Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công cổ phần 22 - Pdf 34

1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
MỤC LỤC

Sinh viên : Bùi Thanh An

Lớp: CQ47/21.20


2
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói bất kỳ doanh nghiệp nào ngay từ lúc mới hình thành cũng
đều phải đương đầu với một quy luật mang tính sống còn đó là quy luật cạnh
tranh. Bên cạnh việc không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới
mẫu mã sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu
dùng thì hạ thấp giá thành sản phẩm có thể được coi là một trong các biện
pháp hiệu quả nhất sử dụng để cạnh tranh.Để đạt được mục tiêu này, các
doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất, đồng thời tìm ra các biệp
pháp hữu hiệu nhất để giảm chi phí không cần thiết, tránh lãng phí, từ đó hạ
thấp giá thành sản phẩm. Chính vì vậy, công tác quản lý chi phí sản xuất và
xác định giá thành sản phẩm là việc làm hết sức cần thiết, nó có ý nghĩa to lớn
trong việc tăng tích luỹ của doanh nghiệp, nâng cao đời sống người lao động,
giúp cho doanh nghiệp tồn tại, vươn lên, củng cố vị thế trên thương trường.
Trong công tác quản lý doanh nghiệp, kế toán chi phí sản suất và tính
giá thành sản phẩm là công việc luôn được các nhà quản trị doanh nghiệp
quan tâm, vì nó chi phối đến chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, giúp các nhà quản trị doanh nghiệp quản lý tốt hơn hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình. Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm khoa học và hợp lý là một trong những cơ sở cung
cấp thông tin cho việc chỉ đạo, điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

được hoàn thiện hơn nữa, đồng thời giúp em nâng cao kiến thức để phục vụ
tốt hơn cho quá trình học tập và công tác thực tế sau này.

Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2013
Sinh viên
Bùi Thanh An

Sinh viên : Bùi Thanh An

Lớp: CQ47/21.20


4
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.

1.1.1 Chi phí sản xuất và giá thành.
1.1.1.1

Khái niệm, bản chất của chi phí sản xuất.

Bất kỳ một doanh nghiệp nào, để tiến hành sản xuất kinh doanh phải có
đủ ba yếu tố cơ bản đó là: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao
động. Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trình sản xuất kinh doanh đã tạo ra
các chi phí tương ứng, đó là chi phí về tư liệu lao động, chi phí về đối tượng


Khái niệm, bản chất của giá thành sản phẩm.

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, để quản lý hiệu quả và
kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, doanh nghiệp luôn
cần biết số chi phí đã chi ra cho từng loại sản phẩm, dịch vụ là bao nhiêu, số
chi phí chi ra đã cấu thành trong số sản phẩm, dịch vụ, lao vụ hoàn thành, …
Chỉ tiêu giá thành sản phẩm giúp các nhà quản trị doanh nghiệp trả lời được
câu hỏi này.
Giá thành sản phẩm được xác định bao gồm những chi phí về lao động
sống, lao động vật hoá và các chi phí khác được dùng để sản xuất hoàn thành
một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định.
Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng
tài sản, vốn trong quá trình sản xuất, cũng như các giải pháp doanh nghiệp đã
sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, hạ thấp chi phí và tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp.
1.1.1.3

Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.

Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Chúng là hai mặt của quá trình sản xuất.
Về mặt chất, chi phí sản xuất và giá thành sản xuất là đều biểu hiện
bằng tiền những hao phí về lao động sống, lao động vật hoá mà doanh nghiệp
đã bỏ ra, nhưng về mặt lượng, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có
sự khác nhau. Khi nói đến chi phí sản xuất là giới hạn cho chúng một thời kỳ
Sinh viên : Bùi Thanh An

Lớp: CQ47/21.20


Đối với các doanh nghiệp sản xuất, công việc tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm là một bước quan trọng kết thúc sản xuất, chuẩn bị
cho quá trình tiêu thụ. Mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp là lợi nhuận,
để được mục tiêu này các doanh nghiệp hoặc phải nâng cao giá bán hoặc hạ
thấp giá thành sản phẩm. Giá bán không phải là biện pháp lâu dài và bền vững
vì người tiêu dùng luôn muốn có được sản phẩm có chất lượng cao và giá hạ.
Vì vậy biện pháp lâu dài có tính chiến lược là hạ thấp giá thành sản phẩm.
Muốn đạt được mục tiêu này, doanh nghiệp cần tiết kiệm chi phí sản xuất
trong điều kiện chất lượng sản phẩm không đổi hoặc ngày càng nâng cao. Tiết
kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm là cơ sở hạ giá bán, tạo lợi thế cạnh
tranh, đạt mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tổ chức kế toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm một cách
khoa học hợp lý có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý chi phí sản
xuất, hạ giá thành sản phẩm. Nó là khâu trung tâm của toàn bộ công tác kế

Sinh viên : Bùi Thanh An

Lớp: CQ47/21.20


7
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
toán của toàn doanh nghiệp, chi phối đến các phần hành kế toán khác cũng
như chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp.
1.1.3 Nhiệm vụ của công tác tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm.
Kế toán doanh nghiệp cần phải xác định rõ nhiệm vụ của mình trong
việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
− Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong toàn bộ hệ thống kế toán doanh nghiệp, mốí

dụng kinh tế.
Theo cách phân loại này, các khoản chi phí có cùng công dụng kinh tế,

địa điểm phát sinh giống nhau sẽ được sắp xếp thành những khoản mục nhất
định đó là:
 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm chi phí về nguyên vật liệu
chính (bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài), vật liệu phụ,...sử dụng trực
tiếp cho việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
 Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm chi phí về tiền lương, các
khoản phụ cấp, các khoản trích trên lương (BHXH, BHYT,BHTN, KPCĐ)
của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm.
 Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí dùng vào việc quản lý,
phục vụ sản xuất chung tại bộ phận sản xuất bao gồm: chi phí nhân viên phân
xưởng, chi phí vật liệu, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi
phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền.
1.2.1.2

Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh căn cứ vào nội dung,

tính chất kinh tế của chi phí (phân loại chi phí theo yếu tố).
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp trong kỳ được chia thành các yếu tố chi phí sau:
 Chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ chi phí về các loại
nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, ...
doanh nghiệp đã dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
 Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ tiền lương, các khoản phụ cấp,
các khoản trích trên lương theo quy định hiện hành (BHXH, BHYT, BHTN,
KPCĐ) của toàn bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.

Sinh viên : Bùi Thanh An

thành.

Sinh viên : Bùi Thanh An

Lớp: CQ47/21.20


10
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
* Phân loại giá thành sản phẩm theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
sản phẩm:
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia làm 3 loại như sau:
- Giá thành kế hoạch : là giá thành được tính trên cơ sở chi phí sản
xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch.
- Giá thành định mức : Là loại giá thành được tính trên cơ sở các định
mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm.
- Giá thành thực tế : Là giá thành được tính trên cơ sở số liệu chi phí
sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ cũng như sản lượng
sản phẩm thực tế đã sản xuất trong kỳ.
* Phân loại giá thành căn cứ vào phạm vi các chi phí cấu thành:
Theo cách phân loại này, giá thành được chia làm 2 loại như sau:
- Giá thành sản xuất sản phẩm : bao gồm các chi phí liên quan đến quá
trình sản xuất , chế tạo sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm đã sản xuất
hoàn thành.Giá thành sản xuất sản phẩm là cơ sở để xác định giá vốn hàng
bán và mức lãi gộp trong kỳ của doanh nghiệp.
- Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ : Bao gồm giá thành sản xuất và
chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm tiêu thụ.
Giá thành toàn bộ của sản phẩm là căn cứ để tính toán xác định kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2.1.2

Đối tượng tính giá thành.

Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, dịch vụ mà
doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành cần phải tính tổng giá thành và giá thành
đơn vị.
Căn cứ để xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm hợp lý là: đặc
điểm tổ chức sản xuất sản phẩm (loại hình sản xuất), đặc điểm quy trình công
nghệ sản xuất, đặc điểm sử dụng sản phẩm và các quyết định liên quan đến
sản phẩm, yêu cầu trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Do đó, đối tượng tính giá thành cụ thể trong các doanh nghiệp có thể là:
Sinh viên : Bùi Thanh An

Lớp: CQ47/21.20


12
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
− Từng loại sản phẩm, công việc, đơn đặt hàng đã hoàn thành,
− Từng công trình, hạng mục công trình.
Ý nghĩa của xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm: là căn cứ để
kế toán giá thành tổ chức tính giá thành sản phẩm theo từng đối tượng đã
được xác định, là căn cứ lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp.
1.2.1.3 Mối quan hệ giữa đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng
tính giá thành.
Đối tượng CPSX và đối tượng tính giá thành sản phẩm giống nhau ở
bản chất, đều là những phạm vi, giới hạn nhất định để tập hợp chi phí sản xuất
và cùng phục vụ cho công tác quản lý, kiểm tra, phân tích chi phí, giá thành
sản phẩm. Tuy vậy, giữa hai khái niệm này vẫn có sự khác nhau nhất định:

công tác hạch toán, ghi chép ban đầu cho phép quy nạp trực tiếp các khoản
chi phí này vào từng đối tượng tập hợp CPSX có liên quan.
Theo phương pháp này CPSX phát sinh được tính trực tiếp cho từng
đối tượng chịu chi phí nên đảm bảo độ chính xác cao, cần sử dụng tối đa
phương pháp này trong điều kiện có thể cho phép.
1.2.2.2

Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp.

Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp áp dụng trong trường hợp
các chi phí liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp CPSX đã xác định,
không tổ chức ghi chép ban đầu CPSX phát sinh riêng cho từng đối tượng
được. Muốn xác định cho từng đối tượng cần phải tập CPSX phát sinh chung
theo từng nơi phát sinh chi phí sau đó phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí
theo tiêu chuẩn phù hợp.
Việc phân bổ được tiến hành theo trình tự:
− Xác định hệ số phân bổ:
Tổng chi phí cần phân bổ
Tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ
− Xác định mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng:
Hệ số phân bổ

=

Ci = Ti × H
Trong đó:
Ci

: chi phí phân bổ cho đối tượng i


Chi phí
NVL trực
tiếp thực
tế trong kỳ

=

Trị giá

Trị giá

NVL

NVL trực

trực tiếp

+

tiếp xuất

còn lại

dùng trong

đầu kỳ

kỳ

Trị giá

lượng sản phẩm sản xuất. Tiêu chuẩn phân bổ chi phí NVL phụ, nhiên liệu là
chi phí NVL chính, chi phí NVL trực tiếp định mức (kế hoạch), …
Hình 1.1: Sơ đồ kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
TK 152,153

TK 621

Xuất kho NVL dùng
trực tiếp cho sản xuất

TK 152

NVL chưa sử dụng hết
nhập kho

TK 111,112,331
NVL mua ngoài dùng trực
tiếp cho sản xuất

TK 154
Kết chuyển chi phí NVL
trực tiếp
TK 632
Chi phí NVL vượt
mức bình thường

 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp là các khoản chi phí phải trả cho công nhân trực
tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ dịch vụ gồm: tiền lương
chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo


Kết chuyển chi phí NCTT

TK 632
CPNCTT vượt mức bình
thường

 Kế toán chi phí sản xuất chung.
Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí cần thiết khác phục vụ cho quá
trình sản xuất sản phẩm phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất.
Chi phí sản xuất chung bao gồm:
− Chi phí nhân viên phân xưởng.
− Chi phí vật liệu.
− Chi phí dụng cụ sản xuất.
− Chi phí khấu hao TSCĐ.
− Chi phí dịch vụ mua ngoài.
− Chi phí khác bằng tiền.
Sinh viên : Bùi Thanh An

Lớp: CQ47/21.20


17
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
– Chi phí sản xuất chung. Để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung, kế
toán sử dụng Tài khoản 627
Chứng từ để hạch toán chi phí SXC là: bảng phân bổ tiền lương và BHXH;
bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ; bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ,
các hoá đơn dịch vụ mua ngoài, phiếu chi,..
Chi phí SXC thường liên quan đến nhiều đối tượng tính giá thành, kế toán


Sinh viên : Bùi Thanh An

Lớp: CQ47/21.20


18
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Cuối kỳ kế toán, sau khi đã tập hợp chi phí NVL trực tiếp, chi phí NC trực
tiếp, chi phí SXC theo từng đối tượng trên các tài khoản:
Tài khoản 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Tài khoản 622 – Chi phí nhân công trực tiếp.
Tài khoản 627 – Chi phí sản xuất chung.
Kế toán tiến hành kết chuyển hoặc phân bổ các loại chi phí này để tập hợp
toàn bộ CPSX cho từng đối tượng chịu chi phí, tiến hành kiểm kê và đánh giá sản
phẩm làm dở cuối kỳ, thực hiện tính giá thành các loại sản phẩm, lao vụ dịch vụ
doanh nghiệp đã hoàn thành trong kỳ.
Để tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên, kế
toán sử dụng tài khoản 154 – Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang
Hình 1.4 : Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất,kinh doanh dở dang

Sinh viên : Bùi Thanh An

Lớp: CQ47/21.20


19
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

TK 154

bán ngay không qua kho
Kết chuyển chi phí sản xuất chung
1.2.3.2

Phưong pháp kế toán CPSX theo phương pháp kiểm kê định kỳ.

Theo phương pháp kiểm kê định kỳ, việc tổ chức kế toán các khoản
mục chi phí vẫn giống như phương pháp kê khai thường xuyên, được thực
hiện trên các tài khoản:
Tài khoản 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Tài khoản 622 – Chi phí nhân công trực tiếp.
Tài khoản 627 – Chi phí sản xuất chung.
Toàn bộ quá trình tổng hợp CPSX cuối kỳ được thực hiện trên tài
khoản 631 – Giá thành sản xuất. Tài khoản 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh

Sinh viên : Bùi Thanh An

Lớp: CQ47/21.20


20
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
dở dang, chỉ sử dụng để phản ánh và theo dõi CPSX kinh doanh đầu kỳ và
cuối kỳ.
Hình 1.5 : Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo
phương pháp kiểm kê định kỳ:
TK 631
TK 154
Kết chuyển chi phí
SXDD đầu kỳ

hoàn thành một vài công đoạn của công trình công nghệ nhưng vẫn phải gia
công chế biến mới trở thành thành phẩm.

Sinh viên : Bùi Thanh An

Lớp: CQ47/21.20


21
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đánh giá sản phẩm dở dang là tính toán xác định phần chi phí sản xuất
mà sản phẩm dở dang cuối kỳ phải chịu.
1.2.4.1

Đánh giá sản phẩm làm dở theo phương pháp chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp.

Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp doanh nghiêp có chi
phí NVL chính trực tiếp (hoặc NVL trực tiếp) chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
chi phí sản xuất, khối lượng sản phẩm dở dang ít và tương đối ổn định giữa
các kỳ.
Nội dung của phương pháp: chỉ phân bổ khoản mục chi phí NVL trực
tiếp (hoặc chi phí NVL chính trực tiếp) cho sản phẩm dở cuối kỳ, còn các chi
phí khác tính hết cho sản phẩm hoàn thành trong kỳ.
Chi phí sản xuất dở dang được xác định theo công thức:
Dck

=

D®k + Cv


22
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
1.2.4.2

Đánh giá sản phẩm làm dở theo phương pháp khối lượng sản
phẩm hoàn thành tương đương.

Phương pháp này áp dụng đối với doanh nghiệp có chi phí NVL trực
tiếp (hoặc chi phí NVL chính trực tiếp hoặc nửa thành phẩm bước trước
chuyển sang) chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng CPSX, khối lượng sản
phẩm dở dang lớn và không ổn định giữa các kỳ, đánh giá được mức độ hoàn
thành của sản phẩm dở dang.
Nội dung của phương pháp: tất cả các khoản mục chi phí đều được
phân bổ cho sản phẩm dở cuối kỳ và cho thành phẩm.
Công thức xác định chi phí sản xuất dở dang:
 Theo phương pháp bình quân.
− Với những chi phí bỏ vào một lần ngay từ đầu quy trình công
nghệ sản xuất
D®k + Cv1
χ
Qdck
Qht + Qdck
− Với những chi phí bỏ vào theo mức độ gia công chế biến:
Dck

=

D®k + Cv1
χ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Cvl
χ
Qdck
Qd®k χ (1- m®) + Qbht + Qdck χ mc
Trong đó: m® là mức độ chế biến hoàn thành của sản phẩm dở dang
Dck

=

cuối kỳ.
1.2.4.3

Đánh giá sản phẩm làm dở theo chi phí định mức.

Phương pháp này áp dụng thích hợp đối với các doanh nghiệp đã xây
dựng được hệ thống định mức và dự toán chi phí hợp lý cho từng loại sản
phẩm.
Nội dung của phương pháp: kế toán căn cứ vào kết quả kiểm kê sản
phẩm dở dang ở từng công đoạn sản xuất và định mức từng khoản mục chi
phí ở từng công đoạn sản xuất đó cho 1 đơn vị sản phẩm để tính ra giá trị sản
phẩm dở dang theo chi phí định mức.
Ưu điểm: tính toán thuận tiện nhanh chóng.
Nhược điểm: kết quả tính toán không chính xác bằng phương pháp
đánh giá sản phẩm làm dở theo khối lượng hoàn thành tương đương, phụ
thuộc vào sự hợp lý của chi phí định mức.
1.2.5 Phương pháp tính giá thành sản phẩm.
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp sử dụng số liệu
sản xuất đã tập hợp được trong kỳ để tính toán tổng giá thành và giá thành
đơn vị theo từng khoản mục chi phí quy định cho các đối tượng tính giá

Tổng giá thành sản phẩm
Giá thành đơn vị sản phẩm

=

Khối lượng sản phẩm hoàn thành

Phương pháp này thường áp dụng cho các doanh nghiệp có quy trình
công nghệ giản đơn, khép kín, số lượng mặt hàng ít, chu kỳ sản xuất ngắn.
1.2.5.2. Phương pháp hệ số:
Phương pháp hệ số được áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng
một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động
nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không hạch toán
riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải hạch toán chung cho cả quá trình sản
xuất. Theo phương pháp này, trước hết, kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi để quy
các loại sản phẩm về sản phẩm tiêu chuẩn (sản phẩm gốc).
Từ đó, dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập
hợp để tính ra giá thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại sản phẩm.

1.2.5.3. Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ:
Phương pháp này thường sử dụng đối với doanh nghiệp có quy mô
công nghệ, cùng sử dụng một loạt nguyên liệu đầu vào nhưng kết quả cho ra
các nhóm sản phẩm khác nhau về kích cỡ, phẩm cấp.
Tổng
giá Thanh An Giá tri
Sinh viên
: Bùi
thành

=

Trong đó sản phẩm phụ không phải là mục đích kinh doanh của doanh nghiệp, do
đó để tính giá thành sản phẩm chính thì phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ.
Trong doanh nghiệp này đối tượng hạch toán chi phí là chi phí sản xuất được
tập hợp theo phân xưởng hoặc địa điểm phát sinh chi phí hoặc theo giai đoạn công
nghệ, đối tượng tính giá thành là sản phẩm chính.
1.2.5.5. Phương pháp tính giá thành phân bước:
Đặc điểm của quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm là từ khi đưa
nguyên vật liệu vào đến khi tạo ra sản phẩm phải trải qua nhiều giai đoạn, kết
thúc mỗi giai đoạn tạo ra nửa thành phẩm chuyển sang giai đoạn sau để tiếp
tục chế biến.
* Phương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành
phẩm:
Trước hết, kế toán căn cứ vào chi phí sản xuất của từng giai đoạn đầu
tiên để tính giá thành nửa sản phẩm giai đoạn 1. Sau đó, xác định chi phí sản
xuất giai đoạn 1 chuyển sang cho giai đoạn sau, cùng với chi phí sản xuất của
bản thân giai đoạn đó, tổ chức tính giá thành nửa thành phẩm của giai đoạn
này,cứ kế tiếp liên tục. Như vậy, cho đến giai đoạn cuối cùng sẽ tính được giá
thành của thành phẩm. Việc kết chuyển chi phí từ giai đoạn trước sang giai

Sinh viên : Bùi Thanh An

Lớp: CQ47/21.20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status