
CHƯƠNG I: Thế nào là lãi suất, phân loại được lãi suất, một số lý luận về
hoạt động sản xuất, kinh doanh. Chỉ tiêu đo lường hoạt động kinh
doanh, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, đặc điểm
kinh doanh trong ngành xây dựng. Ảnh hưởng của lãi suất đến hoạt
động kinh doanh.
CHƯƠNG II: Tình hình ảnh hưởng của các nhân tố môi trường
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH sản xuất,
thương mại và dịch vụ tổng hợp Anh Mỹ. phân tích được thực trạng
ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty. Thấy được những ảnh hưởng của lãi suất đến hoạt động
kinh doanh. Rút ra được những thành công và hạn chế khi có tác động
của lãi suất đã ảnh hưởng đến những chính sách và kế hoạch của công
ty trong quá trình thương mại hóa.
CHƯƠNG III: Từ những ảnh hưởng phân tích ở chương 2, những
hạn chế còn tồn tại, để đưa ra được những giải pháp và kiến nghị cho
cả doanh nghiệp và nhà nước cùng thực hiện nhằm hạn chế sự ảnh
hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty.
1
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện được bài khóa luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực tìm kiếm, thu
thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như qua sách báo, internet, các bài luận văn
4
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
NHNN
: Ngân hàng nhà nước
NHTU
: Ngân hàng trung ương
NHTM
: Ngân hàng thương mại
SXKD
: Sản xuất kinh doanh
DN
: Doanh nghiệp
KTVM
: Kinh tế vĩ mô
CSTT
: Chính sách tiền tệ
TCTD
: Tổ chức tín dụng
DT
: Doanh thu
NVL
: Nguyên vật liệu
CNH- HĐH : Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
VND
tháng 4/2011 đến nay, NHNN đã 3 lần điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi USD, đưa lãi
suất tiền gửi USD của tổ chức và cá nhân xuống còn 0,25%/năm và 1%/năm.
Cùng với nỗ lực giảm lãi suất huy động, NHNN đã triển khai nhiều biện pháp
để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, đặc biệt là đối với 5 lĩnh vực ưu tiên. Riêng trong
thời gian từ tháng 6/2012 đến 6/2013, NHNN đã 5 lần điều chỉnh giảm trần lãi suất đối
với lĩnh vực, ngành nghề sản xuất ưu tiên. Hiện nay, lãi suất cho vay đối với những
lĩnh vực này dao động trong khoảng 9%/năm từ mức cho vay 13%/năm trước đây…
Chính điều đó đã làm cho lãi suất Ngân hàng tăng cao ảnh hưởng rất lớn đến các
doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty TNHH sản xuất, thương mại và
dịch vụ tổng hợp Anh Mỹ nằm trong lĩnh vực của ngành xây dựng, là một ngành được
nhà nước luôn chú trọng phát triển, tạo điều kiện rất nhiều. Khi phát triển các kênh huy
6
đông vốn thì yếu tố lãi suất luôn có những biến động và ảnh hưởng đến các dự án của
công ty. Thời gian gần đây, lãi suất trên thị trường biến động thường xuyên, do vậy,
việc hiểu được tác động của biến động lãi suất lên hoạt động sản xuất, kinh doanh của
công ty là rất quan trọng. Nó giúp cho công ty hạn chế được những rủi ro khi lãi suất
biến động. Vậy cụ thể lãi suất đã ảnh hưởng như thế nào? Tác động trên những
phương diện nào trong hoạt động kinh doanh của công ty? Nhận thấy tầm quan trọng
của chính sách lãi suất, em xin chọn đề tài: “Ảnh hưởng của biến động lãi suất đến
hoạt động kinh doanh của công ty TNHH sản xuất, thương mại và dịch vụ tổng hợp
Anh Mỹ”.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan.
Trên thực tế đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề tác động của lãi suất.
Qua thu thập được cá nhân em xin đưa ra một vài tên đề tài nghiên cứu như sau:
- Nghiên cứu của TS. Nguyễn Ngọc Bảo – Vụ trưởng vụ chính sách tiền tệ,
NHNN Việt Nam: “Một số vấn đề về cơ chế điều hành lãi suất hiện nay của Ngân
hàng Nhà nước đối với ổn định thị trường tiền tệ”. Bài viết chỉ ra mối liên hệ giữa các
- Đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Khải Hoàng
Anh, 2013: “Ảnh hưởng của lãi suất đến hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần
xây dựng Ngọc Vũ”; Vũ Thị Thanh Huyền hướng dẫn – Khoa Kinh tế, trường Đại học
Thương mại.
Các đề tài nghiên cứu trên đều đã tổng kết, đánh giá những đổi mới trong
chính sách lãi suất gắn liền với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách lãi suất
hiện hành của Việt Nam. Đưa ra một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách
lãi suất trong giai đoạn tích cực, chủ động hợp tác kinh tế sâu rộng của Việt Nam, hạn
chế những tác động tiêu cực của lãi suất tới doanh nghiệp thương mại…
Qua nội dung nghiên cứu của các đề tài nêu trên, cùng với những vấn đề đặt ra
trên thị trường lãi suất ở Việt Nam hiện nay, em nhận thấy nghiên cứu vấn đề ảnh
hưởng của lãi suất đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể là công ty sản
xuất, thương mại và dịch vụ tổng hợp Anh Mỹ thì chưa có nhiều đề tài nào đề cập đến.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu.
Đề tài: “Ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty TNHH sản xuất, thương mại và dịch vụ tổng hợp Anh Mỹ”.
• Về mặt lý luận
Đi sâu làm rõ các khái niệm, lý luận liên quan tới lãi suất (nhân tố ảnh hưởng
đến lãi suất, ảnh hưởng của lãi suất đến nền kinh tế), hoạt động kinh doanh (đo lường
hiệu quả của hoạt động kinh doanh, nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, đặc
điểm kinh doanh dịch vụ hàng không). Lý thuyết nguyên lý ảnh hưởng của lãi suất đến
hoạt động kinh doanh của công ty.
• Về mặt thực tiễn
Đề tài nghiên cứu và làm rõ các vấn đề sau đây:
- Thứ nhất, phân tích tình hình biến động của lãi suất tại Việt Nam những năm vừa qua (
giai đoạn 2011-2014).
- Thứ hai, phân tích ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động kinh doanh của
công ty TNHH sản xuất, thương mại và dịch vụ tổng hợp Anh Mỹ.
8
- Phương pháp phân tích:
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để đánh giá các chỉ tiêu về kết quả hoạt
động kinh doanh trên các góc độ như: doanh thu, lợi nhuận, chi phí kinh doanh…
Đồng thời, phương pháp này cũng được dùng để phân tích các nhân tố môi trường ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty.
- Phương pháp so sánh: là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích
các vấn đề về kinh tế, trong đề tài phương pháp này dùng để thực hiện việc so sánh số
liệu giữa các giai đoạn, các năm … để làm rõ được sự biến động, sự thay đổi giữa các
giai đoạn, các năm đó.
- Phương pháp tổng hợp số liệu:
9
Thu thập, tổng hợp và sắp xếp các số liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
một cách logic để từ đó phát hiện, phân tích mối liên hệ giữa chúng một cách chính
xác và hiệu quả.
- Phương pháp tài liệu
Thu thập, tham khảo các tài liệu có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu. Khi
thực hiện phương pháp này cần phải khai thác tài liệu một cách hiệu quả, sử dụng tốt
các tài liệu để phục vụ cho nghiên cứu.
Từ đó phân tích, khái quát vấn đề và đưa ra giải pháp phù hợp để hạn chế mức
ảnh hưởng của lãi suất tới tình hình hoạt động và các chính sách hoạt động của công
ty.
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp.
Ngoài phần tóm lược, lời mở đầu, các phụ lục, mục lục, bảng biểu, đề tài được
chia thành ba nội dung chính như sau:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về lãi suất và hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty TNHH sản xuất, thương mại và dịch vụ tổng hợp
Lãi suất là một trong những chỉ tiêu quan trọng, nó có ảnh hưởng rất lớn đến
quyết định đầu tư hay tiết kiệm của một cá nhân cũng như tổ chức, doanh nghiệp, bên
cạnh đó nó còn là một trong những công cụ của ngân hàng trung ương dung để điều
tiết lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế. Sự biến động, thay đổi của lãi suất ảnh hưởng
lớn đến hoạt động đầu tư của nền kinh tế.Trong nền kinh tế thị trường thông thường
ngân hàng trung ương ấn định khung lãi suất chung. Trong phạm vi khung lãi suất
riêng theo quan hệ cung cầu trên thị trường.Khung lãi suất chính là giới hạn tối đa của
lãi suất cho vay và tối thiểu của lãi suất tiền gửi mà ngân hàng trung ương quy định để
khống chế và quản lý chung về mặt lãi suất đối với các tổ chức tín dụng. Khung lãi
suất được ngân hàng trung ương công bố và thay đổi tùy thuộc vào giá cả thị trường,
sức mua của đồng tiền, cung cầu tín dụng và chính sách của nhà nước.
1.1.2. Phân loại lãi suất.
11
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng lãi suất được chia thành 3 loại
Lãi suất ngắn hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn hạn (thời gian vay
dưới 12 tháng).
Lãi suất trung hạn áp dụng đối với các khoản tín dụg trung hạn (thời gian vay từ
12 tháng đến 5 năm).
Lãi suất tín dụng dài hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng dài hạn (thời gian
vây trên 5 năm).
- Căn cứ vào các loại hình tín dụng (phân loại theo chủ thể tham gia quan hệ
tíndụng)
Lãi suất được chia thành các loại sau:
+ Lãi suất tín dụng thương mại áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay
dưới hình thức mua ban chịu hàng hoá .
+ Lãi suất tiền gửi : là lãi suất trả cho các khoản tiền gửi .Nó được áp dụng để
tính tiền lãi phải trả cho người giửi tiền .
+ Lãi suất tiền vay: là lãi suất người đi vay phải trả cho Ngân hàng do việc sử
Hoặc Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát
- Căn cứ vào mức ổn định của lãi suất
Lãi suất được chia làm hai loại.
• Lãi suất ổn định : là lãi suất áp dụng cố định trong suất thời hạn vay . Nó có ưu
điểm : Người gửi tiền và vay tiền biết trước số tiền lãi được trả và phải trả. Bên cạnh
đó nó có nhược điểm bị ràng buộc vào một lãi suất nhất định trong một thời hạn nào
đó dù cho các loại lãi suất khác thay đổi như thế nào.
• Lãi suất thả nổi : Là lãi suất có thể thay đổi lên xuống và có thể báo trước hoặc
không báo trước.Lãi suất thả nổi có lợi cho cả hai bên khi nhận và trả tiền
đềutính theo một lãi suất chung là lãi suất hiện tại.
Căn cứ vào mức ổn đinh của lãi suất
Lãi suất được chia làm 2 loại lãi đơn và lãi kép
+ Lãi suất đơn là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suất kỳ hạn vay
Công thức tính : I = Co . i . n
( trong đó I số tiền lãi, Co vốn gốc, i là lãi suất, n số kỳ )
Trong đó thời kỳ gửi vốn phải tương đương với thời kỳ của lãi suất
+ Lãi suất kép : là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tứ thu được trong
thời hạn sử dụng tiền vay
Công thức : C = Co ( 1=i)n
Trong đó:C số tiền thu được theo lãi gộp sau n k,Co vốn gốc ban đầu,i lãi suất; n số kỳ
gửi vốn.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước đóng vai trò trung tâm
trong hầu hết tất cả các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có thị trường tài chính. Vì lẽ
đó, lãi suất trong các nước đó đều do Nhà nước qui định, thậm chí một số nước còn
quy định đến cả mức chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân
hàng. Sự biến động của lãi suất trong các điều kiện như vậy phần lớn phụ thuộc vào ý
chí của chính phủ và không vận động theo bất cứ một quy luật nào.
Trái lại, trong các nền kinh tế thị trường, Nhà nước chỉ đóng vai trò là người
điều tiết vĩ mô, thị trường tài chính hoạt động theo cơ chế tự do hoá, cơ chế hình thành
Hình 1.2 Biến động lượng cung tiền khi theo đuổi lãi suất cố định.
Tuy mức biến động của lãi suất ít nhiều phụ thuộc vào các quy định của chính
phủ và NHTU, song đa số các nước có nền kinh tế thị trường đều dựa vào nguyên lý
này để xác định lãi suất. Do vậy, có thể tác động vào cung cầu trên thị trường vốn để
thay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu, chiến lược trong từng
thời kỳ chẳng hạn như thay đổi cơ cấu vốn đầu tư, tập trung vốn cho các dự án trọng
điểm. Mặt khác, muốn duy trì sự ổn định của lãi suất thì sự ổn định của thị trường vốn
phải được đảm bảo vững chắc.
Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng
Khi lạm phát được dự đoán tăng trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có xu
hướng tăng. Điều này là xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh
nghĩa và để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi suất danh
nghĩa phải tăng lên tương ứng. Mặt khác, công chúng dự đoán lạm phát tăng sẽ dành
phần tiết kiệm của mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc những dạng thức phi tài sản
khác như vàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài nếu có thể. Tất cả những
điều này làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất trên thị trường. Từ
mối quan hệ này cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của việc khắc phục tâm lý lạm
phát đối với việc ổn định lãi suất, sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế.
Ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận bình quân
Tỷ suất lợi nhuận bình quân của các dự án đầu tư phải cao hơn lãi suất các
khoản vay tài trợ cho dự án. Có như vậy các nhà đầu tư mới có lợi nhuận từ các dự án
15
đầu tư và phấn khởi mở rộng đầu tư. Do đó, cách đánh giá, lựa chọn chính sách lãi
suất phù hợp sẽ dựa trên cơ sở ước lượng tỷ suất lợi tức trung bình của nền kinh tế.
Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ
Bội chi ngân sách ở trung ương và địa phương trực tiếp làm cho cầu tiền tăng và
làm tăng lãi suất. Sau nữa, bội chi ngân sách sẽ tác động đến tâm lý công chúng về gia
tăng mức lạm phát và sẽ gây áp lực tăng lạm phát. Thông thường, Chính phủ thường
Tất cả những điều này gợi ý cho những nhà nghiên cứu, soạn thảo và điều hành
chính sách lãi suất phải có một cách nhìn và đánh giá một cách tổng thể trước khi đưa
ra bất cứ một kết luận hay một quyết định nào có liên quan đến lãi suất.
1.1.4. Tác động của biến động lãi suất đến nền kinh tế.
Mọi sự biến động về lãi suất cho vay trên thị trường cũng đều ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả SXKD hay nói cách khác là tác động trực tiếp đến lợi nhuận của DN
và qua đó điều chỉnh các hành vi của họ các hoạt động kinh tế. Khi lãi suất cho vay
của NHTM tăng sẽ đẩy chi phí đầu vào và giá thành sản phẩm tăng lên, làm suy giảm
lợi nhuận cũng như khả năng cạnh tranh của DN, gây ra tình trạng thua lỗ, phá sản
trong hoạt động SXKD. Xu hướng tăng lãi suất Ngân hàng sẽ luôn đi liền với xu
hướng cắt giảm, thu hẹp quy mô và phạm vi của các hoạt động SXKD trong nền kinh
tế. Ngược lại, khi lãi suất Ngân hàng giảm sẽ tạo điều kiện cho DN giảm chi phí, hạ
giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh. Lãi suất cho vay thấp
luôn là động lực khuyến khích các DN mở rộng đầu tư, phát triển các hoạt động
SXKD và qua đó kích thích tăng trưởng trong toàn bộ nền kinh tế.
Ở nước ta, do điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển, các kênh huy động
vốn đối với DN còn rất hạn chế nên nguồn vốn từ các Ngân hàng luôn đóng một vai
trò hết sức quan trọng, do đó, lãi suất cho vay của các NHTM luôn có tác động rất lớn
đến hoạt động của các DN. Trong năm 2008, dưới sức ép của tình trạng lạm phát tăng
cao và tác động từ các giải pháp chống lạm phát của Chính phủ, mặt bằng lãi suất cho
vay của các NHTM trên thị trường đã có những biến động bất thường và gây ra nhiều
xáo trộn trong nền kinh tế, trong đó khu vực DN là nơi chịu nhiều ảnh hưởng nhất. Có
lẽ mãi sau này người ta không thể quên được cảnh tượng “dòng người” xếp hàng để
rút tiền từ nơi lãi suất thấp sang nơi lãi suất cao vì lãi suất tiền gửi được đẩy lên liên
tục, cao nhất là 19-20%/năm. Theo đó lãi suất cho vay được đẩy lên đúng bằng lãi suất
tối đa, 21%/năm. Những tác động tiêu cực của lãi suất đến các DN trong năm vừa qua
có thể khái quát lại như sau:
- Do lãi suất cho vay tăng cao, hiệu quả SXKD của hầu hết các DN đã bị giảm
Nói chung vòng quay càng lớn thể hiện hiệu quả càng cao.
Các chỉ tiêu sinh lời
Các chỉ tiêu sinh lời luôn đựơc các nhà quản trị tài chính quan tâm. Đây chính là
cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ nhất
định,là đáp số sau cùng của hiệu quả kinh doanh và còn là một luận cứ quan trọng để
các nhà hoạch định đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai. Các chỉ tiêu sinh
lời có nhiều dạng.
18
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh.
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh là chỉ tiêu đo lường mức sinh lời của đồng
vốn. Cũng như chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, người ta thường tính riêng rẽ
mối quan hệ trước thuế và lợi nhuận sau thuế với vốn kinh doanh.
Trong hai chỉ tiêu trên thì chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn kinh doanh
được các nhà quản trị tài chính sử dụng nhiều hơn, bởi lẽ nó phản ánh số lợi nhuận còn
lại, (sau khi đã trả lãi vay ngân hàng và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước), được
sinh ra do sử dụng bình quân một đồng vốn kinh doanh
Từ công thức (*) ta có thể biến đổi lại như sau:
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng cho các chủ nhân
của doanh nghiệp đó. Doanh lợi vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện
của mục tiêu này. Công thức tính được xác định như sau:
= (**)
Để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu cao hay thấp
bằng việc phân tích công thức (**) như sau:
doanh nghiệp khác. Hệ thống pháp luật hoàn thiện và sự nghiêm minh trong thực thi
pháp luật sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp, tránh tình
trạng gian lận, buôn lậu ...
Mức độ ổn định về chính trị và luật pháp của một quốc gia cho phép
doanhnghiệp có thể đánh giá được mức độ rủi ro, của môi trường kinh doanh và ảnh
hưởng của của nó đến doanh nghiệp như thế nào, vì vậy nghiên cứu các yếu tố chính trị và
luật pháp là yêu cầu không thể thiếu được khi doanh nghiệp tham gia vào thị trường.
-Yếu tố kinh tế : Có thể tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập mở rộng thị
trường, ngành hàng này nhưng lại hạn chế sự phát triển của nghành hàng khác. Các
yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến sức mua, sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng hay xu hướng
phát triển của các ngành hàng , các yếu tố kinh tế bao gồm :
+ Hoạt động ngoại thương : Xu hướng đóng mở của nền kinh tế cóảnh hưởng
các cơ hội phát triển của doanh nghiệp ,các điều kiện canh tranh ,khả năng sử dụng ưu
thế quốc gia về công nghệ, nguồn vốn .
+ Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập, tích luỹ ,
tiêu dùng, kích thích hoặc kìm hãm đầu tư ...
21
+Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế ảnh hưởng đến vị trí vai trò và xu hướng phát
triển của các ngành kinh tế kéo theo sự thay đổi chiều hướng phát triển của doanh
nghiệp .
+ Tôc độ tăng trưởng kinh tế : Thể hiện xu hướng phát triển chung của nền
kinh tế liên quan đến khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp .
-Các yếu tố văn hoá xã hội : Có ảnh hưởng lớn tới khách hàng cũng như hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp ,là yếu tố hình thành tâm lí, thị hiếu của người tiêu
dùng. Thông qua yếu tố này cho phép các doanh nghiệp hiểu biết ở mức độ khác nhau
về đối tượng phục vụ qua đó lựa chọn các phương thức kinh doanh cho phù hợp .
năng động nhưng luôn trong tình trạng bị đẩy lùi.
-Người cung ứng: Đó là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong và ngoài
nước mà cung cấp hàng hoá cho doanh nghiệp, người cung ứng ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh cua doanh nghiệp không phải nhỏ ,điều đó thể hiện trong việc thực
hiện hợp đồng cung ứng, độ tin cậy về chất lượng hàng hoá, giá cả, thời gian, điạ điểm
theo yêu cầu …
Các yếu tố chủ quan :
Là toàn bộ các yếu tố thuộc tiềm lực của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể
kiểm soát ở mức độ nào đó và sử dụng để khai thác các cơ hội kinh doanh. Tiềm năng
phản ánh thực lực của doanh nghiệp trên thị trường, đánh giá đúng tiềm năng cho phép
doanh nghiệp xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh đúng đắn đồng thời tận
dụng được các cơ hội kinh doanh mang lại hiệu quả cao.
Các yếu tố thuộc tiềm năng của doanh nghiệp bao gồm: Sức mạnh về tài chính,
tiềm năng về con người, tài sản vô hình, trình độ tổ chức quản lí, trình độ trang thiết bị
công nghệ, cơ sở hạ tầng, sự đúng đắn của các mục tiêu kinh doanh và khả năng kiểm
soát trong quá trình thực hiện mục tiêu .
+Sức mạnh về tài chính thể hiện trên tổng nguồn vốn (bao gồm vốn chủ sở
hữu,vốn huy động) mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng quản
lí có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh. Sức mạnh tài chính thể hiện ở khả
năng trả nợ ngắn hạn, dài hạn, các tỉ lệ về khả năng sinh lời của doanh nghiệp …
+Tiềm năng về con người : Thể hiện ở kiến thức, kinh nghiệm có khả năng đáp
ứng cao yêu cầu của doanh nghiệp, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đội ngũ
cán bộ của doanh nghiệp trung thành luôn hướng về doanh nghiệp có khả năng chuyên
môn hoá cao, lao động giỏi có khả năng đoàn kết, năng động biết tận dụng và khai
thác các cơ hội kinh doanh …
+Tiềm lực vô hình : Là các yếu tố tạo nên thế lực của doanh nghiệp trên thị
trường, tiềm lực vô hình thể hiện ở khả năng ảnh hưởng đến sự lựa chọn, chấp nhận và
ra quyết định mua hàng của khách hàng. Trong mối quan hệ thương mại yếu tố tiềm
lực vô hình đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác mua hàng, tạo nguồn cũng như khả
năng cạnh tranh thu hút khách hàng, mở rộng thị trường kinh doanh …Tiềm lực vô
quyết định đi tới các chính sách đầu tư mở rộng hay thu hẹp tập trung sản xuất. Dựa
vào từng hoạt động kinh tế có thể đưa ra được những dự án đầu tư phù hợp, và phải
tương thích với những biến động thị trường. Nhu cầu nhà ở, nâng cấp đời sống xã hội,
nhu cầu xây dựng các khu công nghiệp, nâng cấp cơ sở hạ tầng... tất cả đều cần thiết,
điều đó cho thấy tầm quan trọng của ngành.
1.3. Ảnh hưởng của lãi suất đến hoạt động kinh doanh.
Biến động lãi suất ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, tuy nhiên trong phạm vi bài viết, có thể chia ra ba ảnh hưởng chính sau.
1.3.1. Ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn.
Lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy để phát triển kinh tế cần phải có vốn và
thời gian. Đối với Việt Nam trên con đường phát triển kinh tế thì vấn đề tích luỹ và
24
sử dụng vốn có tầm quan trọng đặc biệt cả về phương pháp nhận thức và chỉ đạo
thực tiễn. Vì vậy chính sách lãi suất có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy
động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và các tổ chức kinh tế đảm bảo đúng định
hướng vốn trong nước là quyết định, vốn ngoài nước là quan trọng trong chiến lược
CNH-HĐH nước ta hiện nay. Những năm vừa qua, do ảnh hưởng của biến động lãi
suất, đặc biệt là do yếu tố lạm phát, kênh đầu tư vào Việt Nam đồng đã không còn là
sự ưu tiên cho các nhà đầu tư, thay vào đó, họ đầu tư vào các tài sản có sự an toàn cao
như vàng,… Vì thế, có những lúc giữa các ngân hàng đã xảy ra những cuộc đua về lãi
suất huy động vốn nhằm mục đích tận dụng các khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư..
Lãi suất tiền gửi tăng cao dẫn đến lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng cao
tương ứng, tuy nhiên có một thực tế là kể cả lãi suất cho vay có tăng cao đến đâu đi
chăng nữa thì doanh nghiệp vẫn rất khó tiếp cận với nguồn vốn vay bởi ngân hàng
đang còn bận thu hồi vốn từ những khoản như nợ xấu, đầu tư ngoài ngành… Lãi suất
tăng cao, vốn cho vay từ các cơ sở tín dụng bị hạn chế khiến doanh nghiệp phải tự cơ
cấu lại hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, cát giảm đầu tư, thu hẹp quy mô, khả
năng hoạt động của doanh nghiệp.