Tiểu luận môn văn hóa kinh doanh đạo đức kinh doanh và vệ sinh an toàn thực phẩm của các doanh nghiệp ở việt nam hiện nay - Pdf 34

ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LY

TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: VĂN HÓA KINH DOANH
Đề tài: Đạo đức kinh doanh và vệ sinh an toàn thực phẩm của
các doanh nghiệp kinh doanh ở Việt Nam hiện nay
Giảng viên: TS. Vũ Quang
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 10
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10
.
11
.

Đào Thị Dịu
Đậu Xuân Đức
Đỗ Hoàng Hà
Nguyễn Thị Thu Hà
Vũ Minh Hiệp
Lương Văn Minh
Hồ Văn Nam
Nguyễn Văn Tỉnh


1


Hà Nội ,Tháng 2 - 2016

2


3


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính

cấp thiết của đề tài An toàn vệ sinh thực phẩm

là vấn đề đang được cả xã hội quan tâm, đặc biệt là ở đô thị và các khu công
nghiệp, khi ngày càng có nhiều tác nhân độc hại bị phát hiện trong thực
phẩm khiến dư luận lo ngại (gần đây nhất là melamine trong sữa, bột đá
trong kẹo, aldehyde trong rượu.. v.v).
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay và các
pháp bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.
Tìm hiểu về đạo đức kinh doanh ở các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay .
Mối quan hệ giữa đạo đức kinh doanh và vệ sinh an toàn thực phẩm .
3. Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm .

5


PHẦN NỘI DUNG
PHẦN 1: ĐẠO ĐỨC KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN
ĐẠO ĐỨC KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
I. Các khái niệm vai trò và đặc điểm của đạo đức kinh doanh
1. Khái niệm đạo đức kinh doanh
Đạo đức kinh doanh là tập hợp các nguyên tắc chuẩn mực có
tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi
của các chủ thế kinh doanh.
Đạo đức kinh doanh là phạm trù đạo đức được vận dụng trong
hoạt động kinh doanh. Đạo đức kinh doanh là một dạng đạo đức
nghề nghiệp.
Ferrels và John Fraedrich có một cách định nghĩa khác về đạo
đức kinh doanh,theo đó “đạo dức kinh doanh bao gồm những
nguyên tắc cơ bản và tiêu chuẩn điều chỉnh hành vi trong thế
giới kinh doanh. Tuy nhiên, việc đánh giá một hành vi cụ thể là
đúng hay sai, phù hợp với đạo đức hay không sẽ được quyết định
bởi nhà đầu tư, nhân viên, khách hàng các nhóm có quyền lợi liên
quan hệ thống pháp lý cũng như cộng đồng”. Theo định nghĩa
này, đạo đức kinh doanh có rất nhiều điểm chung với sự tuân thủ
6


2.

luật pháp, trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội. Những vấn
đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ về mặt đạo lý giữa

Gắn liền lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách
hàng và xã hội, xem trọng hiệu quả gắn với trách nhiệm xã
hội. bí mật và trung thành với các trách nhiệm đặc biệt.
7


3.

4.

Phạm vi áp dụng của đạo đức kinh doanh
Đó là tất cả các thể chế xã hôi, các tổ chức, những người liên
quan, tác động đến hoạt động kinh doanh:thể chế chỉnh phủ công
đoàn, nhà cung ứng khách hàng,cô đông, chủ doanh nghiệp,
người làm công. Chức năng của đạo đức là đạo đức điều chỉnh
hành vi của con người theo các quy chuẩn và quy phạm đaọ đức
đã được xa hội thừa nhận bằng sức mạnh của sự thôi thúc lương
tâm cá nhân, của dư luận xã hội, của tập quán truyền thống.
Hiệu quả của đạo đức kinh doanh trong kinh doanh.
4.1.
Gần Gũi và thấu hiểu khách hàng.
Để biết họ sẽ phản ứng như thế nào sẽ là công cụ hữu
hiệu khi doanh nghiệp muốn sản phẩm hay kế hoạch xúc
tiến kinh doanh trở lên hiệu quả hơn. Ngoài ra còn giải
quyết những phàn nàn của khách hàng một cách sáng tạo
cũng như một trong những cách phát hiện các ý tưởng về
sản phẩm hay dịch vụ cơ hội cải tiến .
4.2.
Chăm sóc khách hàng.
Là tất cả các việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu của

tin tưởng của khách hàng về chất lượng sẽ tác động trực
tiếp lên quyết định mua của khách hàng cững như sự
trung thành với nhãn hiệu. nó là cơ sở để doanh nghiệp mở
rộng nhãn hiệu trong cách lĩnh vực có liên quan.
4.6.
Tạo cho khách hàng có sự liên kết với sản phẩm với
nhãn hiệu.
Sự liên kết mạnh của nhãn hiệu là cơ sở cho việc mở rộng
nhãn hiệu như trà chanh Lipton có được lợi thế cạnh tranh
thông qua việc liên kết nhãn hiệu của Lipton. Nếu một
nhãn hiệu được định vị một cách vững chắc dựa vào thuộc
tính vững chắc của sản phẩm là rào cản đối với nhãn hiệu
khác muốn cạnh tranh.
Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội
5.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết của doanh
nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững thông
qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng
về giới , an toàn lao động, quyền lợi lao động , trả lương công
bằng đào tạo và phái triển cộng đồng… theo cách có lợi cho
các doanh nghiệp cũng như phát triển chung cho xã hôi.
5.2 Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội
• Khía cạnh kinh tế: là phải sản xuất hàng hóa sản
phẩm mà xã hội cần và muốn với một mức giá có thế
duy trì doanh nghiệp ấy và làm thỏa mãn nghĩa vụ
của doanh nghiệp với các nhà đầu tư, là tìm kiếm
nguồn cung ứng lao động, phát hiện nguồn tài
nguyên mới,thúc đẩy tiến bộ công nghệ, phát triển
sản phẩm: là phân phối các nguồn sản xuất như
hàng hóa dịch vụ như thế nào trong hệ thống xã hội.

Sứ mệnh của công ty FPT: “FPT mong muốn được
trở thành tổ chức kiểu mới, hùng mạnh, bằng nỗ lực,
lao động ,sáng tạo và công nghệ,góp phần hưng
thịnh quốc gia,tạo điều kiện cho tất cả phát triển tài
năng của mình, đem lại cho mỗi thành viên một cuộc
sống đầy đủ về vật chất và phong phú về tinh thần”
Khía cạnh nhân ái: là những hành vi hoạt động thể
hiện sự mong muốn đóng góp và hiến dâng cho cộng
đồng. ví dụ như tổ chức làm từ thiện và ủng hộ tổ
chức cộng đồng là những hình thức của lòng bác ái
và tinh thần tự nguyện của công ty.

Vai trò của đạo đức kinh doanh trong quản trị doanh
nghiệp.
• Đạo đức kinh doanh góp phần điều chỉnh hành vi của các
chủ thể kinh doanh
• Đạo đức kinh doanh góp phần vào chất lượng của doanh
nghiệp
• Đạo đức kinh doanh góp phần vào sự cam kết và tận tâm
của nhân viên
• Đạo đức kinh doanh góp phần làm hài lòng khách hàng
• Đạo đức kinh doanh góp phần tạo lợi nhuận cho daonh
nghiệp
10




Đạo đức kinh doanh góp phần vào sự vững mạnh của nền
kinh tế quốc gia

xử . Phân biệt đối xử là việc không cho phép của một người nào
đó được hưởng những lợi ích nhất định xuất phát từ định kiến
về phân biệt. Biểu hiện ở phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn
giáo, địa phương, vùng văn hoá, tuổi tác...
Phân biệt đối xử trong một số trường hợp cụ thể lại là cần thiết
và không hoàn toàn sai. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp
người quản lý dựa trên cơ sở phân biệt đối xử để tuyển dụng và
11


bổ nhiệm nhân sự. Nhà quản lý cần lưu ý trong tuyển dụng, bổ
nhiệm và sử dụng người lao động đó là phải tôn trọng quyền
riêng tư cá nhân của họ.
Một vấn đề đạo đức mà các nhà quản lý không thể xem nhẹ
trong tuyển dụng, bổ nhiệm và sử dụng người lao động đó là sử
dụng lao động, sử dụng chất xám của các chuyên gia nhưng
không đãi ngộ xứng đáng với công sức đóng góp của họ.
- Đạo đức trong đánh giá người lao động
Người quản lý đánh giá người lao động cần dựa trên sự công
bằng, và tôn trọng, không được dựa trên những cơ sở định kiến.
- Đạo đức trong bảo vệ người lao động
Cần tôn trọng nhân viên , bảo đảm điều kiện làm việc cho nhân
viên an toàn nhất .
Đạo đức trong Marketing
- Marketing và phong trào bảo hộ người tiêu dùng
Marketing là hoạt động lưu chuyển hàng hóa dịch vụ chảy từ
người sản xuất tới người tiêu dùng. Triết lý của marketing là
thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng nhờ đó tối đa hóa lợi
nhuận của doanh nghiệp, tối đa hóa lợi nhuận cho toàn xã hội.
Nguyên tắc chỉ đạo của marketing là tất cả các hoạt động

qua thông điệp không đúng về sản phẩm
Quảng cáo có hình thức khó coi, lố bịch
Quảng cáo nhằm vào những đối tượng nhạy cảm
+ Bán hàng phi đạo đức
Bán hàng lừa gạt
Bao gói và dán nhãn lừa gạt
Lôi kéo
Nhử và chuyển kênh
Bán hàng dưới chiêu bài nghiên cứu thị trường
+ Những thủ đoạn phi đạo đức trong quan hệ cạnh tranh với
đối thủ
Cố định giá cả
Phân chia thị trường
Bán phá giá
Đạo đức trong hoạt động kế toán, tài chính
Các kế toán viên cũng liên quan đến những vấn đề đạo đức
kinh doanh và phải đối mặt với các vấn đề như sự cạnh
tranh, số liệu vượt trội, các khoản khí không chính thức và

7.1.3.

13


tiền hoa hồng. Các áp lực đè lên kiểm toán là thời gian , phí
ngày càng giảm, những yêu cần của khách hành muốn có
những ý kiieens khác nhau về những điều kiện tài chính hay
mức thuế phải trả thấp hơn và sự cạnh tranh ngày càng khốc
liệt. Bởi những áp lực như thế này và những tính huống khó
khăn về vấn đề đạo đức do họ tạo ra nên nhiều công ty kiểm


7.2 Phương hướng và giải pháp xây dựng đạo đức kinh doanh
14


7.2.1 phương hướng xây dựng đạo đức kinh doanh





Quán triệt quan điểm của Đảng và đạo đức Hồ Chí Minh về
xây dựng đạo đức kinh doanh ở Việt Nam.
Kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân
tộc kết hợp với tiếp thu có chọn lọc các giá trị của nhân loại
trong quá trình xây dựng đạo đức kinh doanh
Xã hội công tác xây dựng đạo đức kinh doanh

7.2.2. giải pháp xây dựng đạo đức kinh doanh
Quán triệt quan điểm của Đảng và những tư tưởng cơ bản của
chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức , cùng với sự kế thừa những giá
trị đạo đức truyền thống, đặc biệt là những giá trị về đạo đức
kinh doanh tốt đẹp của dân tộc và sư xem xét có chọn lọc những
lý luận và thực tiễn lên quan đến vấn đề trên của thê giới và qua
những ví dụ thực tiễn, những số liệu thu thập được về những vấn
đề đạo đức kinh doanh ở nước ta hiện nay, dưới đây là một số đề
xuất nhằm xây dựng đạo đức kinh doanh trong điều kiện kinh tế
thị trường còn chưa hoàn chỉnh ở nước ta hiện nay.
• Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường
đích hướng xã hội chủ nghĩa nhằm xác lập cơ sở kinh tế vững

công ty:
1. Mục tiêu

Mục tiêu là những kết quả mà mỗi cá nhân hay tổ chức muốn đạt
được trong khoảng thời gian xác định
Mục tiêu tổng quát: Là mong muốn cuối cùng đạt được . Đó là
động cơ, quan điểm, triết lý đạo đức, sứ mệnh của công ty.
Mục tiêu tác nghiệp: Mong muốn cần đạt được sau một hoạt động
cụ thể để thệ hiện mục tiêu tổng quát
2. Biện pháp
Biện pháp chỉ các công cụ, các cách thức được sử dụng để hỗ trợ
cho việc thực hiện mục tiêu.
Lựa chọn biệp pháp là lựa chọn cách thức hành động và công cụ
hỗ trợ.
3. Động cơ
Động cơ là sức mạnh nội tại thôi thúc và hướng hành vi của con
người tới việc đạt được những mục tiêu nhất định, là nguyên nhân
gốc rễ của hành vi, thúc đẩy thể hiện qua thỏa mãn nhu cầu. Động
cơ bao gồm những giá trị riêng tư và tác phong lãnh đạo của một
số người để ra quyết định then chốt.
Động cơ thường gắn với bản chất quyết định , nên động cơ là yếu
tố ẩn khó tìm ra .
4. Hậu quả
Việc xây dựng mục tiêu, lựa chọn biện pháp thích hợp dưới sự chi
phối của các động cơ cuối cùng sẽ gây ra một hoặc nhiều hậu quả.
Tiên đoán trước hậu quả là bước cuối và quan trọng nhất của
algorithm đạo đức
16



tiêu?
Cổ đông?
Ban quản trị?

Mục tiêu về đạo đức?
Chúng có hài hòa không?
Khách hang?
Công nhân?

Tán thành ra sao?

Tán thành ra sao?

Hy sinh doanh lợi?

Xem nhẹ đạo đức?

Các biện pháp chọn lựa nào
?

Ý đồ nào?

Người khác có biết không
Chỉ với ban quản trị cao
cấp?
Không khoan nhượng

Công bố cho mọi người?
Với mọi đối tượng quan
tâm?

chất lượng hàng hóa. Vì cầu vượt quá cung, chất lượng phục vụ trong
mạng lưới cung cấp vô cùng thấp nhưng ít người dám than phiền. Vào
thời gian đó, các ngành công nghiệp của Việt Nam chưa phát triển, có rất
ít nhà sản xuất và hầu hết đều thuộc sở hữu nhà nước, nên không cần
quan tâm đến vấn đề thương hiệu hau sở hữu trí tuệ. Hầu hết lao động
đều làm việc cho nhà nước, nơi mà kỉ luật và chế độ lương thưởng đều
thống nhất và đơn giản. Tìm được việc làm trong cơ quan Nhà nước là
rất khó khăn nên không có chuyện đình công hay mâu thuẫn lao động.
Mọi hoạt động trong xã hội đều phải tuân thủ quy định của Nhà nước nên
những phạm trù trên là không cần thiết.
18


Tuy nhiên, kể từ khi Việt Nam tham gia quốc tế hóa, có nhiều phạm trù
mới được xuất hiện như: quyền sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, đìng
công, thị trường chứng khoán... và vì thế khái niệm đạo đức kinh doanh
trở nên phổ biến hơn trong xã hội. Qua kết quả phân tích các số liệu và
những tài liệu thu thập qua sách báo, chúng ta có thể rút ra được những
kết luận sau về thực trạng đạo đức kinh doanh doanh nghiệp ở Việt Nam.
2. Trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội
Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi tập trung vào 2 khía cạnh, trách nhiệm
của doanh nghiệp với chất lượng hàng hóa và vấn đề bảo vệ môi trường.
Câu hỏi thứ nhất:" Doanh nghiệp sẽ làm gì khi nhận được thông tin là có 1
số hàng hóa của mình bị kẻ xấu tráo đổi với những hàng kém chất lượng
mà bằng hình thức bên ngoài không có khả năng phân biệt được, có thể
gây tác hại cho người tiêu dùng?". Câu hỏi thứ hai:" Cho biết quan điểm
của bạn khi 1 công ty xuất khẩu sang thị trường EU nước tương có tỉ lệ
chất 3-MPCD nằm trong phạm vi cho phép của Luật Việt Nam, nhưng lại
vượt gấp nhiều lần tỉ lệ cho phép của EU?". Câu hỏi này dựa vào 1 sự kiện
có thật năm 2002, nước tương Chinsu đã bị Cơ quan kiểm nghiệm chất

này. Nhưng quan điểm của người được hỏi ở đây lại khá bao dung và ôn
hòa. Trả lời cho câu hỏi" Cho biết quan điểm của bạn về một công ty nước
ngoài đến lập nhà máy ở Việt Nam để lợi dụng sự lỏng lẻo trong những quy
định về môi trường ở Việt Nam?", chỉ có 75% cho là "Không thể chấp nhận
được, họ đã vi phạm đạo đức kinh doanh". Còn 25% cho là "Bình thường
thôi, kinh doanh cần biết tận dụng cơ hội". Kết quả này cho thấy thực tế là
vấn đề môi trường còn ít được quan tâm ở Việt Nam và người Việt Nam
còn quá lệ thuộc và luật pháp khi đánh giá về đạo đức của doanh nghiệp.
3.Nghĩa vụ và trách nhiệm về đạo đức của các doanh nghiệp đối với các
nhà đầu tư
Đây là vấn đề rất mới mẻ ở Việt Nam do thị trường chứng khoán Việt
Nam còn rất non trẻ(chưa đầy 10 tuổi) nên nhưng quy định về tính
trung thực trong báo cáo tài chính,công khai thông tin với các nhà đầu
tư của doanh nghiệp,… vẫn còn chưa chặt chẽ.vì vậy thời gian qua đã
xuất hiện hiện tượng các doanh nghiệp đưa ra những thông tin chưa
chính xác để trục lợi,gây lao đao cho nhà đầu tư.
Vụ việc nghiêm trọng đầu tiên là việc joint stock BIEN HOA
confectionary company(bibica) gian dối trong việc khai báo kết quả
kinh doanh năm 2002 và 6 tháng đầu năm 2003 .Bibica là 1 trong 21
công ty đăng kí lên sàn đầu tiên ở Việt Nam và là công ty niệm yết đầu
tiên trong ngành bánh kẹo. Vì vậy,các nhà đầu tư trong đợi rất nhiều
vào lợi nhuận của công ty sau khi niêm yết.Để nâng cao năng lực cạnh
tranh trên thị trường,thời gian này công ty đã đồng loạt triển khai các
dự án mới nhằm mở rộng sản xuất-kinh doanh,đầu tư phát triển các
sản phẩm mới,xây dựng nhà máy bánh kẹo biên hòa 2…nên số nợ ngân
hang gia tăng.Thêm vào đó,giá nguyên liệu đầu vào tăng nhanh,tình
hình nhân sự trong bộ phận tài chính kế toán có nhiều biến động đã
làm gia tăng thêm các khó khăn cho công ty.trước tình hình đó,công ty
20


tích chất thăm dò như chúng tôi đã thực hiện với các công ty chứng
khoán khác”,bức thu viết.”cho đến nay, đại diện của goldman sachs và
Thiên Việt mới chỉ gặp mặt trong các buổi gặp”thăm dò” như goldman
sachs với các công ty chứng khoán khác ở Việt Nam”.
Khi được hỏi về bản thỏa thuận hợp tác với chữ ký hai bên mà Thiên
Việt đã đưa ra cho các phương tiện thông tin đại chúng,ông Naylor nói
21


rằng Goldman sachs đôi khi ký thỏa thuận tương tự với các công ty
chứng khoán tư nhân khi tập đoàn đang tìm kiếp cơ hội kinh doanh ở
Việt Nam,để goldman sachs có thể thâm nhập được vào thị trường Việt
Nam.Thỏa thuận đó không thể được coi là bằng chứng về một sự liên
kết của hai công ty”
Thêm vào đó,ông Phạm Kim Luân cũng cho biết ông chưa hề kí hợp
đồng làm việ cho Thiên Việt.Vì vậy Thiên Việt đã bị phạt nặng bởi trung
tâm giao dịch chứng khoán HCM và ủy ban chứng khoán nhà nước vì
đưa ra thông tin không rõ rầng và không ngay thẳng.Người thiệt hại
nhiều nhất ở đây chính là các nhà đầu tư,những người đã bị thu hút
bởi những thông tin sai lệch mà ban Giám Đốc công ty Thiên Việt đã
đưa ra.
Những vụ Việc như vậy vẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào vì pháp luật
cũng như ý thức của các nhà kinh doanh Việt Nam về vấn đề này còn
chưa đầy đủ. Trong kinh doanh việc gặp khó khăn hay rủi ro là khá
thường xuyên.Khi gặp tình huống này,những công ty uy tín trên thế
giới thường chọn cách thông báo rộng rãi cho các cổ đông để kêu gọi
sự hợp tác của họ nhằm giúp công ty vợt qua khó khăn.Mặc dù tiềm ẩn
nhiều rủi ro nhưng cách này giúp công ty giữ được lòng tin của các nhà
đầu tư và thoát khỏi nhiều nguy cơ bị bỏ rơi khi thông tin bại lộ.Nhưng
trong cuộc điều tra của chúng tôi,để trả lời câu hỏi”Khi một dây truyền



dụng, đặc biệt là các độc tố vi nấm như anatoxin trong ngô, đậu,
lạc mốc... có thể gây ung thư gan. Vậy nên, cần đặt vấn đề vệ
sinh an toàn thực phẩm lên hàng đầu.
1.2Tầm quan trọng đối với kinh tế

-

-

Đối với Việt Nam cũng như các nước khác, lương thực, thực
phẩm là loại sản phẩm chiến lược, ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý
nghĩa chính trị, xã hội rất quan trọng. Để cạnh tranh trên thị
trường quôc tế, thực phẩm không những cần được sản xuất, chế
biến, bảo quản phòng tránh ô nhiễm các loại vi sinh vật mà còn
không được chứa các chất hóa học tổng hợp hay tự nhiên vượt
quá mức quy định cho phép của tiêu chuẩn quốc tế hoặc quốc
gia, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
Những thiệt hại khi không đảm bảo vệ sinh thực phẩm
Thiệt hại chính đối với cá nhân là chi phí khám bệnh, phục hồi sức khỏe,
chi phí do phải chăm sóc người bệnh, sự mất thu nhập cho việc nghỉ làm.
Đối với nhà sản xuất, đó là chi phí cho việc thu hồi, lưu giữ sản phẩm, hủy
hoặc loại bỏ sản phẩm, những thiệt hại do mất lợi nhuận o thông tin quảng
cáo… và thiệt hại lớn nhất là mất lòng tin của người tiêu dùng
Ngoài ra còn thiệt hại khác như phải trả phí điều tra, phân tích, kiểm tra
chất độc, giải quyết hậu quả.
Do vậy, vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đề phòng các
bệnh gây ra từ thực phẩm có ý nghĩa rất quan trọng trong thực
tế, sự phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sống của các


Thực trạng đáng ngại về VSATTP trên thế giới

VSATTP là tập hợp các điều kiện và biện pháp cần thiết để thực
phẩm không gây hại cho sức khỏe và tính mạng của con người.
Để đảm bảo chất lượng VSATTP thì tất cả các khâu trong chuỗi
bảo đảm chất lượng thực phẩm (từ khâu nuôi trồng, đánh bắt đế
sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh, sử dụng)
đều phải đạt vệ sinh và an toàn. Nếu bất kì khâu nào không đạt
yêu cầu thì nguy cơ ngộ độc thực phẩm đều có thể xảy ra. Trách
nhiệm bảo đảm chất lượng VSATTP là của tất cả mọi người
trong xã hội từ các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể đến các
nhà khoa học, các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh và đến cả
người tiêu dùng. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới
(WTO), hiện có hơn 400 các bệnh lấy truyền qua thực phẩm
không an toàn. VSATTP đã được đặt lên hàng đầu nghị trình tại
nhiều hội nghị y tế và sức khỏe cộng đồng toàn cầu, nhưng tình
hình gần như không được cải thiện bao nhiêu nhất là khi thế giới
liên tiếp xảy ra thiên tai và nước sạch ngày càng han khiếm. Khi
người dân không còn đủ miếng ăn thì việc kiểm tra chất lượng
những gì mà họ ăn đã trở thành điều khá xa. Theo như WTO
cung cấp, mỗi tháng Liên Hợp quốc nhận nhận được khoảng 200
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status