1
đề bài:
Nêu các tính huống rủi ro trong dự án xây dựng công trình cầu hầm
và các phơng pháp phòng ngừa, giảm thiểu, hạn chế, đến bù khắc phục từ
góc độ chủ đầu t (hoặc góc độ nhà thầu).
Bài làm:
Bài tiểu luận này sẽ trình bày các tính huống rủi ro trong dự án xây dựng
công trình cầu và các phơng pháp phòng ngừa, giảm thiểu, hạn chế, đến bù khắc
phục từ góc độ chủ đầu t.
1 Khái quát chung về rủi ro và quản lý rủi ro trong
dự án xây dựng công trình cầu:
1.1 Khái niệm rủi ro:
2
Bất định, hiểu theo nghĩa rộng, là sự không đầy đủ và không chính xác của
thông tin về các điều kiện thực hiện dự án, trong đó có các vấn đề liên quan đến
chi phí và kết quả dự án.
Rủi ro dự án là tổng hợp những yếu tố ngẫu nhiên, những tình huống không
thuận lợi liên quan đến bất định, có thể đo lờng bằng xác suất không đạt mục tiêu
đã định của dự án và gây nên các mất mát, thiệt hại.
Rủi ro mang tính tiêu cực, nhng có thể đo lờng và lợng hoá đợc.
Bất định không tính đợc sự xuất hiện của các sự kiện có thể xảy ra. Có thể
tác động tích cực để làm giảm xác suất thiệt hại hoặc tăng xác suất thành công.
Trong môi trờng hoạt động đầu t xây dựng chứa đựng các yếu tố bất định
cao. Thời gian đầu t công trình cầu thờng kéo dài, quy mô tiền vốn, vật t và lao
động cần thiết cho một dự án công trình cầu thờng rất lớn. Thời gian vận hành và
các kết quả đầu t diễn ra trong nhiều năm và thời gian tồn tại của công trình cầu
ra các biện pháp ứng phó kịp thời sẽ có tác dụng làm giảm mức độ rủi ro. Trong
quản lý dự án công tác lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và giám sát dự án
phải đảm bảo nhận biết chính xác những nguyên nhân rủi ro tiềm tàng, giữ một
mức độ an toàn nhất định sẽ làm giảm rủi ro đầu t.
1.2. Phõn loi ri ro
cú th nhn bit v qun lý cỏc ri ro mt cỏch cú hiu qu, ngi ta
thng phõn bit cỏc ri ro tu theo mc ớch s dng trong phõn tớch cỏc hot
ng kinh t.
1.2.1. Theo tớnh cht khỏch quan ca ri ro, ngi ta thng chia ra: ri ro
thun tuý v ri ro suy tớnh (ri ro suy oỏn).
- Ri ro thun tuý l loi ri ro tn ti khi cú nguy c tn tht nhng
khụng cú c hi kim li, ú l loi ri ro xy ra liờn quan ti vic ti sn b phỏ
hu. Khi cú ri ro thun tuý xy ra thỡ hoc l cú mt mỏt tn tht nhiu, hoc l
cú mt mỏt tn tht ớt v khi ri ro thun tỳy khụng xy ra thỡ khụng cú mt mỏt
tn tht. Hu ht cỏc ri ro chỳng ra gp phi trong cuc sng v thng li
nhng thit hi ln v ca ci vt cht v cú khi c tớnh mng con ngi u l
ri ro thun tuý. Thuc loi ri ro ny cú ri ro do ho hon, l lt, hn hỏn,
ng t.
4
- Rủi ro suy tính (rủi ro suy đoán) là rủi ro tồn lại khi có một nguy cơ tổn
thất song song với một cơ hội kiếm lời. Đó là loại rủi ro liên quan đến quyết định
lựa chọn của con người. Thuộc loại này là các rủi ro khi đầu tư vào sản xuất kinh
doanh trên thị trường.
Người ta có thề dễ dàng chấp nhận rủi ro suy tính nhưng hầu như không
có ai sẵn sàng chấp nhận rủi ro thuần tuý.
Như vậy, việc phân chia rủi ro thành rủi ro thuần tuý và rủi ro suy tính có
học kỹ thuật và khung cảnh xã hội. Ví dụ lũ lụt gây thiệt hại nghiêm trọng ở một
quốc gia nào đó là rủi ro số đông đối với quốc gia đó nhưng lại là rủi ro bộ phận
đối với phạm vi toàn thế giới.
1.2.3. Theo nguồn gốc phát sinh các rủi ro, có các loại rủi ro sau:
- Rủi ro do các hiện tượng tự nhiên: đây là nguồn rủi ro cơ bản dẫn đến
các rủi ro thuần tuý và để lại những hậu quả rất nghiêm trọng đối với con người.
Nước lũ, nắng nóng, hoạt động của núi lửa,... Việc nhận biết các nguồn rủi ro
này tương đối đơn giản nhưng việc đánh giá khả năng xảy ra cũng như mức độ
xảy ra của các rủi ro xuất phát từ nguồn này lại hết sức phức tạp bởi vì chúng
phụ thuộc tương đối ít vào con người, mặt khác khả năng biểu biết và kiểm soát
các hiện tượng tự nhiên của con người còn hạn chế.
- Rủi ro do môi trường vật chất: các rủi ro xuất phát từ nguồn này là tương
đồi nhiều, chẳng hạn như hoả hoạn do bất cẩn, cháy nổ....
- Rủi ro do các môi trường phi vật chất khác: Nguồn rủi ro rất quan trọng
và làm phát sinh rất nhiều rủi ro trong cuộc sống chính là môi trường phi vật chất
hay nói cụ thể đó là các môi trường kinh tê, xã hội, chính trị, pháp luật hoặc môi
trường hoạt động của các tổ chức,... Đường lối chính sách của mỗi người lãnh
đạo của quốc gia có tốc ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của
các tổ chức kinh tế (ban hành các chính sách kinh tế, áp dụng các quy định và
thuế, cắt giảm hoặc xóa bỏ một số ngành nghề…). Quá trình hoạt động của các
tổ chức có thể làm phát sinh nhiều rủi ro và bất định. Việc thay đổi tỷ giá hối
6
đoái, tỷ lệ lãi suất tín dụng, quan hệ cung - cầu trên thị trường, giá cả thị trường
diễn biến bất ổn,... đều có thể đem lại rủi ro cho các tổ chức sản xuất kinh doanh.
Có rất nhiều rủi ro xuất phát từ môi trường phi vật chất này và các rủi ro cứ nối
tiếp nhau diễn ra, rủi ro này được bắt nguồn từ rủi ro khác, rủi ro bắt nguồn từ
môi trường chính trị dẫn đến các rủi ro về mặt kinh tế hay xã hội (chẳng hạn rủi
Các rủi ro thương mại quốc gia gồm có rủi ro do lạm phát; rủi ro do tỷ lệ
lãi suất thay đổi; rủi ro do sản phẩm hàng hoá mất giá; rủi ro do chính sách ngoại
hối và đặc biệt ở Việt Nam còn có thể có rủi ro do không chuyển đổi được ngoại
tệ;…
Các rủi ro gắn với môi trường pháp luật quốc gia gồm có rủi ro do thay
đổi chính sách pháp luật và qui định; rủi ro về việc thi hành pháp luật; rủi ro do
trì hoãn trong việc bồi thường;….
- Rủi ro cụ thể là các rủi ro gắn liền với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh
cụ thể hoặc lĩnh vực hoạt động khác. Đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh xây
dựng có thể có các rủi ro theo các giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựn g, các
rủi ro đối với việc thực hiện và hoàn thành kế hoạch, các rủi ro trong quá trình
vận hành.
Theo các giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựn g, một tổ chức sản xuất
kinh doanh xây dựng có thể gặp rủi ro vì đấu thầu; rủi ro về cấp phát vốn đầu tư;
rủi ro do sự phối hợp giữa tổ chức thiết kế, giám sát, cung cấp trang thiết bị với
đơn vị thi công, không theo đúng kế hoạch tiến độ đã định; rủi ro trong thi công
xây dựng; rủi ro trong quá trình thanh quyết toán; ...
Đối với việc thực hiện và hoàn thành kế hoạch, tổ chức xây dựn g có thể
gặp rủi ro do sự chậm trễ trong thi công và cung ứng các yếu tố sản xuất; rủi ro
do phải phá đi làm lại; rủi ro do các nguyên nhân bất khả kháng …
Trong quá trình vận hành khai thác có thể có các rủi ro về trang bị cơ sở
hạ tầng; rủi ro về kỹ thuật và công nghệ thi công; rủi ro về quản lý; rủi ro do tăng
8
chi phí lưu thông; rủi ro do trình độ cán bộ công nhân vận hành khai thác; rủi ru
do các nguyên nhân bất khả kháng; rủi ro trách nhiệm;…
Chúng ta có thể gặp rủi ro ở bất kỳ hoạt động nào liên quan đến con
người, do đó hàng ngày chúng ta phải đưa ra những quyết định để làm thế nào có
hoạt động nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro, trong xuốt vòng đời dự án.
Quản lý rủi ro là việc chủ động kiểm soát các sự kiện trong tơng lai dựa trên
cơ sở kết quả dự báo trớc các sự kiện xảy ra mà không phải là sự phản ứng thụ
động. Nh vậy, một trơng trình quản lý rủi ro hiệu quả không những làm giảm bớt
sai sót mà còn làm giảm mức độ ảnh hởng của những sái sót đó đến việc thực
hiện các mục tiêu dự án.
Quản lý rủi ro là quá trình liên tục, đợc thực hiện trong tất cả các giai đoạn
của chu kỳ dự án, kể từ khi mới hình thành cho đến khi kết thúc dự án. Dự án th ờng có rủi ro cao trong giai đoạn đầu hình thành. Trong suốt vòng đời dự án,
nhiều khâu công việc cũng có mức độ rủi ro rất cao nên cần thiết phải phân chia
ra thành nhiều giai đoạn để xem xét, phân tích rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn các
giải pháp phù hợp nhằm giảm bớt và loại trừ rủi ro.
Cỏc ri ro cú nh hng rt ln n cỏc t chc, cỏc doanh nghip, cỏc
hot ng ch nú gõy ra nhng tn tht ũi hi phi tn kộm nhng khon chi
phớ khụng nh khc phc nhng tn tht ú, cỏc chi phớ ny c gi l chi
phớ ri ro
Chi phớ ri ro l khon tn tht i vi t chc khi cú ri ro. Thụng
thng chi phớ ri ro cú hai dng: chi phớ ri ro xỏc nh v chi phớ ri ro khú xỏc
nh.
Chi phớ ri ro xỏc nh l khon tin m t chc hoc doanh nghip b tn
tht khi cú ri ro xy ra nh ti sn b phỏ hu, con ngi b tai nn, Khon
chi phớ ny cú th xỏc nh c thụng qua giỏ tr cỏc ti sn b tn tht hoc s
tin n bự thit hi cho ngi b tai nn.
Chi phớ ri ro khú xỏc nh l khon chi phớ do s lo s ri ro gõy ra. i
vi mt cỏ nhõn, chi phớ ri ro khú xỏc nh th hin bng s lo s, mt mi, mt
10
ngủ, dẫn đến những hành động không sáng suốt có thể gây thiệt hại đến tài sản
và tính mạng hoặc khoản chi phí bảo hiểm đã đóng những không có rủi ro xảy
thức và làm tăng tối đa những lợi ích của rủi ro nhờ mạo hiểm.
Nhìn chung, quá trình quản lý rủi ro gồm 4 bước sau: Nhận dạng rủi ro →
Phân loại rủi ro → Đo lường và đánh giá rủi ro → Xử lý rủi ro
Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro
của một dự án (hoặc doanh nghiệp). Các hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm thu
thập các thông tin đầy đủ và nguồn rủi ro, các yếu tố hiểm họa và nguy cơ rủi ro
để từ đó đưa ra một danh sách các rủi ro mà dự án (hoặc doanh nghiệp) phải
chịu. Danh sách này càng đầy đủ và hệ thống bao nhiêu, cũng giúp cho quá trình
quản lý rủi ro hiệu quá bấy nhiêu.
Thông thường một nhà quản lý rủi ro thường khó có thể xác định được hết
các rủi ro của dự án nên không thể có biện pháp quản lý đối với các rủi ro chưa
được phát hiện do đó đã vô tình giữ lại các rủi ro này, đó là điều nên tránh. Vì
vậy một phương pháp nhận dạng rủi ro có hệ thống là rất cần thiết. Có một số
phương pháp nhận dạng rủi ro đã được áp dụng có hiệu quả như phương pháp sử
dụng bảng liệt kê, phương pháp lưu đồ phương pháp thanh tra hiện trường,...
trong đó phương pháp sử dụng bảng liệt kê tỏ ra đơn giản và đã được một số tổ
chức quản lý rủi ro lớn trên thế giới áp dụng.
Một bảng liệt kê các rủi ro mà tổ chức có thể gặp phải thường được hình
thành từ một bảng câu hỏi được thiết kế phục vụ cho một mục đích nhất định.
Thông thường, bảng câu hỏi yêu cầu các thông tin cần thiết để nhận dạng và xử
lý các đối tượng rủi ro. Các bảng câu hỏi thường được thiết kế nhằm mục đích
nhắc các nhà quản lý rủi ro phát hiện ra các tổn thất có thế có, thu thập thông tin
diễn tả hình thức và mức độ rủi ro mà dự án có thể sẽ gặp phải, dự kiến một
chương trình quản trị rủi ro hiệu quả. Đối với các rủi ro thuộc về kỹ thuật, chỉ
cần lập bảng liệt kê với các dự kiến về mức độ thiệt hại và tần số tổn thất. Đối
với các rủi ro do các nguyên nhân ngẫu nhiên tác động từ bên ngoài và các rủi ro
12
để tự xử lý hoặc nếu giá trị trung bình là thấp thì có thể mạo hiểm chấp nhận rủi
ro để sản xuÊt kinh doanh. Có thề nói mục đích cụ thể của việc đo lường đánh
giá rủi ro là nhằm xác định một cách chính xác các ước lượng giá trị trung bình
của tồn thất để từ đó đề xuất, lựa chọn các biện pháp xử lý rủi ro hiệu quả. Tuy
nhiên, nhà quản lý rủi ro cần phải biết rằng độ chính xác của các ước lượng này
phụ thuộc vào lượng thông tin nhà quản lý rủi ro có thể có. Nói chung tổn thất
càng thường xuyên xảy ra, càng có nhiều thông tin để ước lượng các yếu tố rủi
ro và ngược lại nhưng nhiều khi có sẵn các thông tin mà các ước lượng tần số và
mức độ nghiêm trọng của tổn thất vẫn bị sai số vì bản chất của rủi ro là hoàn
toàn ngẫu nhiên luôn nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người. Việc không
xác định được giá trị đúng của tần số tổn thất do sai số là hoàn toàn có thề xảy
ra, giá trị thực của các tổn thất có thể biến động xung quanh ước lượng của giá
trị trung bình.
Cả hai số liệu về tần số và mức độ nghiêm trọng của tổn thất đều cần thiết
để đánh giá mức độ quan trọng của một nguy cơ rủi ro. Tuy nhiên sự quan trọng
của một nguy cơ rủi ro thường phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tổn thất
chứ không phụ thuộc nhiều vào tần số xảy ra. Một rủi ro gây ra nhiều thiệt hại to
lớn đáng quan tâm hơn nhiều so với một rủi ro thường xuyên xảy ra nhưng chỉ
gây ra những tổn thất nhỏ.
Xử lý rủi ro: Tuỳ từng trường hơp, quá trình xử lý rủi ro có thể là các nội
dung:
- Chuyển rủi ro sang các chủ thể kinh tế khác thông qua các hợp đồng.
Tuỳ theo loại rủi ro mà đối tượng chịu rủi ro có thể chuyển rủi ro sang các
cá nhân hoặc tổ chức khác như ngân hàng hoặc các công ty bảo hiểm (đối với rủi
ro về tài chính, kỹ thuật) nếu các đối tượng đó chịu nhận về mình một số rủi ro
để đổi lấy những lợi ích khác.
14
15
dài thời gian hơn kế hoạch, thẩm định dự án kéo dài, quá trình xin cấp quyết định
đầu t, các thủ tục hành chính và thủ tục chuẩn bị kéo dài thời gian.
Cụ thể, trong giai đoạn chuẩn bị dự án có những tính huống rủi ro có thể
xảy ra nh sau:
Thiếu thông tin trong xác định tài chính, nguồn vốn.
Thông tinh sai lệch trong quy hoạch, chính sách vĩ mô.
Xác định phạm vi dự án không phù hợp hoặc không đầy đủ.
Mục tiêu dự án không đợc xác định rõ ràng và chính xác.
Đánh giá sai tính cấp thiết của dự án.
Công tác nghiên cứu, dự báo lu lợng, nhu cầu thực tế sai sót.
Thay đổi thể chế.
Luật, văn bản hớng dẫn còn cha rõ ràng, phù hợp.
Khảo sát địa hình, địa chất, thủy văn sai sót, kéo dài.
Phân tích môi trờng không hoàn chỉnh hoặc sai sót.
Thiết kế cơ sở không hoàn chỉnh sai sót, thiết chính xác.
Cơ chế cho khâu lập dự án và thiết kế không phù hợp.
Chủ đầu t gặp khó khăn, hạn chế về vốn.
xây dựng ở cách xa khu dân c thì loại rủi ro này ít gặp và dễ giải quyết. Nhng đối
với các công trình cầu xây dựng ở gần khu dân c và đặc biệt là các cầu vợt, cầu
trong thành phố thì rất hay gặp nhứng khó khăn về giải phóng mặt bằng.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn này còn có thể gặp những rủi ro do biến động
về giá cả, lạm phát, luật lệ, cơ chế của nhà nớc thay đổi, biến động lãi suất ngân
hàng, biến động tỷ giá ngoại hối, tăng thuế suất, thiếu nguồn chi trả... Các
nguyên nhân này cũng ảnh hởng lớn đến quá trình thực hiện dự án, làm chậm quá
trình thực hiện dự án.
Cụ thể, trong giai đoạn thực hiện dự án có những tính huống rủi ro có thể
xảy ra nh sau:
Thiết kế sơ bộ, thiết kế kĩ thuật, thiết kế bản vẽ thi công sai sót.
Sai sót trong lập dự toán.
Định mực xây dựng cơ bản cha hoàn chỉnh, còn sai sót.
Tổng mức đầu t, tổng dự toán phải chỉnh sửa nhiều lần.
Thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, tổng dự toán kéo dài, khó
khăn.
Tình trạng nợ đọng, thiếu khả năng chi trả, ách tắc vốn.
Chia nhỏ gói thầu để giảm nhẹ gánh nặng.
Lự chọn nhà thầu t vấn giám sát không phù hợp.
Điều kiện hợp đồng không đầy đủ và phù hợp.
Thời gian hợp đồng dự kiến không phù hợp.
Thay đổi chủ trơng.
Hạn chế việc điều chỉnh giá hay cho phép điều chỉnh giá.
Tiêu cực trong xây dựng cơ bản.
Phản ứng tiêu cực của cộng đồng, tác động dây truyền.
Thiếu hợp tác của cơ quan địa phơng.
Nợ đọng, khó khăn tài chính.
Thiếu sự phối hợp chặt chẽ.
2.3 Rủi ro trong giai đoạn khai thác dự án:
18
Thời gian khai thác dự án bị rút ngắn. Các nguyên nhân gây rủi ro rút ngắn
thời gian khai thác dự án: chất lợng công trình kém do quá trình thi công kém, do
khâu chuẩn bị và xây dựng, quản lý và khái thác yếu kém, hiện tợng vi phạm tải
trọng công trình, ngời dân vô ý hoặc cố ý phá hoại, công tác duy tu bảo dỡng sửa
chữa bị buông lỏng khiến cho công trình nhanh bị xuống cấp.
Rủi ro làm giảm hiệu quả đầu t nh dự bảo lu lợng phơng tiện sai, công trình
cầu đợc thiết kế không đáp ứng đợc yêu cầu thực tế, vừa đa vào khai thác đã xảy
ra hiện tợng tắc nghẽn, hoặc ngợc lại lợng sử dụng rất thấp gây thất thu. Hoặc rủi
ro xảy ra do việc quả lý công tác thu phí bị buông lỏng, không thu hồi đợc vốn
đầu t. Tai nạn giao thông gia tăng, ô nhiễm môi trờng, đặc biệt là ô nhiễm dòng
Ngời dân vô ý phá hoại công trình.
3 các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu, hạn chế và
đến bù khắc phục khi gặp rủi ro:
3.1 Các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro:
3.1.1 Phòng ngừa rủi ro do thiếu hiểu biết
Nguyờn nhõn ri ro do thiu nghiờn cu. Trong trng hp ny, phũng
trỏnh hay gii quyt ri ro l thc t cú th cụng khai. Cỏch trỏnh loi ri ro
ny l nghiờn cu, tuy nhiờn, nu chỳng ta c gng nghiờn cu v hc tp tỡm
ra nguyờn nhõn gõy ri ro, chỳng ta cú th mt thi gian v quan tõm l nhiu
yu t hn s mt mỏt t ri ro.
19
3.1.2 Phòng ngừa rủi ro do sự cẩu thả, không cẩn thận:
ú l ri ro m cú th trỏnh c nu chỳng ta cú s chỳ ý mc nghiờm
tỳc. Cỏc trng hp s s ri ro ny b gõy ra bi s thiu thụng tin so iu kin
t nhiờn xu, s mt mi do lm vic quỏ sc, hay thiu ý kin xỏc ỏng khi
chỳng ta bn rn hay phi lm vic di ỏp lc ln. Nu cụng vic cú th a ti
mt ri ro thm ho thỡ tt nht l chỳng ta nờn dng cụng vic hon ton
trỏnh ri ro do thiu cn thn.
3.1.3 Phòng ngừa rủi ro do sự thay đổi thủ tục, cách quản lý:
ú l ri ro gõy ra do mi ngi khụng tuõn th theo cỏc qui tc hp lý ó
c thit lp t trc. Mt s hot ng cỏ nhõn m b qua cỏc nguyờn tc
thng dn ti ri ro, c bit khi cỏ nhõn ú ang tham gia trong hot ng ca
c nhúm. ngn nga loi ri ro ny cỏc Cụng ty thng a ra sỏch hng
dn bt c ngi no u cú th thc hin nhng hot ng tng t m
khụng ri ro (vớ d sỏch hng dn cụng nhõn khi lm vic trờn cao). Cn phi
cú phng phỏp qun lý c th mi ngi lao ng luụn hiu rng: tt c
phải giữa để bất đầu tiến hành và kết thúc kế hoạch đối phó với rủi ro bất ngờ.
3.2.2 Tìm ra dấu vết rủi ro và cách thức xác định rủi ro:
Là một phơng pháp trong đó hiện trạng rủi ro phải đợc giám sát để xác
định liệu phơng pháp tránh rủi ro đã đợc xác định còn phù hợp cho việc giải
quyết các rủi ro hiện tại và liệu kế hoạch đối phó với rủi ro bất ngờ còn có tác
dụng đối với các rủi ro đợc sử lý. Bằng biện pháp này ngời ta tìm ra biện pháp
trong đó sự nỗ lực điều chỉnh này phải đợc hoàn thành và các tình trạng rủi phải
đợc thu thập, báo cáo, và cân nhắc. Các rủi ro chính phải đợc báo cáo trong Báo
cáo Phân tích Vấn đề Rủi ro. Tất cả các nhà quản lý chuyên môn xác định rõ đặc
điểm, tính chất cách tìm ra từng rủi ro nh thế nào. Nhà quản lý dự án (hoặc nhà
xử lý dự án) sẽ chỉ rõ tất cả các tình trạng rủi ro trong bản báo cáo sẽ đợc thu
thập, phổ biến và đợc chú ý nh thế nào trong các buổi họp duyệt lại dự án. Cụ thể
là, việc theo dõi xử lý rủi ro sẽ đợc hoàn thành thông qua cơ sở dữ liệu xử lý rủi
ro có chứa dữ liệu thích đáng đối với một vấn đề rủi ro. Từng phần của dữ liệu cơ
bản sẽ đợc cập nhật thờng kỳ khi bản báo cáo về các rủi ro đợc đa ra. Điều này
sẽ dẫn đến việc định rõ mỗi rủi ro sẽ đợc tìm ra nh thế nào và các hoạt động đối
phó với rủi ro sẽ đợc hỗ trợ ra làm sao và đợc xét duyệt ở cấp dự án nào.
3.2.3 Tổ trức quản lý rủi ro:
Là một quá trình xác định việc tổ chức giải quyết rủi ro và chịu trách
nhiệm đối với việc giải quyết rủi ro. Nhiệm vụ của nhà quản lý dự án (nhà xử lý
21
rủi ro) là phải chỉ ra đợc các tổ chức giải quyết rủi ro và trách nhiệm liên đới đối
với từng các nhân. điều này sẽ đẫn đến việc lập ra biểu đồ và bảng về chịu trách
nhiệm liên đới (Ma trận chịu trách nhiệm liên đới đối với việc xử lý rủi ro).
Việc cung cấp chính của việc lập kế hoạch đối phó với những rủi ro là một
kế hoạch đợc chứng minh bằng tài liệu mà nó hỗ trợ các tất cả các thành viên
trong tổ dự án có nhận thức chung rõ ràng về cách rủi ro đợc giải quyết dựa vào
22
độ hiệu lực trong báo cáo về rủi ro. Thờng xuyên đánh giá sẽ phù hợp với cách báo
cáo thờng xuyên. Nhà quản lý dự án (ngời giải quyết rủ ro) sẽ xem xét định kỳ các báo
cáo đánh giá này do tính kiên định của việc thực hiện. Trong mỗi báo cáo về rủi ro,
hiện trạng tồn tại rủi ro mà kế hoạch các hoạt động nên tóm tắt các hoạt động bớc đầu
giảm thiểu các ảnh hởng của các rủi ro cụ thể.
Xác định lại các kế hoạch đối phó với rủi ro bất ngờ: từng nhà lãnh đạo dự án sẽ
thực hiện quá trình xác định lại kế hoạch đối phó với rủi ro bất ngờ vì mỗi vấn đề rủi ro
nên đợc yêu cầu giải quyết.
3.2.5 Mua bảo hiểm để hạn chế rủi ro:
Khi tin hnh u t v xõy dng ch u t cỏc d ỏn u t phi mua
bo him cụng trỡnh xõy dng ti Cụng ty bo him c phộp hot ng ti
Vit Nam. Riờng cỏc d ỏn u t xõy dng nh ca t nhõn, Nh nc
khuyn khớch mua bo him cụng trỡnh xõy dng. Cỏc d ỏn u t trc tip
ca nc ngoi ỏp dng theo quy nh ca phỏp lut v u t nc ngoi ti
Vit Nam.
Cỏc d ỏn u t s dng vn Nh nc s khụng c cp vn ngõn
sỏch nh nc v vn tớn dng u ói ca Nh nc cho cỏc khon thit hi
ri ro thuc phm vi phi mua bo him cụng trỡnh.
Phớ bo him cụng trỡnh xõy dng l mt b phn vn u t ca d ỏn,
c tớnh trong tng d toỏn (d toỏn) cụng trỡnh c duyt. Trng hp
ch u t u quyn cho nh thu mua bo him thỡ phớ bo him c tớnh
trong giỏ tr gúi thu. Phớ bo him c xỏc nh theo quy nh hin hnh
ca B Ti chớnh v l mc phớ cao nht ch u t tin hnh mua bo
him.
các hồ sơ sau:
- Sơ đồ mặt bằng công trình.
- Văn bản tóm tắt về kết cấu và biện pháp thi công công trình.
24
- Tổng dự toán công trình được duyệt hoặc giá trúng thầu.
- Hợp đồng mua vật tư thiết bị.
- Bản trích lục phần bảo hiểm trong hợp đồng xây dựng.
- Những văn bản cần thiết khác theo yêu cầu của quy tắc bảo hiểm. Căn
cứ vào dự toán phí bảo hiểm, biểu phí bảo hiểm và hồ sơ nói trên, công ty bảo
hiểm tính toán mức phí bảo hiểm và cấp đơn bảo hiểm cho người mua bảo
hiểm.
Thanh toán phí bảo hiểm:
- Đối với phí bảo hiểm vật tư, thiết bị phí bảo hiểm được thanh toán đầy
đủ và đúng hạn theo quy định trong đơn bảo hiểm.
- Đối với bảo hiểm công trình xây dựng, phí bảo hiểm được thanh toán
một hoặc nhiều lần theo quy định trong đơn bảo hiểm và kế hoạch năm được
duyệt.
- Đối với các loại bảo hiểm khác, phí bảo hiểm được thanh toán theo
quy định trong đơn bảo hiểm.
Bồi thường:
- Khi xảy ra sự cố thuộc trách nhiệm bảo hiểm, người được bảo hiểm
phải thông báo ngay cho công ty bảo hiểm biết và trong thời hạn bảy ngày sau
phải thông báo chi tiết bằng văn bản cho công ty bảo hiểm.
- Sau khi nhận được thông báo của người được bảo hiểm, trong thời hạn
ba ngày công ty bảo hiểm phải cử cán bộ hoặc mời chuyên gia chuyên ngành
(khi cần thiết) đến hiện trường để đánh giá nguyên nhân, mức độ tổn thất.
- Công ty bảo hiểm phải bồi thường cho người được bảo hiểm theo