BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯÒNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VẢ NHÂN VĂN
------------- -----------------------------
NGUYỄN DUY T!ẺN
QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VÂM DỂ RUỘNG ĐẤT
ở
*
THÁI NGUYÊN TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG e NĂM 1945
M
BÉN HẾT CẢI CÁCH H « J G OẤT
C H U Y Ề N N G À N H : ụ c » s ử VIỆT NAM
MẢ SỐ
: 50315
LUẬN ÁN TIẾN S ỉ LỊCH s ử
N gười hướng dẫn. kh o a học: PGS.TS NGUYỄN VĂN TH Ư
đai hoc
I' •
TR UN G TAM TIlüi;
HÀ NỘI - 2000
CTQG
: Chính trị Quốc gia
ĐCKC
: Địa chủ kháng chiến
ĐCT
: Địa chủ thường
GT
: Giảm tô
GT-CCRĐ
: Giảm tô và Cái cách ruộng đất
HN
: Hà Nội
KHXH
: Khoa học xã hội
m , s, th (" " " )
ƯBKCHC
: ư ỷ ban kháng chiến hành chính
vs Đ
: Văn - Sử -Địa
2
ưưng
MỤC LỤC
Trang
Mư đầu
4
Chương ỉ : TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT Ở THẢI NGUYÊN TRƯỚC CÁCH
14
MẠNG THẢNG TẤM NĂM 1945
1.1. Vài nét về tỉnh Thái Nguyên
14
90
Thí điểm và hoàn thành CCRĐ
Chương 3: MỘT s ố VẤN ĐỂ RÚT RA QUA NGHIÊN c ứ u QUẢ TRÌNH
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỂ RUỘNGĐẤT ở THÁI NGUYÊN
..
115
(Từ NAM 1945 ĐẾN NẮM 1957)
3.1. Những thành quả và sai lầm của việc giải quyết vấn đề ruộng
ỉ 15
đất ỏ Thái Nguyên (từ năm 1945 đến năm 1957)
3.2. Một vài suy nghĩ từ việc nghiên cứu quá trình giải quyết vấn
141
đề ruộng đất ỏ Thái Nguyên (tù năm 1945 đến năm 1957)
KẾT LUẬN
155
Chú thích
159
dề ruộng tlấl và những chính sách, hiện pháp này lại có tác dộng trở lại đến
dời sống kinh tế - chính trị của đâl nước.
Ớ Việt Nam, tuyệt đại đa số cư dân là nông dân sống chủ yếu bằng
nghề Irồng lúa nước, ruộng đất càng trỏ’ nên quan trọng và quý giá. Xuyên
suốt quá trình lịch sử lừ khi vương triều Lý được thành lập (đầu thế Xĩ) trở CĨI,
nhà nước phong kiến tự chủ luôn quan tâm đến vấn đề ruộng đất. Các vương
triều coi dây là một vấn clề có lính "quốc sự", ỉuồn đề ra các chính sách nhằm
nắm được ruộng đất, mội mặl vừa (lổ có dược nguồn thu về thuế từ nguồn lư
liệu sản xuất này, vừa làm nguồn hổng lộc, lương cho dội ngũ quan lại, binh
lính; mặt khác, giải quyết một phán những đòi hỏi của nông dân - lực lượng
sản xuất đông đảo và quan trọng nhâì của xã hội, tạo ra sự bình ổn cho
đất nước.
4
Sang thời kỳ Pháp thuộc, lừ cuối thế kỷ XIX trở đi, chính sách khai Ihác
bóc lột tàn bạo của đế quốc Pháp cùng với việc chiếm đoạt ruộng đất của giai
cấp địa chủ phong kiến đã làm cho sở hữu ruộng đất của nông dân ngày càng
bị íhu hẹp. Nông dân mất ruộng đất hoặc không có ruộng đất làm ăn đã trở
thành nguồn nhân công dồi dào nhưng rẻ mạt cho địa chủ và giới tư bản công
nghiệp Pháp, ngày càng bị bần cùng hoá. Khất vọng có ruộng đất để làm ăn đi
liền với độc lập dân tộc càng trở nên bức thiết đối với nồng dân.
Từ cuối những năm 20 của thế kỷ này ở Việt Nam đã hình thành những
lực lượng chính trị - xã hội, các cláng phái khác nhau, tạo ra cuộc chạy đua
tranh giành quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay sau khi thành lập vào đầu năm 1930,
trong Chính cương vắn tắt đã đề ra "Tư sàn dân quyền cách mạng vò ihổ cĩịa
cách m ạng” [71, 2] với hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến,
được chọn để xây dựng ATK của Trung ương. Gần suốt thời gian của cuộc
kháng chiến chổng thực dân Pháp, Thái Nguyên là tỉnh tự do, là một trong
những nơi trú chân của các cơ quan đầu não của Trung ương Đang và Chính
phù. Tháng 11 -1952, hai xã Đồng Bẩm và Dan Chủ Ihuộc huyện Đồng Hỷ
dược Trung ương chọn làm nơi nghiên cứu thí điểm chủ trương phóng tay phát
dộng quẩn chúng nông dân đấu tranh với giai cấp địa chủ. Từ kết quả của đợt
thí điểm giám tô này, Đảng la đã đúc rút được những kinh nghiệm để chí đạo
giảm tô và CCRĐ sau này. Tiếp đỏ, 6 xã của Thái Nguyên được Trung ương
chọn làm thí điểm cải cách ruộng đất dầu tiên Irong cả nước. Tháng 4-1954,
47 xã của tỉnh đã thực hiện Cái cách ruộng đất đợt I. Tháng 10-1954, 22 xã
Ihực hiện Cải cách ruộng đất đợi II.
Như vạy, Thúi Nguyên có một vị trí quan trọng tronẹ việc thực hiện các
chính sách thí điểm của Đàng và Nhà nước tơ về việc giải quyết vẩn đ ề ruộng
đất trong cách mạng dân tộc dân chít. Nghiên cứu quá trình giải quyếl vấn đẻ
ruộng đất ở Thái Nguyên giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám đến hếl
6
cuộc cái cách ruộng ctấl ở miền Bắc (lừ năm 1945 den năm 1957) góp phần
tìm hiểu mối quan hệ giữa giải quyếl vân dề dân tộc và dân chủ Irong cuộc
cách mạng này; hiểu thêm vị trí và vai trò của lỉnh Thái Nguyên trong cuộc
kliáng chiến trường kỳ của dân tộc cũng nhu' trong việc ihực hiện các chủ
trương, chính sách của Đáng và Nhà nước ta đối với vấn đề ruộng đất. Đồng
thòi nghiên cứu vấn đề này góp phần vào việc lìm hiểu làng xã nói riêng, lịch
sử chế độ ruộng ctấl nói chung và làm sáng tỏ nhiều vấn ciẽ dang đặt ra đối với
nồng dân, nông thôn, nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới.
Đễ lài CÒI1 nhằm góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử địa phương mà
lác giá luận án coi dây là lài liệu phục vụ công tác nghiên cứu, giang dạy lịch
sử tại trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên thuộc Đại học Thái Nguyên trước
Việt Nam thời cận đại của Viện sử học [202]...
Về "Quá trình giải quyết vân đ ề ruộng đất ở tỉnh T hái Nguyêìì ì ừ
san cách mạng tháng 8 đến hết cải cách ruộng đất" mới chí được trình bày
tóm lược trong cuốn sách "Cách mạng ruộng đất ở Việt N a m " do Trần
Phương chủ biên [129 ], Lịch sử Đ ảng bộ Bấc Thái [108], "Lịch sử Đàng
bộ huyện Dại Từ" [105], Lịch sử Oang bộ huyện ĐồiiíỊ H y [106], "Lịch sử
Đảng bộ huyện Phổ Yên" [107], một sô bài viếl có liên quan như "Cải
cách m ọ n g đâf- thành quá va sai lầ m ” của Viin Tạo trên tạp chí Nyhièiĩ
cứu Lịch sử số 2 -1993 [148]. Đáng lưu ý là các iHận văn Cao học: " Đảng
lãnh dạo íỉìực hiện chính sách rỉtộny (ỉấ/ ở Đại Từ, T há i Nguyêỉi (Ỉ9 4 5 1954)" của Nguyễn Trọỉig c ẩ n [57], "Đáìig lãnh đạo thực hiện chính sách
ruộng đất trong những tìíhn 1945-1953" của Vũ Thị Hái dược bao vệ lại
khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn năm 1998 [89].
Hai luận văn này dã phác hoạ dược những nét CƯ ban về việc thực hiện
8
đường lối ruộng d rít của Đáng trong thời kỳ kháng chiến chống Pluip ở mi én
Bắc, trong đó có địa bàn huyện Đại Từ, lính Thái Nguvcn.
Nhìn chung các cồng trình ngliicn cứu Itcn dây đã phác hoạ dược bức
tranh toàn cánh về vân dề ruộng đất ở nước la từ lliòi phong kiến lự chủ cho
đốn trước Cái cách ruộng ctấl. Quá trình giái quyếl vấn đề ruộng dấl ở địa bàn
lỉnh Thái Nguyêiì lừ sau Cách mạng Tháng Tám đến hôi Cải cách ruộng cỉâl
cho đến nay vẫn chưa có công trình nào được* tông hố. Tuy nhicn những công
trình nghiên cứu 11'LI'Ỏ’C đây dã giúp cho c h ún g lôi, phương hướng va phương
pháp tiếp cận để liếp lục di sâu nghiên cứu vấn dồ mà chúng lồi đặt ra.
3. MỤC ĐÍCH, GIỚI HẠN PHẠM VI NÍỈIIĨÊN c ứ u CỦA LUẬN ÁN
Mục đích
nhưng số liệu của các cơ quan, Ihậin chí của cùng một cơ quan Irong hai thời
điểm gần nhau cũng có sự khác biệt nhau. Vì vạy, Irong khi xử lý số liệu
thống kê và các báo cáo, một mặl cluíng tôi Vein tôn trọng nội dung văn hán
(đơn vị đo lường, các con số được ghi Irong các bảng biểu...); mặt khác, trong
nhiều trường hợp, chííng tồi thấy cỏ những sai SÓI nên cần phái thẩm định
bằng cách lính loán lại cho phù hợp hoặc đối chiếu với các báo cáo, các số
liệu của các ngành có liên quan Irong cùng thời điểm đó.
-
Nguồn lài liệu thứ hai là tài liệu điền dã. Để hiểu thêm thực tế các vâ
dề có liên quan đến ruộng đất Irong Ihời kỳ này cũng như đổ thẩm định lại
một số vấn đề mà các lài liệu lưu trữ không nói rõ, hoặc các tư liệu có những
mâu thuần, chúng lỏi đã đi khảo sál lại mội số làng xã đã ihực hiện Cái cách
mộng đất, gặp gỡ một số cụ già cao tuổi, nhân chúng lịch sử đổ vừa bổ sung
vừa thẩm định các tài liệu lưu trữ.
-
Luận án còn kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan đốn đề
luận án từ Irươc đến nay.
5. CO SỞ LÝ LUẬN VẢ PHƯƠNG VUÁV NC.HIÍÍN c ứ u
Cư sỏ !ý luận
Cơ sở Ịý luận của luận án là nhũng luận điểm cơ ban của cliiì nglíĩa
Mác-Lênin về việc giải quyết vân đổ ruộng đất, nông dân Irons cách mạng vô
san, là lư tưởng Hổ Chí Minlì và quan đicin của Đáng Cộng san Việt Nam vé
vấn đề ruộng đất và những quan điểm đổi mới của Đảng trong cách nhìn nhận,
đánh giá về việc giải quyết vấn đề ruộng đất Hong cách mạng dân lộc dân chủ.
Thái Nguyên đổi thành phủ Thái Nguyên, trực Ihuộc ty Bố Chính, lãnh 11
huyện. Năm thứ 6 (1408) thăng làm phủ, năm thứ 17 nhập huyện Tư Nồng
vào huyện An Định, huyện Động Hỷ vào huyện Phú Lương, huyện Đại Từ
vào huyện Tuyên Hoá.
Năm 1428, vương triều Lê được thành lập, Lê Thái Tổ chia đất nước
thành 5 đạo: Tây Đạo, Đông Đạo, Bắc Đạo, Nam Đạo và Hải Tây Đạo. Thái
Nguyên lluiộc Bắc Đạo. Dưới đạo là trấn, lộ rồi tiến phu, huyện, châu và cuối
cùng là xã. Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), Lê Thánh Tông đổi thành Thái
Nguyên lliừa tuyên. Năm 1467 nhà Lê tiến hành điều tra địa hình, địa giới
cùa các đạo, xây dựng bản đồ Hồng Đức và hoàn thành vào năm 1469, xác
định chặt chẽ hơn lãnh thổ và biên giới đất nước, đổi Thái Nguyên thành
Ninh Sóc thừa tuyên. Đến năm 1483 gọi làxứ Thái Nguyên
với 3 phủ, 7
huyện và 6 châu [69, 147].
Thái Nguyên theo sách Tên lủng x à Việt Nam đầu th ế ky XIX, gồm 2
phủ (Phú Bình và Thông Hoá), I I huyện, 2 châu, 79 tổng, 379 xã, ihôn,
phường, trang, mỏ, p h ố [201, 78-821
Năm 1831, Vua Minh Mệnh chia cá nước thành 29 lỉnh, dưới lỉnh Ịà
phủ, húyện, châu, tổng và xã. Thái Nguyên là một lĩnh gồm 2 phủ Phú Bình
và Thông Hoá. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), Châu Định, 3 huyện (Văn
Lãng, Đại Từ và Phú Lương) được lách ra lập thành phủ Tòng Hóa. Đến lúc
này Thái Nguyên gồm 3 phủ, 9 huyện và 2 châu, được chia như sau:
-
Phả Phú Bình gồm 5 huyện: Tư Nông (nay là huyện Phú Bình), Phổ
Yên, Động Hỷ (nay là Đồng Hỷ), Bình Xuyên (nay thuộc Vĩnh Phúc) và Vũ
Pháp, địa lý hành chính của lỉnh Thái Nguyên không có gì thay doi.
16
Hoà bình lập lại, Iháng 8 - 1956 tliành lập Khu lự trị Việl Bắc, Thái
Nguyên là môi trong sấu tính (Cao Bằng, Hắc Cạn, Lạng Sơn, Thai Nguyên,
Hà Giang, Tuycn Quang) và Im' thành thủ phủ của Khu lự Irị Việt Bắc. Trước
yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, ngày 21- 4 - 1965, Quốc hội nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà quyếl định hợp nhất Thái Nguyen với Bắc Cạn thành
tỉnh Bắc Thái. Đến 29 - 12 - 1978. Quốc hội khoá VI ra Quyếl nghị sáp nhập
2 huyện Ngân Sơn và Chợ Rã vào tỉnh Cao Bằng.
Ngày 11- 4- 1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyốl
định số 113 QĐ/HĐBT thành lập thị xã Sông Công (gồm 1 thị trấn và 3 xã
của huyện Phổ Yên và Đồng Hỷ cắt sang).
Nhằm đáp ứng yêu cầu phái triển kinh tế- xã hội Irong thời kỳ dổi mới
và để thuận tiện hơn về mặt quán lý các dơn vị hành chính, ngày 6 - 1 1 - 1996,
kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX ra Nghị quyết về phân định lại địa giới hành
chính một số tỉnh. Bắc Thái được lách thành 2 tỉnh: Bắc Cạn và Thái Nguyên
(lừ ngày 1 - 1 - 1997).
Tỉnh Thái Nguyên được tái lập gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh (thành
phố Thái Nguyen), 1 thị xã (thị xã Sông Công) và 7 huyện: Phú Lương, Đại
Từ, Định Hoá, Đổng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Võ Nhai với 177 phường, xã,
thi trấn
1.1.2. Điều kiện tụ nhiên
Địa hình Thái Nguyên chia làm 3 vùng:
- Vùng phía Tây và Tây Bác của tỉnh bao gồm các huyện: Đại Từ, Địnli
Hoá và các xã phía Tây của huyện Phú Lương ỉà vùng núi rừng hiểm trở, địa
hình chia cắt mạnh. Xen giữa các dải núi là các khu ruộng nhỏ dốc, hẹp.
chăn nuôi đại gia súc, lạo nguồn phân bón cho cây trồng [79, 39]. Đày là
điều kiện thuận lợi cho việc thành lập các đồn điền trồng các loại cây công
nghiệp.
Trong lòng đất Thái Nguyên cỏ nhiều khoáng sán quý như than, vàng,
quặng, thiếc, chì...; các m ỏ sắl, hạc, vàng, chì, k ẽ m từ lâu đ ã là n g u ồ n hấp
dẫn dối với nhiều nhà khai khoáng Irong và ngoài nước. Theo Đại Nam nhất
thống chí, chỉ lính riêng khoảng lỉiời gian trị vì của 4 triều vua: Gia Long,
18
Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tụ Đức, ca tỉnh cỏ 139 mỏ (lược khai thác (Hong dó
có 4 mỏ chì) thì mỏ chì ờ Quán Triều - Thái Nguyên là mỏ lớn. Đíìy là mội
Irong nhũng cổng trường khai mỏ có quy mô, tạp trung hàng trăm cổng nliAn.
Lực lượng lao động ở các liám mỏ thời đỏ gồm cả binh lính và dân plui, sản
xuất theo chế độ lao dịch, cưỡng bức với liến công rất Uiấp. Ngoài chì, Ihì Irữ
lượng của sắt, ihan, quặng nơi day cĩing kliá lớn và cần thiết cho việc phát
triển nền cổng nghiệp của đất nước.
v ẫ n theo Đại Nam ìiỉìủí thống ch í, thời Nguyễn, thuế IĨ1Ỏ vàng ớ Võ
Nhai (các mỏ Kim Hỉ, Thuần Nang, Báo Nang) là 53 lạ n g /1 năm; ihuế sắt ứ
các mỏ Phổ Yên, Đồng Hỷ, Phú Lương là 10.400 cân [69, 171].
Với những điều kiện trên dây, Thái Nguyên là tỉnh giàu tiềm năng để
phát triển nông nghiệp (trong dó llìế mạnh là Irổng cây công nghiệp trên
vùng đồi), lâm nghiệp và công nghiệp. Thái Nguyên nổi tiếng với đặc sản là
chc Tan CuữnịỊ, co 11 1 kinh le Ccio 1J0 1 1 ^ V1 CC XUHI kliíiu Vti ticu tliu trong
nước.
1.1.3. Điều kiện xã hội
Thái Nguyên từ lâu là địa bàn cư tụ của tihiêu (lân tộc. Theo Báo cáo
vùng cao: Định Hoá, Phú Lương, Đại Từ, Võ Nhai, sống bằng nông nghiệp
là chính. Họ có Irình độ phát triển kinh tế - xã hội khá cao.
Cùng tiếng nói với người Tày là dân tộc Nùng (52.220 người) bằng
5,12% dân số toàn lỉnh [59, 12]. Người Nùng có nhiều nhóm: Nùng Phàn
Sình, Nung Cháo, Nùng Inh. Phạm vi cư Irú của người Nùng gần như người
Tày, ở lất cả các huyện, thị trong lỉnh, song tập trung dông nhất là ở Đổng
Hỷ, Võ Nhai và Đại Từ.
Ngoài ra, Thái Nguyên còn cỏ 24.997 người Sán Dìu, sống bằng nghề
trổng lúa nước ở các vùng núi lỉiâp và dồng bằng; 21.825 người Dao sống
trên vùng núi cao và 41.572 người thuộc các thành phần dân tộc khác:
Hmông, Hoa... [59, 12], sống rải rác ở khắp các địa phương trong tỉnh. Mỗi
dân lộc đều có vốn văn hoá mang bán sắc riêng, rất phong phú, đa dạnu.
20
Xem xét tình hình dân cư, chín tộc ớ Thái Nguyên, chúng tôi thấy cỏ
những điểm dáng lưu ý có ảnh hương đến vấn để ruộng đal:
a- Tuyệt (lại chỉ s ố CH' dân SÔIII> ở Iiôiĩịị thôn. Các chín tộc Kinh, Tày,
Nùng Hoa sống Ihành cấc làng có tổ chức lương đối hoàn chính, chặt chẽ,
cỏ lộ lục ricng, có tín ngưỡng lliờ ihànli hoàng thổ địa với dinh chùa, den
miếu. Các dân lộc Sấn Dìu, Cao Lan sống thành xóm, tuy không có tổ cluíc
chặt chõ như người Kinh, song cũng có người quản lý, có lệ tục, Ihờ cúng.
Tinh hình trên dây ảnh hướng lới cơ cấu ruộng đất mà nét nổi bậl là ở mỏi
làng (hay xóm) của các dân lộc, cho đến sát Cái cách ruộng đất còn tồn tại
một bộ phận ruộng đất công với mức đậm nhạt khác nhau, phục vụ cho các
hoạt đ ộ ng hành chính và các nghi lẻ thờ cú n g của cộng dồng.
b- Kết cấu các tộc 11 qười cita tĩnh tương dổi da (lạnạ bởi vùng đất này
vốn là trung tâm giao lưu giữa miền núi Đồng Bắc với đồng bằng và trung du
598
2001
1935
1410
5502
1936
1695
6473
1937
2386
6887
1938 (đến 30/6)
7
3165
Cộng
1.2.1.
Quá trình chiếm đoạt ruộng đát của thục dân Pháp và sụ
hình thành các đồn điền
Khi xâm lược và bình định xứ Thái Nguyên, bọn cai trị thực dân dã
nhận thấy vùng đất này giữ một vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế, phục vụ cho công cuộc khai thác, bóc lột Ihuộc địa của chúng.
"Từ các thời kỳ lịch sử cổ Mía, tỉnh Thái Nguyên d ã đóĩHỊ vai trồ mà vị
trí (ìịci ỉỷ đã quyết (lịnh cho nó, là vai trò tỉnh đệm íỊÌữa cúc lỉnh miên chân
thổ và ìiìiéìì f/ii{'ọ'ni> (ỉu. Qua cóc hiờiỉ cô ỉịcỉì sử, Thái Nquyên đ ã từ/iíỉ là một
vị trí Ìuiiì lê, và tính chất bủn lê dó (íã được sử dụng ỉilỉién phần.
Cho lói ngày nay ììó vần lủ
diêm quá cỉọ, trên lất cả nhỉĩnĩỊ lĩnh vực
ugiĩiâìĩ cứu của chúng tôi. Lịch sử, khí hậu, dân tộc, trao dổi hùiiạ lioá, lui/
lliôiìỊỈ-íiriì lệ IM’... (ĩâỉi cùiìịỊ thấy rằiìỊỊ ÍỈIỈÌÌ này không thoát kìidi những ràn»
buộc mà các định Ỉỉìậl thiên nhiên (lã quy định.
f)(ÌY ìà một tỉnh nông lìghiệp, (lây cũ nạ lủ lỉnh íỊÌần klĩoám* sản, (lây lại
là mội linh lâm nghiệp...
K l ỉ i c u ộ c k h ủ n g h o ả n g k i n h ÍC c lìiu n > h i ệ n n a y q u a í ĩ i , í l ì ỉ CÚI í I lì lì (ĩ ẹ p ( lc
lìủy, nơi có nhiêu chồ có phoiiị* nỉnlì giong nhu' vủiiiị N()óc-mcíiií>-í1i của
chúng I(ỉ ìĩỉìấí dinh s è thịnh vượnạ lên mội cách kh ô n í> lườm* Iníớc dược. Vì
lìó cỏ vò vàn phươìiỊị íiệìì thuận ìợị d ể trao vào tay những con ÌÌỊỊKÚÌ dũng
c c ìm k h ô n g ỉ ì g â n ỉ ĩ g ự i t r ư ớ c k h ó k ỉ ì ă ì ì g i a n k h ổ " [ 84 ,
59 - 60 ].
2
De ray lu s (nữ)
9-1897
13679
Phú Bình
3
4
Decoumailes
6 1898
3650
Reynaud
7-1898
14605
Phổ Yên
5
Com m ai I1S
doanh nghiệp Pháp được khẩn hoang những đất bỏ trống để lập dồn điền và
dược sự giúp đỡ của viên cồng sứ đáu lỉnh, bọn thực dân đã dùng vũ lực ctể
đuổi hàng trăm gia đình nông dân đi nơi khác để chiếm đất, chiếm ruộng.
Dưới đanh nghĩa "công ty dân dụng đồn điền" do Guillaume làm chủ có trụ
sở ở Chã và Thác Nhái, cũng như công ty "Reynaud cha và con" có trụ sở ở
Sơn Cốt (Phổ Yên) đã dùng nhân viên của sớ địa chính có lính đi kèm để đo
(lất qui hoạch cho đồn điền, ai có ruộng đồi Irong phạm vi quy hoạch đó sẽ
inAÌ quyền làm chủ; nếu ai có thái độ chống lại lập lức bị kết lội chống dối
nhà nước báo hộ và bị trừng phạt nghiêm khắc [107, 13-14]
Ngoài những tên chủ đồn điền thực dân, bọn quan lại, cường hào, cai
dội, binh lính, các viên chức, nhà Iniôn, cha cố cũng dựa vào thế ỉực cùa clố
quốc để chiếm đoạt ruộng đất của nồng dân. Họ mộ dan miền xuôi lên làm
24
hoặc bắt dân địa phương khai phá, hoặc bao chiếm, hoặc mở sòng bạc, buôn
thuốc phiện, cho vay nặng lãi dể lừa gạl nông dân đến việc phái bán ruộng
cho chúng.
Cho đến năm 1918, theo Tạ Thị Tliuý, số đồn điền của người Pháp được
lập ứ Thái Nguyên lừ 1884 đến 1918 là 24 g ồ m '3 đồn điền có diện tích dưới
50 lia, 21 đồn điền từ 50 ha trở lốn, với các ông chủ: "Dreyíus và công ly",
"Cổng ty Văn Gia" (1*), "Reynaikl, Đlanc và công ty", anh em Guillaume,
Mclman, Hermel, Commaille, Darribe, Girard...24 đồn điền Thái Nguyên
chiếm 5% tổng số đồn điền của Bắc Kỳ) với diện tích 80.757,5625 ha (chiếm
19,35% tổng điện tích đồn điền). Trong số các đồn điền đó có 3 đồn điền
trên 5000 ha và 4 đồn điền hơn 10.000 ha [189, I í 0-1 I 1].
Cùng với các địa chủ người Pháp, còn có cá nhũng địa chủ người Việt.
Nhiều người trong sô họ lợi dụng, câu kêì làm lay sai cho Pháp cũng cướp
đoạt ruộng đất của nông dân để thành lập các đồn điền lớn. Đến năm 1945,
2
Béc na Hiếu
Đổng Hỷ
700
120
3
Nguyễn Kim Lân
Pliií Bình
5845
478
8-1920
4
Phạm Bá Nlui
Đai Từ
1 15
Tổng sô
7993
25
Năm
thành lập
4-1926
7