LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện Chỉ thị 32/1998/CT- TTg của Thủ tướng Chính phủ về công tác
quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH đến năm 2010; Tiền Giang đã tiến hành
xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 1996-2010 và đã
được phê duyệt năm 1999 cùng các quy hoạch phát triển của các ngành, các địa
phương làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm
2001-2005, 10 chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm cùng các dự
án ưu tiên, đã góp phần phục vụ tích cực cho các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo
của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh trong quản lý, điều hành nền kinh tế- xã hội.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây có nhiều yếu tố mới (kể cả yếu tố
trong và ngoài nước) tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Tiền Giang, đặc biệt trong năm 2005
Tiền Giang đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý đưa vào Vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam và thành phố Mỹ Tho được công nhận là đô thị loại II... nhiều cơ
hội phát triển mới sẽ mở ra cho tỉnh. Để đánh giá được các yếu tố mới tác động
đến Tiền Giang, gắn quy hoạch phát triển của tỉnh với quy hoạch phát triển của
Vùng đồng bằng sông Cửu Long và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và làm
cơ sở xây dựng kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, Uỷ ban nhân dân tỉnh Tiền Giang
giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh phối hợp với Viện Chiến lược phát triển
tiến hành nghiên cứu cập nhật, điều chỉnh, bổ sung và xây dựng quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang đến năm 2020.
Trên cơ sở kế thừa tài liệu nghiên cứu quy hoạch phát triển kinh tế - xã
hội tỉnh năm 1999 và kết quả thực hiện các nhiệm vụ mục tiêu phát triển giai
đoạn 2001-2005, đồng thời bám sát các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cả
nước, của Vùng đồng bằng sông Cửu Long và Vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam; triệt để khai thác nội lực và tạo môi trường thuận lợi tối đa để thu hút đầu
tư từ bên ngoài, phấn đấu xây dựng Tiền Giang trở thành tỉnh phát triển trọng
điểm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng công nghiệp hoá và hiện
đại hoá, phù hợp với xu thế phát triển chung của cả nước và hội nhập kinh tế
quốc tế.
1. Những căn cứ để lập quy hoạch
duyệt Danh mục dự án phát triển thương mại vùng đồng bằng sông Cửu Long;
- Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 14/7/2006 về phát triển hoạt động văn
hoá thông tin vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010;
- Nghị quyết số 41-NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về Bảo vệ
môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
- Quyết định số 256-QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ
V/v Phê duyệt “Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020 ”;
- Quyết định số 153-QĐ-TTg ngày 17/08/2004 của Thủ tướng Chính phủ
V/v Ban hành “Định hướng Chiến lược PTBV ở Việt Nam” (Chương trình Nghị
sự 21 của Việt Nam);
- Quyết định số 34-QĐ-TTg ngày 22/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ
V/v Ban hành Các chương trình hành động của Chính phủ nhằm tổ chức thực
hiện triển khai Nghị quyết số 41-NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị;
- Quyết định số 589/QĐ-TTg ngày 20/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng thành phố Hồ Chí Minh
đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2050;
- Quyết định số 17/2007/QĐ-BCT ngày 31/12/2007 của Bộ trưởng Bộ
Công Thương về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển một số kết cấu hạ tầng
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2020
thương mại chủ yếu Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định
hướng đến 2020;
- Quyết định số 146/2004/QĐ-TTg ngày 13/08/2004 của Thủ tướng Chính
phủ về Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng KTTĐPN đến năm 2010
và tầm nhìn đến năm 2020.
- Quyết định số 123/2006/QĐ-TTg ngày 29/05/2006 của Thủ tướng Chính
phủ V/v Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện
2020 được nghiên cứu toàn diện (cả về tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường và
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2020
an ninh quốc phòng); tập trung giải quyết những vấn đề then chốt, có trọng điểm
làm cơ sở cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa phù hợp với xu thế chung của vùng và cả nước.
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tiền Giang đến
năm 2020, tính tới các điều kiện phối hợp với các địa phương trong vùng
ĐBSCL và vùng Kinh tế trọng điểm Phía Nam, vùng thành phố Hồ Chí Minh và
hội nhập kinh tế quốc tế. Cụ thể là, trên cơ sở phân tích bối cảnh quốc tế và
trong nước, phân tích đánh giá hiện trạng kinh tế xã hội tỉnh từ năm 1995 đến
năm 2005; từ đó xác định các quan điểm, mục tiêu, các phương án phát triển và
tổ chức lại không gian kinh tế xã hội của Tiền Giang đến năm 2020 theo các
bước đi thích hợp.
Báo cáo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang đến
năm 2020” bao gồm 4 phần chính:
(1) Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh Tiền Giang đến năm 2005
(2) Dự báo tác động của bối cảnh quốc tế, trong nước và các yếu tố phát triển
khác đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Tiền Giang
(3) Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang đến năm 2020.
(4) Các giải pháp và đề xuất các cơ chế, chính sách phát triển chủ yếu.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2020
PHẦN THỨ NHẤT
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG
sông Tiền và Kampuchea.
Nhìn chung, với các điều kiện về vị trí địa lý, kinh tế và giao thông thủy
bộ, Tiền Giang có nhiều lợi thế trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phát
triển sản xuất hàng hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường khả
năng hợp tác, giao lưu kinh tế, văn hóa, du lịch với các tỉnh trong vùng... đặc
biệt là thành phố Hồ Chí Minh và địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2020
2. Đặc điểm khí hậu. Tỉnh Tiền Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới
gió mùa chung của Đồng bằng sông Cửu Long với đặc điểm: nền nhiệt cao và ổn
định quanh năm, khí hậu phân hóa thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 11 trùng với mùa gió Tây Nam, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 trùng với
mùa gió Đông Bắc.
Nhiệt độ trung bình trong năm là 28 oC, chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng
không lớn, khoảng 4oC. Tổng tích ôn năm cao (khoảng 9.700 - 9.800oC)
Độ ẩm không khí bình quân năm là 78,4% và thay đổi theo mùa. Mùa
mưa ẩm độ không khí cao, đạt cực đại vào tháng 8 (82,5%), mùa khô ẩm độ thấp
và đạt trị số thấp nhất vào tháng 4 (74,1%)
Tiền Giang chịu ảnh hưởng hai mùa gió chính:
- Gió mùa Tây Nam mang theo nhiều hơi nước, thổi vào mùa mưa. Hướng
gió thịnh hành là hướng Tây Nam chiếm tần suất 60 - 70%, tốc độ trung bình là
2,4m/s.
- Gió mùa Đông Bắc mang không khí khô hơn, thổi vào mùa khô. Hướng
gió thịnh hành là hướng Đông Bắc chiếm tần suất 50 - 60%, kế đến là hướng
Đông chiếm tần suất 20 - 30%, tốc độ gió trung bình là 3,8m/s. Từ tháng 11 đến
tháng 4, gió mùa Đông Bắc thịnh hành, thổi cùng hướng với các cửa sông, làm
gia tăng tác động thủy triều và xâm nhập mặn theo sông rạch vào đồng ruộng,
đồng thời làm hư hại đê biển, được gọi là gió chướng.
nước biển, phổ biến từ 0,8 m đến 1,1m.
Toàn bộ diện tích tỉnh nằm trong vùng hạ lưu châu thổ sông Cửu Long, bề
mặt địa hình hiện tại và đất đai được tạo nên bởi sự lắng đọng phù sa sông Cửu
Long trong quá trình phát triển châu thổ hiện đại trong giai đoạn biển thoái từ đại
Holoxen trung, khoảng 5.000-4.500 năm trở lại đây, còn được gọi là phù sa mới.
Nhìn chung, do đặc điểm bề mặt là nền đất là phù sa mới, giàu bùn sét và
hữu cơ (trừ các giồng cát) nên về mặt địa hình cao trình tương đối thấp, về địa
chất công trình khả năng chịu lực không cao, cần phải san nền và gia cố nhiều
cho các công trình xây dựng. Các tầng đất sâu tương đối giàu cát và có đặc tính
địa chất công trình khá hơn, tuy nhiên phân bố các tầng rất phức tạp và có hiện
tượng xen kẹp với các tầng đất có đặc tính địa chất công trình kém, cần khảo sát
kỹ khi xây dựng các công trình có qui mô lớn, tải trọng cao....
4. Tài nguyên nƣớc và đặc điểm thủy văn.
a)- Tài nguyên nước mặt. Tiền Giang có hai sông lớn chảy qua là sông
Tiền, sông Vàm Cỏ Tây và hệ thống kênh ngang, dọc tương đối phong phú, rất
thuận lợi cho việc đi lại bằng phương tiện đường thủy và sử dụng nguồn nước
mặt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
- Sông Tiền chảy qua lãnh thổ tỉnh Tiền Giang dài khoảng 120 km, cao
trình đáy sông từ -6 đến -16m, bình quân -9m; sông có chiều rộng 600-1.800 m,
là nguồn chủ yếu cung cấp nước ngọt cho toàn tỉnh.
- Sông Vàm Cỏ là sông chảy qua lãnh thổ tỉnh Tiền Giang dài khoảng 25
km, rộng 185m, lưu lượng dòng chảy chủ yếu từ sông Tiền chuyển qua và một
phần nước tiêu lũ từ Đồng Tháp Mười thoát ra, là tuyến xâm nhập mặn chính
trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
Các kênh chính trong tỉnh là :
- Kênh chợ Gạo, nằm trong tuyến kênh chính cấp Trung ương nối Thành
phố Hồ Chí Minh - Rạch Giá - Hà Tiên.
- Kênh Nguyễn Văn Tiếp, đi từ sông Vàm Cỏ Tây (thị xã Tân An) qua
tỉnh Tiền Giang sang Đồng Tháp. Đây là tuyến kênh quan trọng xuyên Đồng
Tháp Mười.
Khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp vào chế độ bán nhật triều biển Đông.
Mặn xâm nhập chính theo 2 sông cửa Tiểu và sông Vàm Cỏ, đi từ Xuân Hòa đến
Vàm Tháp, thời gian mặn tăng dần từ 2-6 tháng. Trên sông Vàm Cỏ mặn thường
lên sớm và kết thúc muộn, trong năm chỉ có 4-5 tháng nước ngọt, độ mặn cao
hơn sông Tiền từ 2-7 lần.
Nhìn chung, Tiền Giang có trữ lượng nước mặt rất dồi dào, nhưng trên
thực tế nguồn nước đủ tiêu chuẩn được sử dụng cho sinh hoạt và trồng trọt chỉ
duy nhất được cung cấp từ sông Tiền. Lượng nước ngọt ngày càng hạn chế khi đi
ra gần biển nhưng nhờ vào chương trình ngọt hóa Gò Công, đặt căn bản trên
việc bao đê ngăn mặn và tiếp ngọt từ thượng lưu sông Cửa Tiểu cũng đã và đang
tạo tiền đề cho quá trình thâm canh tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng vật nuôi tại
khu vực này. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 5 nhà máy nước với tổng công suất
bơm 1.410m3/giờ và 10 trạm nước mặt với tổng công suất bơm 66m3/giờ. Về lâu
dài khi sản suất phát triển cao hơn cũng như quá trình công nghiệp hóa tăng lên,
cần phải có kế hoạch đầu tư phát triển, cân đối lượng nước ngọt phục vụ cho sản
suất và sinh hoạt, du lịch... đặc biệt là nước sạch.
b)- Tài nguyên nước dưới đất.
Tiền Giang có nguồn nước ngầm ngọt có chất lượng khá tốt ở khu vực
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2020
phía Tây và một phần khu vực phía Đông của Tỉnh, nhưng phải khai thác ở độ
sâu khá lớn (từ 200-500m). Đây là một trong những nguồn nước sạch quan trọng,
góp phần bổ sung nguồn nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân, đặc
biệt đối với những vùng bị nhiễm mặn, phèn...
Theo số liệu điều tra đến cuối tháng 12 năm 2004, toàn tỉnh đã đưa vào
khai thác 1.069 giếng khoan tầng sâu với đường kính khai thác 49 - 60mm có
công suất 5-8 m3/giờ và 41 giếng khoan khai thác công nghiệp với đường kính
khai thác 110mm có công suất mỗi giếng 50-100 m3/giờ. Các giếng khai thác chủ
- Cát trên sông Tiền có thể khai thác để làm đường nông thôn và làm nền
cho các cồng trình xây dựng. Trữ lượng dự báo 93 triệu m3, khối lượng cho phép
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2020
khai thác hàng năm 3 - 3,5 triệu m3 (theo Qui hoạch khảo sát, thăm dò, khai thác và
sử dụng tài nguyên cát lòng sông tỉnh Tiền Giang đã được UBND tỉnh thông qua).
Nhìn chung, khoáng sản ở Tiền Giang nghèo về chủng loại, ít về trữ
lượng, các dự án khai thác các nguồn tài nguyên này cần nghiên cứu, tính toán
kỹ về hiệu quả và vấn đề bảo vệ môi trường phát triển bền vững, đặc biệt nguồn
nước ngầm cần được quan tâm khai thác hợp lý và quan trắc động thái để tránh
xâm nhập mặn các tầng chứa nước.
6. Tài nguyên sinh vật.
Về thảm thực vật, ngoài các loại cây kinh tế do con người canh tác, Tiền
Giang còn có 3 thảm thực vật mang tính chất hoang dại là:
- Rừng ngập mặn ven biển: gặp ở ven biển và gần cửa sông trên đất bùn
mặn của bãi lầy ngập theo triều gồm: bần, mắm, đước, rau muống biển, cỏ lức...
- Thảm thực vật rừng nước lợ: gặp ở vùng nước lợ ven sông Vàm Cỏ Tây,
sông Tiền thường xuyên ngập theo triều gồm: dừa nước, bần chua, ô rô, cóc kèn,
mái dầm..
- Thảm thực vật vùng đất phèn hoang: gặp ở vùng Đồng Tháp Mười trên
vùng đất phèn ngập lũ gồm: cỏ năng, cỏ mồm, bàng, tràm tái sinh...
Về động vật, ngoài các loài động vật nuôi, tài nguyên động vật có giá trị
kinh tế chủ yếu là thủy sản. Tiền Giang có tài nguyên thủy sản phong phú và đa
dạng gồm thủy sản nước ngọt, thủy sản nước lợ và hải sản.
Các điều tra cho biết trên địa bàn tỉnh có 157 loài tảo, 66 loài động vật đáy
thuộc khu vực nội địa và 227 loài tảo, 152 loài động vật đáy vùng biển; có
khoảng 198 loài cá với sản lượng bình quân 50-115 kg/km2 vùng biển và 87-274
kg/km2 vùng nội địa; 32 loài tôm với sản lượng bình quân 24-56 kg/km2 vùng
cảng cá Vàm Láng cùng với các cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu thuyền sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của nghề khai thác thủy sản.
Với tiềm năng phong phú về nuôi trồng, khai thác thủy sản sẽ đáp ứng cho
chế biến tiêu thụ nội địa, đặc biệt là chế biến xuất khẩu thủy sản.
Khả năng nguồn nguyên liệu cho chế biến từ nuôi trồng, khai thác thủy
sản của Tiền Giang là khá lớn và đa dạng, trong đó nguyên liệu chính và chủ lực
vẫn là tôm, cá, mực, nghêu cho chế biến đông lạnh xuất khẩu và chế biến phục
vụ cho tiêu dùng trong nước. Các loại cá tạp nhỏ từ khai thác là nguồn nguyên
liệu chủ lực chế biến nước mắm, chế biến bột cá đáp ứng nhu cầu dùng sản xuất
thức ăn thủy sản .
8. Tài nguyên đất đai và hiện trạng sử dụng đất.
a)- Tài nguyên đất: theo các chương trình điều tra thổ nhưỡng, Tiền Giang
có các nhóm đất chính như sau:
- Nhóm đất phù sa: Chiếm 54,9% diện tích tự nhiên, chiếm phần lớn diện
tích các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, thành phố Mỹ Tho và
một phần huyện Gò Công Tây thuộc khu vực có nguồn nước ngọt. Đây là nhóm
đất thuận lợi nhất cho nông nghiệp, đã được sử dụng toàn bộ diện tích. Trong
nhóm đất này có loại đất phù sa bồi ven sông có thành phần cơ giới tương đối
nhẹ hơn cả nên thích hợp cho trồng cây ăn trái.
- Nhóm đất mặn: Chiếm 14,6% diện tích tự nhiên, chiếm phần lớn diện
tích huyện Gò Công Đông, Thị xã Gò Công, Gò Công Tây, Tân Phú Đông và
một phần huyện Chợ Gạo. Về bản chất, đất đai thuận lợi như nhóm đất phù sa,
nhưng bị nhiễm mặn từng thời kỳ hoặc thường xuyên.
Việc trồng trọt thường chỉ giới hạn trong mùa mưa có đủ nước ngọt, ngoại
trừ các loại cây chịu lợ như dừa, sơ ri, cói...Một ít diện tích được tiếp ngọt về
hoặc có trữ nước mưa trong ao thì có thể tiếp tục trồng trọt vào mùa khô. Loại
đất này khi có điều kiện rửa mặn sẽ trở nên rất thích hợp cho sản xuất nông
nghiệp với chủng loại cây trồng tương đối đa dạng.
Chương trình ngọt hóa Gò Công bằng biện pháp ngăn mặn và đưa nguồn
nước ngọt dồi dào về đã mở ra một diện tích lớn đất tăng vụ mùa khô hoặc đầu
b)- Hiện trạng sử dụng đất:
Trong giai đoạn 1995-2005, diện tích đất tự nhiên của tỉnh có biến động
tăng từ 232.609 ha (năm 1995) lên 236.663 ha (giai đoạn năm 2000 - 2004) và
248.177 ha (năm 2005), trong 10 năm tăng 15.568 ha, chủ yếu do quá trình hiệu
chỉnh, cập nhật số liệu đo đạc bản đồ địa chính và một phần diện tích đất cù lao,
bãi bồi mới tăng thêm.
+ Đất nông nghiệp: toàn tỉnh hiện có 182.720 ha đất nông nghiệp, chiếm
75,0% tổng diện tích tự nhiên.
Qua các giai đoạn phát triển diện tích đất nông nghiệp có thay đổi, giai
đoạn 1996-2000 tăng thêm 6.198 ha - tốc độ tăng bình quân 0,7%/năm, giai đoạn
2001-2005 tăng thêm 1.215 ha - tốc độ tăng bình quân 0,13%/năm và trong 10
năm 1995-2005 diện tích đất nông nghiệp tăng 7.413 ha - tốc độ tăng bình quân
0,42%/năm, do công tác khai hoang phục hoá và một số diện tích đất chưa sử
dụng được đưa vào khai thác sử dụng.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2020
Biểu 01: Diễn biến tình hình sử dụng đất giai đoạn 1996-2005.
Chỉ tiêu
Đơn
vị
Hiện trạng
Tốc độ tăng(%)
1995
I.Đất nông nghiệp
Ha
175.307
181.505
177.425
182.720
0,70%
0,13%
0,42%
%
75,4
76,7
75,0
75,0
Ha
18.402
17.652
3,91%
2,13%
3,01%
%
5,6
6,7
7,8
7,8
Ha
4.597
7.646
7.911
8.274
3,41%
-2,13%
0,60%
% so tổng diện tích tự nhiên
%
0,3
0,3
0,3
0,3
2. Đất ở nông thôn
Ha
4.018
6.960
7.204
7.658
3,02%
-3,03%
%
15,9
9,9
8,0
8,0
Ha
23.511
18.958
18.958
19.637
% so tổng diện tích tự nhiên
II.Đất lâm nghiệp
% so tổng diện tích tự nhiên
III.Đất chuyên dùng
% so tổng diện tích tự nhiên
nâng chỉ số diện tích đất chuyên dùng bình quân đầu người từ 83m2/người
(1995) lên 105m2/người (2005). Trong đó, chiếm tỷ lệ cao là đất giao thông
29m2/người, đất thủy lợi và mặt nước chuyên dùng 57 m2/người.
+ Đất ở: Diện tích đất ở là 8.274 ha, chiếm 3,3% tổng diện tích tự nhiên.
Trong 10 năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu diện tích đất ở
không ngừng tăng lên từ 4.597 ha (1995) lên 7.646 ha (2000) và 8.274 ha
(2005), tăng thêm 3.677 ha, tốc độ tăng bình quân 6%/năm. Bên cạnh đó diện
tích đất ở bình quân đầu người cũng được cải thiện và nâng lên từ 29m 2/người
(1995) lên 49m2 /người (2005). Trong đó, đất ở đô thị là 616 ha - chiếm khoảng
7% tổng diện tích đất ở, bình quân 22 m2/ người (còn thấp so với tiêu chuẩn đất
ở đô thị- khoảng 30 m2/người); đất ở nông thôn là 7.204 ha chiếm 93% tổng diện
tích đất ở, bình quân 53m2/người (đạt tiêu chuẩn về đất ở nông thôn hiện nay).
Một số nhận xét về tình hình sử dụng đất trong 10 năm qua:
- Trong biến chuyển sử dụng đất giai đoạn 1995-2005, đất vườn cây lâu
năm có xu hướng tăng mạnh do hiệu quả cây ăn trái cao hơn các loại cây trồng
khác, kế đến là đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, đất chuyên dùng và đất ở;
đất ruộng lúa, màu...có xu hướng ngày càng giảm, bình quân - 0,85%/năm.
- Tuy diện tích đất nông nghiệp có tăng lên do quá trình khai hoang mở
rộng diện tích, nhưng do biến động giảm từ đất nông nghiệp sang các loại đất
khác, nên tốc độ tăng không đáng kể - bình quân 0,42%/ năm, dẫn đến diện tích
đất nông nghiệp bình quân đầu người giảm 0,2%/năm, từ 1.106 m2 (năm 1995)
xuống 1.076 m2 (năm 2005), đồng thời đất nông nghiệp/lao động nông nghiệp
cũng giảm từ 3.336 m2 (1995) xuống 2.925 m2 (2005).
Nhìn chung xu hướng đất nông nghiệp sẽ giảm dần những năm sau này do
nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, khu cụm công nghiệp và
nhà ở ngày càng tăng, trong khi tiềm năng đất có khả năng nông-lâm nghiệp không
còn nhiều (
Tỷ lệ tăng tự nhiên
1.580.707 1.618.412 1.698.851
1,88%
1,48%
1,21%
0,47
0,97
0,72
Dân số thành thị
Dân số nông thôn
* Tỷ lệ cơ cấu
- Dân số thành thị
- Dân số nông thôn
Dân số nông nghiệp
Dân số phi n.nghiệp
* Tỷ lệ cơ cấu
- Nông nghiệp
- Phi nông nghiệp
203.075
216.791
255.111
1.377.632 1.401.621 1.443.740
1,32
74,7%
25,3%
67,0%
33,0%
- Về cơ cấu dân số đô thị - nông thôn, trong giai đoạn 1996-2005, dân số
đô thị tăng bình quân 2,31%/năm, nông thôn tăng 0,47%/năm, tạo nên sự chuyển
dịch cơ cấu dân số thành thị - nông thôn từ 12,8%- 87,2% (1995) lên 15,0% 85,0% (2005), tuy nhiên tỷ lệ này thay đổi không nhiều, cho thấy tốc độ đô thị
hoá còn chậm.
- Về cơ cấu dân số nông nghiệp - phi nông nghiệp năm 1995 là 81,2% 18,8%, năm 2000 là 74,7% - 25,3%, đến năm 2005 là 67%-33%, tuy có sự
chuyển biến khá lớn, nhưng tỷ lệ tỷ lệ dân số nông nghiệp vẫn còn cao, cho thấy
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá còn chậm nhất
là ở trong nông thôn, kinh tế nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền
kinh tế chung của tỉnh.
- Về tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và biến động cơ học:
Trong giai đoạn (1996-2000) tỷ lệ sinh giảm 5,57%o, bình quân mỗi năm
giảm 1,11%o; trong giai đoạn (2001-2005) tỷ lệ sinh sinh giảm 2,63%o, bình
quân mỗi năm giảm 0,53%o (vượt mục tiêu giảm bình quân 0,4%o) và tính
trong 10 năm (1995-2005) mức sinh giảm 8,2%o, bình quân mỗi năm giảm
0,82%o, tỷ lệ chết biến động không lớn, bình quân 0,5%/năm.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm đáng kể từ 1,88% (1995) xuống 1,20%
năm 2005 (mục tiêu là 1,25%).
Tỉ lệ di dân cơ học có khuynh hướng ngày càng giảm, trong giai đoạn
1996-2000 số dân xuất cư đến các tỉnh, thành phố khác tìm việc làm khá nhiều,
trên 90.000 người so với giai đoạn 2001-2005 - chỉ có khoảng 24.000 người, nên
dân số của tỉnh trong giai đoạn này gia tăng cao hơn giai đoạn trước gấp 2,1 lần.
1996-2005 số dân gia tăng trên 118 nghìn người bằng dân số của 2 đơn vị thị xã
Gò Công và huyện Tân Phước. Về cơ cấu dân số trong giai đoạn (1996-2005) cho
thấy tỉ lệ dân số phụ thuộc giảm dần, dân số trong độ tuổi lao động tăng lên
thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Tuy nhiên, sự gia
tăng dân số chung và gia tăng dân số trong độ tuổi lao động tiếp tục là sự thách
thức lớn cho xã hội trong vấn đề đầu tư phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm,
đào tạo phát triển nguồn nhân lực, cải thiện và nâng cao đời sống dân cư về mọi
mặt nhằm ổn định và phát triển kinh tế-xã hội theo hướng phát triển bền vững.
b. Lao động:
- Về qui mô và biến chuyển lao động: Lao động trong độ tuổi của tỉnh
tăng từ 898.263 người năm 1995 (56,8% dân số) lên 995.318 người năm 2000
(61,5% dân số); năm 2005 là 1.112.746 người (65,5% dân số); trong 10 năm
(1996- 2005) lao động trong độ tuổi tăng thêm 214.483 người, bình quân hằng
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2020
năm tăng thêm 21.448 lao động mới. Dự báo năm 2010 là 1.209 ngàn người và
năm 2020 là 1.312 ngàn người. Thời kỳ 2006 - 2010 bình quân mỗi năm tăng
hơn 19,3 ngàn lao động trong độ tuổi và thời kỳ 2011 - 2020 bình quân mỗi năm
tăng hơn 10 ngàn lao động.
Lao động làm việc trong nền kinh tế quốc dân tăng từ 730.731 người năm
1995 lên 825.759 người năm 2000, và năm 2005 là 921.905 người. Dự báo đến
năm 2010 lao động làm việc trong nền kinh tế quốc dân khoảng 1.003 ngàn
người và năm 2020 là 1.106 ngàn người.
Biểu 03: Qui mô và biến chuyển lao động 1996-2005
Tốc độ tăng bình
quân (%)
1996- 2001- 19962005
2000 2005 2005
569.015
84.016
165.059
- Về cơ cấu sử dụng lao động: lao động khu vực nông nghiệp tăng bình
quân 1,75%/năm, nhưng tỷ trọng giảm từ 72,0% (1995) xuống 69,6% (năm
2000) và 68,5% năm 2005; lao động khu vực công nghiệp - xây dựng tăng bình
quân 4,61%/năm, có tỷ trọng tăng từ 8,55% (1995) lên 10,3% (năm 2000) và
10,74% năm 2005; lao động khu vực dịch vụ tăng bình quân 2,9%/năm, tỷ trọng
tăng từ 19,5% (1995) lên 20,39% (năm 2000) và 20,7% năm 2005. Tỷ lệ lao
động thất nghiệp giảm từ 5,1% (1995) còn 3,93% (2000) và 3,87% năm 2005.
- Về chất lượng nguồn lao động: giai đoạn 1995-2005, cơ cấu lao động
theo nhóm tuổi có sự thay đổi theo hướng nhóm lao động trẻ tuổi từ 15-29 giảm
từ 53,1% còn 46%, nhóm tuổi 30-49 tăng từ 40,2% lên 45,4%.
Giai đoạn 2001-2005 lao động qua đào tạo của tỉnh tăng nhanh, bình quân
tăng 20%/năm và có sự chuyển biến tích cực từ 7% lực lượng lao động xã hội
(1995) lên 10,5% (2000) và 23% năm 2005 (mục tiêu 25% và trung bình cả
nước là 25%), nhiều nhất là lao động được đào tạo nghề sơ cấp dưới 1 năm và
công nhân kỹ thuật không bằng (chiếm hơn 59% lao động qua đào tạo). Về cơ
cấu lực lượng lao động kỹ thuật, công nhân kỹ thuật và sơ cấp tăng từ 48% lên
73%; trung học chuyên nghiệp giảm từ 27% còn 14%; cao đẳng-đại học giảm từ
25% còn 13%.
Đánh giá chung, trong thời gian qua có sự chuyển dịch cơ cấu lao động
nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, nhưng nhìn chung còn chậm
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2020
và lao động khu vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trên 68% lực lượng lao
động ngành nghề.
chiếm 58,0%; nhà tạm 126.258 nhà, chiếm 33,1%.
2. Dự báo dân số.
a. Qui mô, cơ cấu dân số
Dự báo quy mô dân số Tiền Giang vào năm 2020 là 1,96 triệu người, dân
số thành thị 728 nghìn người, chiếm 37% dân số chung, gắn với sự xây dựng,
phát triển và hình thành các khu cụm công nghiệp, các khu dân cư, đô thị mới.
Dân số lao động (15-59 tuổi) là 1,28 triệu người, chiếm 65,2% dân số chung,
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2020
tiềm năng lao động dồi dào thuận lợi cho việc phát triển sản xuất hàng hoá và
kinh tế xã hội nói chung; dân số (0-14 tuổi) là 376 nghìn người - chiếm tỉ lệ
19,1% và dân số từ 60 tuổi trở lên chiếm tỉ lệ 15,6%, số người già ngày càng
đông, tuổi thọ trung bình ngày càng cao và cần sự quan tâm chăm sóc sức khoẻ,
phúc lợi xã hội.
b. Qui mô cơ cấu dân số với yêu cầu giải quyết việc làm:
Theo như dự báo cho thấy, tháp dân số Tiền Giang có xu thế là dân số già,
số người trẻ (0-14 tuổi) ngày một giảm, số người già (trên 60 tuổi) tăng và lực
lượng lao động (15-59 tuổi) tăng, phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế xã hội
tỉnh ta với nhiều khu công nghiệp, khu dân cư đô thị mới mở ra. Cần khuyến
khích đầu tư phát triển sản xuất, đa dạng hoá dịch vụ nhằm thu hút lao động, đáp
ứng nhu cầu việc làm của người dân, hạn chế tình trạng thất nghiệp và di dân đi
tìm việc làm, ổn định cơ cấu dân số.
c. Qui mô cơ cấu dân với yêu cầu phát triển giáo dục đào tạo:
Dân số từ (0-14 tuổi) giảm dần góp phần làm giảm chi phí chi cho giáo
dục mầm non, tiểu học và trung học cơ sở. Tuy nhiên với yêu cầu tiến trình phát
triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trình độ dân trí, trình độ sản xuất ngày càng
cao, đòi hỏi số người lao động phải có kỹ thuật ngày càng đông. Do đó đòi hỏi
ngành giáo dục đào tạo ngoài việc tập trung nâng cao cơ sở vật chất, chất lượng
CHỈ TIÊU
Năm 2000
Mục
Thực hiện
tiêu
Chỉ
% so
QH
tiêu
QH
(1999)
Mục
tiêu QH
(1999)
Năm 2005
Thực hiện
Chỉ
tiêu
%so
QH
1.945
7.9148.272
1.699
88,83
2.GDP SS 94, (tỷ. đ)
5.313
5.307
đạt
- Tăng bq 5 năm (%)
a - Nông lâm ngư nghiệp
2.844
2.861
100,6
- Tăng bq 5 năm (%)
b- Công nghiệp-XD
716
693
96,8
- Tăng bq 5 năm (%)
c- Dịch vụ
7,9-8,2
7,58
91,795,2
4. Sản lượng lương thực (tr.T)
1,3
1,3
1,3
1,297
99,7
5. Tỷ lệ trồng rừng/DT rừng(%)
8,5
4,9
6,8
17,4
255,9
5.003
115-135
- Nông lâm ngư
61,2
56,5
55,5
48,1
- Công nghiệp –XD
13,0
15,3
16,0
22,4
- Dịch vụ
25,9
28,2
2.Tỷ lệ T.em
429
4.Tỷ lệ số hộ xem TV (%)
85
53
62,4
100
100
đạt
5.Tỷ lệ số hộ được nghe đài (%)
100
85
85
100
98
98
6,39
109,5
3
108
- Tiểu học
133
106
79,7
92
95
103
- Trung học cơ sở
74
66
89,2
90
90
100
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2020
Biểu 05: Quy mô GDP các ngành giai đoạn 1996-2005
Đơn vị: tỷ đồng, theo giá hiện hành
Tổng GDP
Nông lâm nghiệp
Công nghiệp - XD
Dịch vụ
1995
4.234
2.718
542
973
Thực hiện
2000
2004
6.916
11.048
3.909
5.570
1.055
2.311
1.952
3.166
2005
nông nghiệp tăng nhanh hơn so với mục tiêu quy hoạch đề ra, đặc biệt cơ cấu
trong nội bộ các ngành cũng có bước thay đổi đáng kể theo hướng phát huy các
lợi thế so sánh của tỉnh.
Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP tăng từ 8,48% năm 1990 lên
12,81% năm 1995; 15,26% năm 2000 và đạt 22,4% năm 2005 (mục tiêu quy
hoạch 20%). Cùng với sự đóng góp của khu vực dịch vụ ngày càng tăng, từ
18,62% năm 1990 lên 22,99% năm 1995; 28,22% năm 2000 và 29,5% năm
2005. Tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong GDP liên tục giảm từ 72,89% năm
1990 xuống 64,20% năm 1995; 56,52% năm 2000 và đến năm 2005 là 48,1%.
Tuy nhiên, khu vực nông lâm thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế
trên 48% (so với cả nước năm 2005 là 20,9%).
Biểu 07: Cơ cấu kinh tế giai đoạn 1995 -2005
Đơn vị: %
Chỉ tiêu
Tổng GDP
- CN-Xây dựng
- Nông lâm ngư
- Dịch vụ
1995
100
12,81
64,20
22,99
Hiện trạng
2000
2004
100,0
100,0
nông nghiệp tăng bình quân 4,7%, lâm nghiệp tăng 1,4% và thuỷ sản tăng 8,6%.
- Khu vực công nghiệp-xây dựng, đã có sự sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức,
sản xuất theo hướng khắc phục những khó khăn, gắn sản xuất với thị trường,
thực hiện nhiều đổi mới công nghệ, hiện đại hóa từng bước các khâu sản xuất
kinh doanh...phát huy được những lợi thế của nhiều sản phẩm; do vậy tốc độ
tăng trưởng sản xuất công nghiệp có xu hướng tăng lên qua các năm, giá trị sản
xuất trong giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 15,7%/năm, tuy không đạt tốc độ
tăng trưởng theo mục tiêu cao trong kế hoạch 5 năm đã đề ra, nhưng cũng đã
phát triển theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế khá tích cực, chiếm tỷ trọng
22,4% trong cơ cấu GDP của tỉnh (vượt mục tiêu năm 2005 là 20%).
- Khu vực thƣơng mại - dịch vụ, phát triển trong điều kiện chịu ảnh
hưởng của cạnh tranh thương mại toàn cầu và khu vực, cùng các biến động của
thị trường thế giới và bệnh dịch...tuy không đạt tốc độ tăng trưởng và cơ cấu
theo mục tiêu cao đã đề ra, nhưng các hoạt động dịch vụ, trong nội thương cũng
như ngoại thương, phát triển ngày càng đa dạng, nhất là trong khu vực ngoài
quốc doanh, chất lượng ngày càng tăng, đảm bảo đáp ứng được các nhu cầu của
sự nghiệp phát triển kinh tế đồng thời phục vụ tốt đời sống nhân dân nên tốc độ
tăng giá trị sản xuất vẫn khá nhanh, bình quân trên 11,7%/năm và chiếm tỉ trọng
đáng kể trong cơ cấu kinh tế, chiếm 29,5%.
Dịch vụ vận tải được phát triển mạnh, toàn tỉnh có trên 7.000 hộ kinh
doanh vận tải, với trên 6.000 phương tiện vận tải đường bộ, 3.500 ghe tàu và
nhiều phương tiện gia dụng đảm nhận 75% khối lượng vận tải. Năm 2005, khối
lượng vận tải hàng hoá 5.443 ngàn tấn/năm; khối lượng luân chuyển hàng hoá
485.815 ngàn tấn/km; khối lượng vận tải hàng khách 22.731 ngàn người/năm;
khối lượng luân chuyển hàng khách 982.889 ngàn người/km
Nếu xét theo tương quan trong thời gian 10 năm 1996-2005 giữa hai khu
vực sản xuất và dịch vụ, thấy rằng nếu khối sản xuất tăng 6,6% thì khu vực dịch
vụ của tỉnh tăng cao hơn 2 lần so với khu vực sản xuất và đạt 12,9%. Hoặc giữa
khu vực phi nông nghiệp và nông nghiệp, thấy rằng sự tăng trưởng của kinh tế
tỉnh thời gian qua có đóng góp lớn của các ngành thuộc khu vực phi nông
100,0
77,0
22,99
100,0
35,8
64,2
100,0
71,8
28,2
100,0
43,5
56,5
100,0
70,5
29,5
100,0
51,95
48,05
Nhịp độ tăng trƣởng GDP (%)
19962000
8,1
5,6
14,6
8,1
13,2
4,6
1995
2000
2004
2005
1. Kinh tế Nhà nước
2. Kinh tế tập thể
3. Kinh tế tư nhân
4 Kinh tế cá thể
5. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
11,0%
0,5%
5,2%
78,7%
4,6%
15,7%
1,7%
9,0%
71,6%
2,0%
16,1%
1,5%
10,8%
68,4%
tận dụng tay nghề của người lao động tại các địa phương, khai thác chế biến
nguồn nguyên liệu có giá trị sử dụng thấp thành những sản phẩm xuất khẩu, góp
phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo...
- Kinh tế tư nhân: trong giai đoạn 2001-2005 có hơn 1.136 doanh nghiệp
thành lập mới (tăng gấp 2 lần so với giai đoạn 1996-2000) với tổng vốn đăng ký
trên 1.950 tỷ đồng (tăng gấp 6 lần so với giai đoạn 1996-2000) và gần 1.100 lượt
doanh nghiệp đăng ký bổ sung ngành nghề về vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký
bổ sung khoảng 500 tỷ đồng. Đến nay, tỉnh có 2.184 doanh nghiệp, trong đó, có
1.978 doanh nghiệp tư nhân; 187 công ty TNHH; 33 công ty cổ phần.
Nhìn chung, khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh phát triển nhanh,
ngành nghề sản xuất, kinh doanh đa dạng, vốn đầu tư ngày càng tăng, thị trường
tiêu thụ được mở rộng, bước đầu đã có sản phẩm xuất khẩu, đặc biệt trong chế
biến thuỷ sản. Qui mô vốn đầu tư cho một doanh nghiệp ngày càng tăng (từ bình
quân 570 triệu/DN giai đoạn 1996-2000 lên trên 1,7 tỷ/DN giai đoạn 2001-2005),
tạo được nhiều công ăn việc làm cho người lao động, đóng góp đáng kể vào quá
trình tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Khu vực kinh tế tư nhân tạo ra giá trị tăng thêm (theo giá hiện hành) từ
191 tỷ đồng (1995) tăng lên 625 tỷ (2000) và 1.708 tỷ đồng (2005) - tăng bình
quân 14,1%/năm trong giai đoạn 2001-2005 và chiếm tỷ trọng 13,3% trong cơ
cấu kinh tế của tỉnh năm 2005.
- Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài đến nay, Tiền Giang thu hút được 20
dự án với với tổng vốn đầu tư đăng ký 176,83 triệu USD, vốn pháp định trên 70
triệu USD. Trong đó, 3 dự án không triển khai thực hiện giấy phép đầu tư, 6 dự
án giải thể do sản xuất kinh doanh không hiệu quả, 2 dự án chuyển sang hình
thức đầu tư trong nước do nhà đầu tư nước ngoài chuyển nhượng toàn bộ vốn
góp. Đến cuối năm 2005, tỉnh có 9 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với
tổng vốn đầu tư đăng ký 109,10 triệu USD, vốn pháp định 40,58 triệu USD.
Tổng vốn đầu tư thực hiện của các dự án còn hiệu lực là 60,62 triệu USD, bằng
54% tổng vốn đầu tư đăng ký.