Nâng cao chất lượng quản lý nguồn nhân lực tại các trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh thái nguyên - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN HOÀNG NAM

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ


ii

THÁI NGUYÊN - 2013
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN HOÀNG NAM

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS. BẠCH HỒNG VIỆT


nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân và tập thể.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Bạch Hồng Việt, người đã tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại
học cũng như các khoa chuyên môn, phòng ban của Trường Đại học Kinh tế và
Quản trị Kinh doanh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Đảng uỷ, Ban giám hiệu
các trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế công nghiệp, trường Cao đẳng Công
nghiệp Việt Đức, trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Thái Nguyên, tập thể cán ,bộ
công nhân viên, giảng viên và các em sinh viên đã và đang học tập đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong việc thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp và các thông tin hữu ích
phục vụ nghiên cứu.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động
viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Thái Nguyên, ngày

tháng

năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Hoàng Nam


iii

MỤC LỤC


Trung học phổ thông
Trung học chuyên nghiệp
Uỷ ban nhân dân


v

DANH MỤC BẢNG


1

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Dù ở thời đại nào, nguồn nhân lực cũng luôn là yếu tố quan trọng nhất quyết
định sức mạnh của một quốc gia. Bởi vì chúng ta biết rằng mọi của cải vật chất đều
được làm nên từ bàn tay và trí óc của con người.
Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào với dân số hơn 85 triệu người (Tính
đến ngày ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam: 85.789.573 người), với thế mạnh
lớn về lao động nhưng tại sao chúng ta vẫn đang gặp khó khăn trong việc thúc đẩy
kinh tế đi lên? Có nhiều nguyên nhân lí giải cho vấn đề này, trong đó chất lượng
nguồn nhân lực hiện nay của nước ta được xem là nguyên nhân mấu chốt.
Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập Thế giới, từng bước tiến tới chiếm
lĩnh khoa học công nghệ cao vì thế đòi hỏi một lực lượng đông đảo nhân lực có
trình độ cao, có khả năng làm việc trong môi trường công nghệ và cạnh tranh. Đặc
biệt với một số ngành đặc thù như năng lượng nguyên tử, công nghệ thông tin lại
càng đòi hỏi nhân lực đạt đến trình độ quốc tế hoá. Bên cạnh đó một số ngành mũi
nhọn như ngân hàng tài chính, du lịch cũng yêu cầu một đội ngũ đủ khả năng thích
ứng với mọi biến động của thị trường trong nước và thế giới…Có thể nói rằng ở
lĩnh vực nào, nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ… chúng ta đều đang thiếu lao

- Khái quát một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực
- Phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tại trường các trường Cao
đẳng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực tại các trường Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nguồn nhân lực tại các trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Thực trạng nguồn nhân lực của các trường Cao đẳng trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên.
Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của các trường cao
đẳng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian và tình độ nên chỉ tập trung vào 3 trường: Trường
Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế công nghiệp, trường Cao đẳng Công nghiệp Việt
Đức và trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Thái Nguyên.


3
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc làm cần thiết không chỉ của các
trường Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên mà còn là việc làm tối quan trọng
của các cấp bậc giáo dục khác trong cả nước. Do điều kiện thời gian và trình đọ có
hạn nên đề tài tập trung nghiên cứu nguồn nhân lực của ba trường là: trường Cao
đẳng Công nghiệp Việt đức, trường Cao đẳng Tài chính Kế Toán Thái Nguyên và
trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế công nghiệp.
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài không chỉ khái quát một số vấn đề lý thuyết về nguồn nhân lực mà còn
phân tích thực trạng nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh
Việc chỉ ra mặt mạnh, mặt yếu của nguồn nhân lực đó sẽ giúp cho việc nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực cho các trường

nhân lực", mặc dù có nhiều nghiên cứu và bài viết về nguồn lực con người, về tài
nguyên con người . Nguồn nhân lực (NNL) là yếu tố quan trọng hàng đầu trong lực
lượng sản xuất.Với vai trò quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản
xuất, nguồn nhân lực quyết định sự phát triển và tiến bộ của toàn xã hội. Trong các
lý thuyết về "vốn", về "tăng trưởng", thì NNL đều được coi là yếu tố hàng đầu, đảm
bảo cho sự phát triển sản xuất và dịch vụ. Có nhiều cách tiếp cận khái niệm NNL
dưới nhiều góc độ khác nhau.
Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ
năng và năng lực của con người có liên quan đến sự phát triển xã hội. Với cách nhìn
này, NNL được xem xét ở phương diện chất lượng, vai trò và sức mạnh của con
người đối với sự phát triển của xã hội.
Theo đề tài khoa học - công nghệ cấp nhà nước mang mã số KX - 07: "Con
người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" do GS.TSKH
Phạm Minh Hạc chủ trì , nguồn nhân lực được quan niệm là số dân và chất lượng con
người bao gồm: thể chất, tinh thần, sức khoẻ, trí tuệ, năng lực và phẩm chất.
Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải khẳng định: "Nguồn nhân lực con người bao
gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta".


5
Như vậy, các quan niệm về nguồn nhân lực tuy khác nhau ở cách tiếp cận
nhưng đều có điểm chung khi cho rằng đó là khái niệm về số dân cư, cơ cấu dân cư
và chất lượng dân cư của một đất nước với tất cả các đặc điểm về thể chất, tinh
thần, sức khoẻ, trí tuệ, năng lực, phẩm chất và lịch sử của dân tộc đó.
Từ quan niệm chung đó có thể thấy, NNL của một tổ chức được hình thành trên
cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết lại bởi mục tiêu của tổ chức .
Với cách hiểu như vậy, NNL trong một tổ chức sẽ bao gồm các mặt cơ bản sau:
* Về số lượng của nhân viên trong tổ chức:
Thể hiện quy mô của tổ chức, số lượng nhân viên càng đông, quy mô tổ chức
càng lớn và ngược lại số lượng ít, quy mô tổ chức nhỏ.

triển của tổ chức cũng nhằm phục vụ lợi ích và tạo điều kiện phát triển cho nguồn nhân
lực. Do đó, giữa tổ chức và NNL trong tổ chức phải có một mối liên hệ ràng buộc chặt
chẽ để cùng nhau phát triển bền vững trong sự phát triển chung của xã hội.
Sức mạnh của NNL trong tổ chức biểu hiện tập trung ở chất lượng của nhân
viên trong tổ chức với ba tiêu thức đánh giá : Trí lực, thể lực và đạo đức. Đây chính
là sự kết hợp thống nhất giữa sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mỗi cá
nhân trong tổ chức, trong đó trí lực có vai trò đặc biệt quan trọng, là nền tảng sức
mạnh của mỗi tổ chức. Tuy nhiên trí lực và thể lực chỉ có thể tạo ra sức mạnh thúc
đẩy sự phát triển của tổ chức, khi chủ nhân của nó là những con người có phẩm chất
đạo đức tốt. Đạo đức là yếu tố tất yếu trong yêu cầu đời sống con người, có vai trò
lớn về tinh thần trong sự phát triển của tổ chức. Sự suy thoái về đạo đức sẽ dẫn đến
sự suy thoái về chất lượng NNL trong tổ chức, dẫn đến sự suy thoái của tổ chức và
cuối cùng có thể dẫn đến sự sụp đổ của một tổ chức. Vì vậy, khi xem xét sức mạnh
NNL của tổ chức, phải xem xét một cách toàn diện cả ba mặt trí lực, thể lực và đạo
đức của NNL trong tổ chức đó.
Ngày nay, vấn đề "Phát triển nguồn nhân lực" (Human Resources
Development) được thế giới xác định là vấn đề quan trọng nhất trong sự phát triển.
Nó vừa có tính chất "mục đích" vừa có tính chất "phương tiện". Phát triển để phục
vụ cho chính con người và NNL cũng là yếu tố sản xuất có tính chất quyết định
nhất để phát triển kinh tế xã hội nói chung .
Để xã hội phát triển đạt kết quả cao, cần phải dựa vào 04 yếu tố cơ bản cần
thiết cho tăng trưởng và phát triển kinh tế : Tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, kỹ
thuật công nghệ và NNL. Đặc biệt, đối với nước ta, một nước có xuất phát điểm


7
thấp, tài nguyên thiên nhiên mặc dù đa dạng, nhưng trữ lượng ít; nguồn vốn hạn
hẹp; kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, việc xây dựng NNL có chất lượng cao là một
lợi thế so sánh tương đối của đất nước hiện nay. Chính vì thế, yếu tố con người
trong công cuộc xây dựng đất nước cần được xem là yếu tố phát triển quan trọng

năm tới. Năm 2009, dân số trong độ tuổi lao động chiếm 60% dân số, dự kiến các
năm 2015 chiếm 65,4 năm 2020 chiếm 65%. Do đó, có thể thấy nguồn nhân lực
Việt Nam tiềm năng dồi dào cho phát triển kinh tế, đến năm 2020 ước đạt trên 65
triệu người trong độ tuổi lao động.
Với quy mô nguồn nhân lực lớn, tăng nhanh hàng năm, với đa phần nhân lực
bổ sung trẻ, khoẻ, có kiến thức chuyên môn và khả năng nhanh nhạy, thích ứng
được với cơ chế thị trường, có thu nhập đang tăng lên sẽ là điều kiện thuận lợi đáp
ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế đang ở trong giai đoạn tăng lên
nhanh chóng, là lợi thế trong việc thu hút đầu tư, khai thác, sử dụng và kết hợp các
nguồn lực đầu vào khác cho phát triển kinh tế. Đồng thời quy mô nhân lực lớn là
điều kiện thúc đẩy thị trường tiêu thụ nội địa mạnh mẽ.
Tuy nhiên, việc tăng nhanh về quy mô, tốc độ của nguồn nhân lực trong điều
kiện kinh tế nước ta Nông nghiệp chiếm phần lớn, nền kinh tế phát triển chậm sẽ
tạo ra sức ép mạnh mẽ về đào tạo nghề cho người lao động, mở rộng sản xuất kinh
doanh để giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, nâng cao chất
lượng cuộc sống và đáp ứng các dịch vụ công cộng khác.
Nguồn nhân lực có đặc điểm trẻ, tỷ lệ nam - nữ khá cân bằng:
Nguồn nhân lực trẻ của Việt Nam là bộ phận dân số có khả năng lao động,
có độ tuổi từ 15 - 24, đây là bộ phận nhân lực tham gia vào các lĩnh vực đòi hỏi có
sức khoẻ, có trình độ và vào những công trình trọng điểm như: Nhà máy, hầm mỏ,
những hoạt động sản xuất vất vả. Đây là nhóm có nhiều ưu thế về trình độ văn hoá,
trình độ chuyên môn và thể lực, có sức tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học - công
nghệ mới. Nguồn nhân lực trẻ cũng là lợi thế quan trọng làm tăng hiệu quả sử dụng
nguồn nhân lực và khả năng cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam trên thị
trường lao động trong và ngoài nước.
Nhược điểm lớn nhất của nguồn nhân lực trẻ là bộ phận đang tích cực tìm
kiếm việc làm song chưa có nhiều kinh nghiệm làm việc và luôn thay đổi công việc.
Đó là yếu tố quan trọng tác động lên cơ chế quản lý Nhà nước tạo sức ép mạnh nhất
về việc làm trong xã hội.


cực vào hoạt động kinh tế cho thấy nguồn nhân lực Việt Nam có quy mô lớn, đồng
thời đã huy động được toàn bộ phụ nữ tham gia vào nguồn nhân lực, tham gia vào
các hoạt động kinh tế để tạo ra của cải cho xã hội.


10
Vấn đề tích cực giải quyết việc làm cho lao động nữ, tạo cho tỷ lệ nam - nữ
trong hoạt động kinh tế tương đối bằng nhau là sự cố gắng của Chính phủ, cơ sở lao
động và đặc biệt là sự có gắng vươn lên của lao động nữ. Tuy nhiên, nguy cơ thất
nghiệp hoặc thất nghiệp tạm thời của nữ là rất lớn (do sức khoẻ, sinh đẻ, do sắp xếp,
giải thể doanh nghiệp và giảm biên chế của cơ quan hành chính, sự nghiệp).
Cơ cấu nguồn nhân lực phân bổ chưa hợp lý giữa thành thị, nông thôn, giữa
vùng, miền lãnh thổ, giữa các ngành kinh tế và các thành phần kinh tế:
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước, kinh tế - xã hội nước ta có những chuyển biến đáng kể. Cơ
cấu kinh tế đang có những biến đổi mạnh mẽ theo hướng tăng dần tỷ trọng các
ngành công nghiệp, dịch vụ. Cơ cấu nguồn nhân lực cũng biến chuyển theo nhằm
phù hợp với sự chuyển dịch của nền kinh tế nhưng có sự phân bổ chưa hợp lý giữa
thành thị và nông thôn; giữa vùng, miền lãnh thổ, giữa các ngành kinh tế và giữa
các thành phần kinh tế cụ thể
Dân số ở khu vực nông thôn có sự dịch chuyển sang thành phố, thị xã, thị
trấn, thị tứ nhưng còn chậm. Hiện nay dân số ở nông thôn vẫn chiểm một tỷ lệ cao
trong tổng số dân của cả nước. Năm 1999 có gần 76,39% dân số sống ở nông thôn,
năm 2009 là 70,37%. Trong dân số ở nông thôn thì tỷ lệ lao động thuần nông (lao
động chủ yếu sản xuất nông nghiệp) chiếm tỷ lệ lớn. Ngoài ra còn một bộ phận
nhân lực ở nông thôn buôn bán nhỏ, làm các nghề khác nhưng vẫn tham gia sản
xuất nông nghiệp. Theo báo cáo điều tra của tổng cục điều tra dân số, năm 2009 dân
số Việt Nam có 85.846.997 người thì 70,37% dân số sống ở nông thôn. Như vậy, số
nhân lực tại nông thôn chiếm tỷ lệ cao (hơn 2/3 dân số) nhưng giá trị tổng sản lượng
mà số dân đó làm ra chỉ chiếm hơn 10% sản lượng của nền kinh tế quốc dân. Điều

chuyên môn cao chỉ chiếm 8% nhưng tập trung tại các cơ quan trung ương(89,3%);
8,9% ở cấp tỉnh; 1,8% ở cấp huyện còn xã hầu như không có.
Sức khoẻ nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường: Mức
dinh dưỡng của nguồn nhân lực Việt Nam đã tăng từ 2.400cal/người/ngày năm 1994
lên 3.000cal/người/ngày năm 2005. Đời sống vật chất, tinh thần được nâng lên, công
tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng dân cư được Chính phủ quan tâm, chính sách xoá đói
giảm nghèo được đánh giá là quốc gia đi đầu trong số các quốc gia kém phát triển. Tuy
nhiên, do điều kiện là một nước nghèo, thu nhập dưới 600USD/người/năm trong nhiều
năm qua, đứng thứ 165/208 quốc gia va vùng lãnh thổ, còn 29% dân số có thu nhập


12
dưới 1USD/ngày/người và 50% số dân có thu nhập dưới 2USD/người/ngày, chỉ có
55% dân số nông thôn có nước sạch. Trong điều kiện đó, dẫn đến dân số nói chung và
nguồn lao động nói riêng có sức khoẻ không đảm bảo.
Như vậy, nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam được nâng lên
nhưng so với các nước trong khu vực còn thấp, nhất là trình độ chuyên môn, sức
khoẻ và sự phân bổ nguồn nhân lực được đào tạo giữa các vùng miền, điều đó dẫn
đến chưa đáp ứng được yêu cầu cho phát triển nền kinh tế thị trường, thực hiện
công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hoá theo hướng hiện đại.
Nguồn nhân lực có tỷ lệ thất nghiệp cao, đặc biệt thất nghiệp ở khu vực
thành thị và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn không cao:
Trong chính sách phát triển kinh tế, Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm đến
giải quyết việc làm cho người lao động. Chính phủ đã thực hiện đồng bộ các chính
sách khuyến khích đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá nông
nghiệp, nông thôn, ưu tiên hỗ trợ và ưu đãi ngành nghề, doanh nghiệp sử dụng nhiều
lao động, đa dạng hoá ngành nghề, đầu tư cho đào tạo nhất là đào tạo nghề để người
lao động tự tìm việc làm cho mình và cho tạo việc làm cho người khác, phát triển thị
trường lao động trong và ngoài nước nhằm tạo việc làm cho người lao động. Tuy
nhiên, sức ép về việc làm vẫn rất lớn do cung về lao động vượt quá cầu trong nhiều

tiền đề vững chắc và là nhân tố quyết định đến sự hưng thịnh cũng như suy thoái
của nền kinh tế, của doanh nghiệp hay của các cơ sở giáo dục. Phát triển nguồn
nhân lực giúp cho nền kinh tế có được đội ngũ lao động có trinh độ cao, từ đó
giúp nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Từ đó nó tạo ra một môi trương
kinh tế ổn định, đời sống của người lao động được nâng cao. Phát triển nguồn
nhân lực sẽ giúp cho nền kinh tế, đặc biệt là kinh tế thị trường thích nghi được
với những biến động, những chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước cũng như
trên thế giới. một nền kinh tế không thể phát triển tốt được nếu thiếu đi một đội
ngũ lao động có tay nghề cao cũng như một bộ phận nhà quản lý có tầm nhìn
chến lược. Do đó, việc phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực có
chất lượng cao ngày càng trở thành quan trọng nhất đối với nền kinh tế.
1.3. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
Hiện nay Thế giới dùng chỉ tiêu HDI (Human Development Index) để đánh giá
trình độ phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia trên ba phương diện là mức độ phát
triển kinh tế, giáo dục và y tế. Các mặt này tương ứng được xác định bởi các chỉ tiêu:


14
- GDP thực bình quân đầu người hàng năm tính theo sức mua ngang giá (PPP);
- Kiến thức (tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học của các cấp giáo dục);
- Tuổi thọ bình quân.
Phương pháp tính chỉ tiêu HDI cụ thể như sau:
HDI =

IA + IE + IW
3

IA =

( 0 < HDI < 1 )

mức thu nhập theo đầu người thấp nhất Thế giới. Wi là mức thu nhập theo đầu
người của nước i.


15
Trong báo cáo phát triển con người (Hunman Development Report) 2001 quy
định các chỉ số thấp nhất và cao nhất Thế giới như sau:
Tuổi thọ: 25 năm và 85 năm.
Tỷ lệ biết chữ của người lớn: 0% và 100%.
Tỷ lệ huy động đi học: 0% và 100%
GDP/người thực (PPP$): 100 và 40.000
Ví dụ: Với cách tính trên, theo Báo cáo về phát triển con người năm 2001 chỉ
số HDI của Việt Nam là 0,682 với các số liệu tuổi thọ là 67,8 năm, tỷ lệ biết chữ
của người lớn là 93,1 và nhập học của các cấp giáo dục là 67%, GDP bình quân đầu
người theo PPP $ là 1860.
Ngoài chỉ số tổng hợp HDI, người ta còn dùng các hệ thống chỉ tiêu dưới đây
để đánh giá trực tiếp các khía cạnh khác nhau sức khỏe, trình độ học vấn và chuyên
môn kỹ thuật của nguồn nhân lực cũng như để thấy rõ nhân tố ảnh hưởng đến nó ở
hiện tại và trong tương lai.
Chỉ tiêu đánh giá sức khoẻ
Sức khỏe là sự phát triển hài hòa của con người cả về thể chất và tinh thần.
Sức khỏe cơ thể là sự cường tráng, năng lực lao động chân tay. Sức khỏe tinh thần
là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy
thành hoạt động thực tiễn. Hiến chương của Tổ chức y tế thế giới đã nêu: “ Sức
khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ
không chỉ là không có bệnh tật hay thương tật”. Sức khỏe vừa là mục đích, đồng
thời nó cũng là điều kiện của sự phát triển nên yêu cầu bảo vệ và nâng cao sức khỏe
con người là một đòi hỏi hết sức chính đáng mà xã hội phải đảm bảo. Tình trạng
sức khỏe được phản ánh bằng một hệ thống chỉ tiêu sau:
Thứ nhất, các chỉ tiêu tổng hợp:

số từ 10 tuổi trở lờn

Số người 10 tuổi trở lên biết chữ trong năm xác định
Tổng dân số 10 tuổi trở lên trong cùng năm

x 100

Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá trình độ văn hoá ở mức tối thiểu của

một quốc gia. Các thống kê giáo dục trong nước và Thế giới hiện nay đều sử dụng
chỉ tiêu này.
Thứ hai, số năm đi học trung bình của dân số từ 15 tuổi trở lên đo lường số
năm trung bình một người dành cho học tập. Đây là một trong những chỉ tiêu được
Liên hợp quốc sử dụng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của các quốc gia:
Phương pháp tính:
A=

∑a x

i i

i

Trong đó: A số năm đi học trung bình
ai các hệ số được chọn theo hệ thống giáo dục của mỗi vùng hoặc mỗi nước.


17
xi % trình độ văn hoá theo hệ thống giáo dục tương đương.
Thứ ba, tỷ lệ đi học chung các cấp tiểu học, trung học cơ sở (THCS), trung học

=

Số học sinh cấp tiểu học từ 6-10 tuổi
Dân số trong độ tuổi cấp tiểu học (6-10 tuổi)

x 100

trong cùng năm
Các tỷ lệ cấp THCS và THPT tính tương tự.

Các chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả của hệ thống giáo dục. Hệ thống giáo
dục hiệu quả cao có tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cao vì tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học thấp, và
ngược lại. Ví dụ, ở nước ta, trong khi tỷ lệ đi học chung ở bậc tiểu học năm 1996 là
114%, nhưng tỷ lệ đi học đúng độ tuổi (6-10 tuổi) chỉ có 89%. Vì trong số học sinh tiểu
học còn có (114% - 89% = 25%) học sinh không đúng tuổi; đó là những học sinh dưới



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status