Thực trạng thi hành pháp luật bảo hiểm y tế bắt buộc ở việt nam - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ PHƢƠNG DUNG

THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT
BẢO HIỂM Y TẾ BẮT BUỘC Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI THỊ PHƢƠNG DUNG

THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT
BẢO HIỂM Y TẾ BẮT BUỘC Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luâ ̣t Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM TRỌNG NGHĨA

HÀ NỘI – 2015


LỜI CAM ĐOAN


1.1.1. Nguồn gốc ra đời .............................................................................. 7
1.1.2. Khái niệm và Đặc điểm .................................................................... 9
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của bảo hiểm y tế .................................................. 12
1.2. Pháp luật về bảo hiểm y tế .................................................................... 13
1.2.1. Khái niệm và bản chất của pháp luật bảo hiểm y tế ....................... 13
1.2.2. Vai trò của pháp luật bảo hiểm y tế ................................................ 16
1.2.3. Nguyên tắc của pháp luật bảo hiểm y tế ......................................... 18
1.3. Một số vấn đề lý luận về Thi hành pháp luật Bảo hiểm y tế ................ 20
1.3.1. Khái niệm ........................................................................................ 20
1.3.2. Nguyên tắc ...................................................................................... 22
1.4. Pháp luật bảo hiểm y tế ở một số quốc gia trên thế giới....................... 22
1.5. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển pháp luật bảo hiểm y tế ở
Việt Nam ...................................................................................................... 24
1.5.1. Sơ lược về sự hình thành pháp luật bảo hiểm y tế ở Việt Nam ...... 24
1.5.2. Các giai đoạn phát triển của pháp luật bảo hiểm y tế ..................... 26
ii


Chương 2. THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ
......................................................................................................................... 38
2.1. Thực trạng về đối tượng tham gia bảo hiểm y tế .................................. 38
2.2. Thực trạng về chế độ hưởng bảo hiểm y tế........................................... 48
2.3. Thực trạng về quỹ bảo hiểm y tế .......................................................... 59
2.4. Đánh giá thực trạng tình hình thi hành pháp luật bảo hiểm y tế tại Việt
Nam .............................................................................................................. 66
2.4.1. Đánh giá chung thực trạng thi hành pháp luật bảo hiểm y tế ......... 66
2.4.2. Đánh giá tình hình thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Bảo hiểm y tế .................................................................................... 68
Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THI
HÀNH PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ Ở VIỆT NAM ........................... 79

Liên minh Châu Âu

ILO

Tổ chức lao động quốc tế

UBDT

Ủy ban Dân tộc

UBND

Ủy ban nhân dân

UNICEF
WB
WHO

Quỹ Nhi đồng Liên hiệp Quốc
World Bank
Tổ chức Y tế thế giới

iv


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong cuộc sống này, không có gì quan trọng cho bạn bằng chính con
người bạn, một thân thể không bệnh tật, một tâm hồn không loạn đó là chân
hạnh phúc của con người. Có câu nói: “Người có sức khỏe có một trăm ước

Luật được hoàn thành với công sức, với sự tham gia của các Bộ, ngành, Bảo
hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam, các tổ chức quốc tế WHO, World Bank,
UNICEF, EU đặc biệt là các đồng chí Lãnh đạo Bộ Y tế, Ủy ban Các vấn đề
xã hội của Quốc Hội đã đầu tư nhiều thời gian, công sức để nghiên cứu, học
hỏi kinh nghiệm, tìm kiếm mô hình phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt
Nam. Đây cũng là dự thảo Luật được dư luận xã hội quan tâm vì có nhiều nội
dung liên quan trực tiếp đến cơ chế tài chính đối với chăm sóc sức khỏe và an
sinh xã hội. Theo đó, nhiều điểm trong dự thảo Luật BHYT đã được thay đổi
theo chiều hướng tạo thuận lợi và thu hút người dân tham gia BHYT. So với
Luật BHYT (năm 2008), Luật BHYT sửa đổi có một số điểm quan trọng có
tính đột phá mạnh mẽ để khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật BHYT
năm 2008, tạo cơ chế pháp lý bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHYT
và tính bền vững của quỹ BHYTđể thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực không ngừng trong việc hoàn thiện
các quy định của pháp luật, pháp luật BHYT của Việt Nam vẫn còn quá nhiều
thách thức cho sự thành công của BHYT toàn dân với hệ thống tài chính bảo
hiểm bền vững. Do đó, những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật và đảm
bảo tính khả thi để hoàn thành mục tiêu của BHYT toàn dân ở Việt Nam trở
nên cấp thiết. Đây là lý do cơ bản để tác giả lựa chọn đề tài “Thực trạng thi
hành pháp luật BHYT bắt buộc ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ.

2


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội, là bộ phận quan trọng không
thể thiếu của pháp luật về an sinh xã hội. Bảo hiểm y tế ra đời từ rất sớm và
khẳng định được vị thế ở các nước có nền kinh tế phát triển. Do tính thiết yếu
của bảo hiểm y tế, các đề tài về bảo hiểm y tế cũng thu hút được nhiều sự
quan tâm nghiên cứu. Đã có những công trình nghiên cứu khoa học pháp lý ở

tiêu này, tác giả Luận văn đặt ra những nhiệm vụ chính sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật
BHYT đặt nền móng nhận thức vững vàng về BHYT nói chung và pháp luật
BHYT nói riêng góp phần xây dựng hệ thống tư duy lý luận đầy đủ, vững
chắc về pháp luật BHYT.
Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định về pháp luật
BHYT ở Việt Nam, tìm hiểu thực tiễn thi hành pháp luật BHYT. Trên cơ sở
đó tìm ra những hạn chế cần phải hoàn thiện, đặc biệt là việc chỉ ra nguyên
nhân của những hạn chế đó.
Thứ ba: Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
BHYT cho phù hợp với thực tiễn hiện nay góp phần thực hiện tốt công tác
bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân.
4. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Hiện nay đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đề tài pháp
luật BHYT. Tuy nhiên, Luận văn được viết trong thời điểm Luật BHYT sửa
đổi, vừa mới được Quốc hội thông qua nên có những đóng góp mới như sau:
- Luận văn nghiên cứu về những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật
BHYT, trên cơ sở đó có sự so sánh điểm mới của Luật BHYT sửa đổi và Luật
BHYT năm 2008. Đồng thời, luận văn nghiên cứu, tham khảo pháp luật

4


BHYT của một số nước trên thế giới làm cơ sở cho việc hoàn thiện hệ thống
lý luận về pháp luật BHYT ở Việt Nam.
- Luận văn tổng hợp, thống kê những số liệu mới nhất về tình hình thi
hành pháp luật BHYT ở Việt Nam trong thời gian qua nhằm đánh giá những
khó khăn trong việc thi hành pháp luật BHYT ở Việt Nam làm cơ sở để đưa
ra những giải pháp nâng cao tính khả thi cũng như hoàn thiện hơn hệ thống
pháp luật BHYT ở Việt Nam.

luật đối với BHYT
Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật BHYT ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật BHYT ở Việt Nam.

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI BẢO HIỂM Y TẾ
1.1. Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm y tế
1.1.1. Nguồn gốc ra đời
Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch sử văn minh nhân loại.
Tuy nhiên, bảo hiểm thực sự xuất hiện từ khi nào thì người ta vẫn chưa có
được câu trả lời chính xác. Ý tưởng về bảo hiểm được coi là đã xuất hiện từ
khá lâu, khi mà người xưa đã nhận ra lợi ích của việc xây dựng một kho thóc
lúa dự trữ chung phòng khi mất mùa, chiến tranh… Như vậy, ngay từ xa xưa,
con người đã có ý thức về những bất trắc có thể xảy đến với mình và tìm cách
phòng tránh chúng.
Ý tưởng về sự rủi ro (risk) được hình thành một cách rõ nét vào
khoảng thế kỷ XV, khi châu Âu mở những cuộc thám hiểm, khai phá tới các
miền đất ở Châu Á, Châu Mỹ. Nhu cầu giao thương giữa các châu lục trở nên
mạnh mẽ, ngành hàng hải ngày càng phát triển. Những đội tàu buôn lớn ra đi
và trở về với sự giàu có từ nguồn hàng dồi dào, hấp dẫn từ những miền đất
mới. Tuy nhiên, đồng hành với đó cũng là những trường hợp rủi ro không
quay về được do nhiều nguyên nhân như: giông bão, lạc đường, cướp biển…
Những nhà đầu tư cho những chuyến đi mạo hiểm như vậy đã cảm thấy sự
cần thiết phải cùng nhau chia sẻ rủi ro để tránh tình trạng một số người bị mất
trắng khoản đầu tư của mình do một hiện tượng ngẫu nhiên khiến tàu của họ
bị thiệt hại hoặc mất tích. Để thực hiện điều này, người ta có hai lựa chọn:

chẳng hạn như tuần làm việc ngắn hơn, bảo hiểm thất nghiệp, lương hưu và
bảo hiểm về sức khỏe được thực hiện. Điển hình là năm 1850 tại Đức dưới
thời Thủ tướng Bismarck (1815-1898) đã ban hành chính sách BHYT bắt
buộc. Có thể nói đây là hình thức BHYT đầu tiên trên thế giới và nó được
hình thành trong mô hình bảo hiểm xã hội (BHXH) [45].

8


Như vậy, BHYT ra đời xuất phát từ nhu cầu tự nhiên, tất yếu của con
người trong việc tìm kiếm một sự bảo đảm, một điều kiện sống an toàn chống
lại những rủi ro, những tổn thất do ốm đau, bệnh tật mang lại để tồn tại và
phát triển.
1.1.2. Khái niệm và Đặc điểm
Khái niệm về BHYT ở mỗi một quốc gia đều có sự khác biệt do sự
khác nhau về điều kiện kinh tế, xã hội, truyền thống lịch sử.
Theo quan niệm của WHO, BHYT là tên gọi của loại hình BHYT không
kinh doanh, không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm mục đích an sinh xã hội
trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ. Theo thông lệ quốc tế tôn chỉ mục đích của
loại hình bảo hiểm này là đem lại sự chăm sóc y tế, với tư cách là một trong
những nội dung chính của an sinh xã hội theo Công ước số 102 - Công ước về
quy phạm tối thiểu an sinh xã hội của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO).
Các nước công nghiệp phát triển định nghĩa BHYT là một tổ chức cộng
đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, có nhiệm vụ giữ gìn sức khỏe, khôi phục lại
sức khỏe hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của người tham gia BHYT [42].
Theo tài liệu “BHYT xã hội” do WHO ấn hành tháng 5/2003 thì BHYT bắt
buộc thuộc phạm trù BHYT xã hội. Đây là một cơ chế tạo nguồn và quản lý
chăm sóc sức khỏe thông qua chia sẻ rủi ro về sức khỏe giữa các thành viên của
quỹ đồng thời huy động nguồn đóng góp từ doanh nghiệp, hộ gia đình, Chính
phủ. Cơ chế BHYT là một bộ phận của an sinh xã hội chứ không chỉ đơn giản

ILO, WHO. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, trang 151, “BHYT là loại bảo
hiểm do nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân,
tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám sức khỏe và chữa
bệnh cho nhân dân”. Khái niệm này cơ bản đã khẳng định được bản chất
BHYT ở Việt Nam, đó là loại hình BHYT xã hội do nhà nước tổ chức thực
hiện, theo mô hình tài chính đóng góp. Tuy nhiên, khái niệm này chưa lột tả

10


được tôn chỉ, mục đích của BHYT. Theo PGS, TS Đào Văn Dũng “BHYT là
một chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động nguồn
lực tài chính của nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động và cộng
đồng để hình thành quỹ tài chính dùng chi trả chi phí khám chữa bệnh cho
người tham gia BHYT theo quy định của pháp luật”. Theo quan niệm này
BHYT có các đặc trưng sau: i) do nhà nước thực hiện; ii) có sự đóng góp của
người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của nhà nước; iii) quỹ
dùng để chi trả chi phí khám chữa bệnh [26]. Tuy nhiên, khái niệm này vẫn
chưa nêu bật được nguyên lý của BHYT đó là tính tương trợ cộng đồng, chia
sẻ rủi ro. Theo TS. Nguyễn Thị Thanh Hương “BHYT là một chính sách an
sinh xã hội của Nhà nước mang tính bắt buộc đối với mọi người trên cơ sở sự
đóng góp theo thu nhập của các thành viên, có sự hỗ trợ của ngân sách nhằm
mục đích khám chữa bệnh khi thành viên ốm đau, bệnh tật và không vì mục
tiêu lợi nhuận”. Theo quan niệm này, khái niệm BHYT sẽ bao quát và đảm
bảo 2 yếu tố kinh tế và xã hội. Tính xã hội được thể hiện ở vai trò nhà nước
trong việc bắt buộc các thành viên tham gia, ngân sách nhà nước đảm bảo
thực hiện dưới hình thức hỗ trợ kinh phí đóng BHYT cho những đối tượng
yếu thế và vì mục tiêu an sinh xã hội, nhà nước đảm bảo trong trường hợp
quỹ BHYT mất cân đối thu chi trên phạm vi toàn quốc. Yếu tố kinh tế thể
hiện ở sự tham gia đóng góp của các thành viên trên cơ sở thu nhập nhằm cân

quả cao nhất trong công việc, năng suất lao động tăng, thu lợi về cho bản
thân, gia đình, cho tổ chức và cho nền kinh tế quốc dân.
- Về phương diện xã hội:
Người dân tham gia BHYT sẽ được chi trả chi phí khi khám chữa bệnh
tạo sự yên tâm về tâm lý cho người dân. Sức khỏe người dân được bảo vệ và
chăm sóc cũng sẽ tạo môi trường xã hội ổn định và vững chắc. Hơn nữa,

12


BHYT ra đời không nhằm mục đích kinh doanh lợi nhuận mà dựa trên sự chia
sẻ rủi ro giữa con người với con người trong xã hội. Vì vậy, BHYT luôn là
mạng lưới bảo hiểm bao trùm rộng khắp nhất và có ý nghĩa quan trọng trong
hệ thống an sinh xã hội của quốc gia.
- Về phương diện pháp lý:
BHYT có ý nghĩa trên phương diện pháp lý bằng việc cụ thể hóa rõ nét
nhất quyền con người trong xã hội, là công cụ góp phần nâng cao chất lượng,
hiệu quả, công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe. Quyền được chăm sóc
sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của con người, không chỉ được ghi
nhận trong các công ước của các tổ chức quốc tế mà còn được ghi nhận trong
hiến pháp của nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để
mọi công dân được đảm bảo quyền lợi của mình. BHYT đã đảm bảo cho mọi
người, nhất là những đối tượng yếu thế trong xã hội đều được tiếp cận các
dịch vụ y tế. Với đặc điểm chia sẻ rủi ro, lấy số đông bù số ít, BHYT góp
phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo công bằng xã hội.
1.2. Pháp luật về bảo hiểm y tế
1.2.1. Khái niệm và bản chất của pháp luật bảo hiểm y tế
Xem xét sự ra đời và phát triển BHYT cho thấy, BHYT không chỉ là sự
tương trợ, giúp đỡ của mỗi cá nhân hay các tổ chức cộng đồng mà còn trách
nhiệm của nhà nước trước quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của các

đảm bảo một trong những quyền thiêng liêng của con người được Tuyên ngôn
nhân quyền khẳng định, đó là quyền được chăm sóc y tế. Bảo vệ và chăm sóc
sức khoẻ không phải thuần tuý chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân riêng lẻ,
mà là trách nhiệm chung của cả cộng đồng. Bởi lẽ, nguy cơ về bệnh tật có thể
đến với bất kể ai, không phân biệt quốc gia, dân tộc và hơn nữa không ai có
thể một mình đơn phương chống lại bệnh tật. Lẽ đương nhiên việc bảo vệ,

14


chăm sóc sức khoẻ trước tiên thuộc về mỗi cá nhân nhưng vẫn cần sự trợ giúp
mang tính xã hội, có tính tổ chức cao đó là sự trợ giúp mang tính Nhà nước. Ở
đó Nhà nước giữ vai trò quan trọng, là người tổ chức, quản lý và bảo trợ. Bản
chất xã hội của pháp luật BHYT còn được thể hiện ở sự liên kết, chia sẻ rủi ro
mang tính cộng đồng giữa các thành viên trong xã hội. Bên cạnh sự trợ giúp
mang tính Nhà nước, thì sự chia sẻ, liên kết của chính các thành viên trong xã
hội thông qua đóng góp dựa trên thu nhập là yếu tố rất quan trọng. Thiếu sự
liên kết này, việc thực hiện BHYT sẽ không thành công do không đảm bảo
được nguyên lý chia sẻ rủi ro. Thực tế cho thấy, bệnh tật và những rủi ro về
sức khoẻ không phải khi nào cũng xuất hiện cùng một lúc với tất cả mọi
người, chúng cũng không xuất hiện giống nhau ở mỗi người: có người ốm lúc
này, người ốm lúc khác; có người bệnh nặng, có người bệnh nhẹ; có người
hay ốm, người ít ốm và bệnh tật thường đến bất ngờ không báo trước. Nếu cứ
để ai có bệnh người đó tự chống đỡ sẽ gây khó khăn cho chính họ vì không đủ
tiền để trang trải. Do đó sự liên kết mang tính cộng đồng rộng rãi để chia sẻ
rủi ro bệnh tật là một đòi hỏi tất yếu. Một quỹ chung cho chăm sóc sức khoẻ
sẽ điều tiết để nhiều người chưa hoặc không ốm chăm sóc cho người ốm,
người ốm nhẹ giúp người ốm nặng.
Tính xã hội tương trợ cộng đồng nhân văn của pháp luật BHYT còn thể
hiện ở sự đoàn kết xã hội trong chăm sóc y tế. Chăm sóc y tế thông qua

hậu, ô nhiễm môi trường đang đòi hỏi phải có sự liên kết, hợp tác mang tính
toàn cầu trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Pháp luật BHYT là một giải pháp
hữu hiệu thực hiện chế độ trợ cấp y tế, một trong các bộ phận cấu thành quan
trọng của an sinh xã hội. Về tổng quan, vai trò của pháp luật BHYT thể hiện ở
một số nội dung sau:
Một là: Pháp luật BHYT đảm bảo tính công bằng trong tiếp cận dịch vụ
chăm sóc y tế. Pháp luật BHYT là sự cụ thể hóa rõ nét nhất quyền cơ bản của

16


con người trong xã hội, đó là quyền được chăm sóc y tế và quyền được bình
đẳng trong chăm sóc y tế. Từ việc ghi nhận quyền hưởng BHYT trong các
văn bản pháp lý quốc tế, các quốc gia đều ghi nhận quyền hưởng BHYT là
một nguyên tắc hiến định. Thông qua pháp luật BHYT với các quy định về
nguyên tắc, phạm vi, mức hưởng, trách nhiệm pháp lý của các chủ thể thì
quyền hưởng BHYT mới được cụ thể hóa và được đảm bảo thực hiện.
Hai là: Pháp luật BHYT là công cụ chống lại nghèo đói, bệnh tật. Đói
nghèo và bệnh tật không chỉ là mối quan tâm của riêng ai, là vấn đề chung của
nhân loại. Nghèo đói thường đi liền với bệnh tật đó là quan hệ nhân quả. Bệnh
tật từ đói nghèo mà ra, bệnh tật làm cho đói nghèo. Bởi khi mắc bệnh, không
phải ai cũng có điều kiện kinh tế dư dả để chi trả cho các khoản chi phí y tế.
Để khám chữa bệnh, có người còn phải vay mượn mọi nơi vẫn không đủ để
trang trải các chi phí. Hơn nữa, khi có bệnh tật, kinh tế gia đình cũng bị sụt
giảm do giảm sức lao động. Pháp luật BHYT với bản chất nhân văn đã trở
thành công cụ hiệu quả chống lại đói nghèo và bệnh tật. Ở Việt Nam, khi
khoảng cách giàu nghèo còn khá xa và phần lớn dân số là nông dân với thu
nhập thấp và không ổn định, pháp luật BHYT là “cứu cánh” cho những gia
đình nghèo, người mắc các bệnh mãn tính, bệnh hiểm nghèo.
Ba là: Pháp luật BHYT có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát

BHYT
Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ sự ra đời và mục đích của an
sinh xã hội là vì con người với tư cách là thành viên của xã hội. An sinh xã
hội chỉ đạt được mục đích của mình khi bảo vệ được tất cả các thành viên
trong xã hội mà không có sự phân biệt theo tiêu chí nào. Công ước số 102 quy
phạm tối thiểu về an sinh xã hội ngày 28/6/1952 khẳng định vấn đề chăm sóc
y tế là một trong những nội dung quan trọng về quyền hưởng an sinh xã hội

18


của con người [14]. Trong phạm vi mỗi quốc gia, được chăm sóc, bảo vệ sức
khỏe là một trong những quyền cơ bản của công dân, được ghi nhận ở hầu hết
trong hiến pháp các nước. Ở nước ta, quyền được chăm sóc sức khỏe được
ghi nhận tại Điều 38, Hiến pháp 2013 như sau: “Mọi người có quyền được
bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và
có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh”.
Như vậy, quyền được hưởng chế độ BHYT là một nguyên tắc hiến định.
Nguyên tắc tham gia bắt buộc không chỉ giới hạn ở một số đối tượng mà tiêu
chí cần hướng tới là mở rộng độ bao phủ tới toàn bộ dân chúng, thực hiện
BHYT bắt buộc toàn dân. Thực hiện chế độ đóng BHYT bắt buộc có chức
năng hỗ trợ cho loại hình trợ cấp áp dụng đồng đều cho tất cả mọi người. Còn
chế độ tự nguyện mang tính bổ trợ và bước đệm để mở rộng chế độ bắt buộc,
mở rộng diện bao phủ tới toàn thể dân chúng.
- Nguyên tắc thứ hai: Nhà nước thống nhất quản lý về BHYT
Lịch sử ra đời của BHYT đã chứng minh một cách rõ nét nhất vai trò
của nhà nước trong hoạt động BHYT, không thể tồn tại hoạt động BHYT theo
đúng nguyên lý của nó nếu thiếu đi vai trò quản lý của nhà nước. Không có sự
can thiệp của nhà nước hoạt động BHYT chỉ là những phương thức bảo vệ
truyền thống mang tính tự phát, chỉ bao quát được một nhóm đối tượng nhất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status