Mục lục
MỤC LỤC
1
Lời nói đầu
LỜI NÓI ĐẦU
Văn hóa kinh doanh là một bộ môn, nghành nghiên cứu khá mới mẻ ở nước ta. Do đó
sự hiểu biết nhìn nhận vai trò của văn hóa đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp vẫn không được biết đến và đánh giá cao. Ngay từ xa xưa, ông cha ta hay có
câu “ Phú quý sinh lễ nghĩa”, hay có thể hiểu văn hóa là sản phẩm của một nền kinh tế phát
triển, điều đó liệu có đúng ? và liệu văn hóa có vai trò tác động gì tới hoạt động sản xuất
kinh doanh hay không ?. Đó là những nội dung chính được trình bày trong bài tiểu luận này.
Với những hiểu biết của các thành viên trong nhóm, cũng như sự hướng dẫn giảng dạy
của thầy….trên lớp. Nhóm 6 với nhiệm vụ được giao: “Phân tích mối quan hệ giữa văn
hóa kinh doanh và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Sẽ đi sâu và phân
tích với các nội dung:
- Chương 1. Thế nào là kinh doanh có văn hóa.
- Chương 2. Tác động của văn hóa kinh doanh tới hiệu quả sản xuất.
- Chương 3. Thực trạng văn hóa kinh doanh tại Việt Nam và giải pháp.
- Kết luận.
Vì đề tài có nội dung rất rộng và khá khó, kiến thức còn hạn hẹp, vì vậy bài tiểu luận sẽ
được trình bày với những nội dung là đơn giản và cơ bản nhất. Bài làm cũng sẽ còn nhiều
thiếu xót cũng như những chỗ chưa đúng, phân tích chưa được rõ ràng, chúng em rất mong
được những ý kiến đóng góp kịp thời của thầy hướng dẫn để hoàn thành đề tài một cách tốt
nhất.
Chúng em xin trân thành cám ơn!
Thực hiện:
Tuân thủ “đúng” theo pháp luật là yếu tố đầu tiên thể hiện việc kinh doanh có văn hóa.
Pháp luật có vai trò điều chỉnh hoạt động kinh doanh, buộc người kinh doanh phải trung
thực và hợp tác khi giao kết hợp đồng, người quản lý công ty phải thực hiện các quyền và
nhiệm vụ được giao một cách trung thực, mẫn cán vì lợi ích công ty và cổ đông của công ty.
Pháp luật cũng yêu cầu người sử dụng lao động phải đối xử công bằng và không phân biệt
giữa những người lao động trong doanh nghiệp... Việc tuân thủ pháp luật là yếu tố tạo nên
3
Chương 1. Thế nào là kinh doanh có văn hóa
uy tín lâu dài của doanh nghiệp trên thương trường, bảo đảm cho doanh nghiệp tồn tại và
phát triển ổn định.
Ví dụ: Ngày 22/12/2011, Báo Nhà báo và Công luận có đăng bài “Ngang nhiên thách
thức pháp luật” phản ánh về việc siêu thị điện máy Việt Long đang làm ăn yên ổn bỗng lâm
vào cảnh bất an, bị đào hố, đắp tường ngăn lối vào, bị cắt điện, uy hiếp tinh thần...,
Theo hồ sơ mà Báo Nhà báo và Công luận có được, sau khi bán 75% cổ phần tòa nhà
thương mại số 8, Quang Trung, Hà Đông cho Công ty Sơn Hà (nhưng chưa hoàn tất việc
chuyển đổi tư cách pháp nhân) nên Công ty CPĐT&KD TM Vinaconex đã liên tục có công
văn gửi công ty điện máy Việt Long đòi công ty này bàn giao mặt bằng (nơi siêu thị điện
máy đang hoạt động). Do trái với hợp đồng thuê mặt bằng đã ký trước đó nên Công ty điện
máy Việt Long kiên quyết phản đối. Theo đơn kêu cứu và tố cáo của phía Việt Long, Công
ty Vinaconex-Sơn Hà có chủ đích “đánh bật” Việt Long ra khỏi tòa nhà thương mại số 8
Quang Trung, quận Hà Đông nên đã làm đủ các thủ đoạn, việc làm vi phạm pháp luật như
cắt điện, đào hố, đắp tường bịt lối vào, uy hiếp tinh thần Việt Long.
Trong kinh doanh, việc tranh chấp, mâu thuẫn là không thể tránh khỏi nhưng đều phải
tuân thủ pháp luật cũng như đạo đức kinh doanh, không nên làm những việc làm “trái tai, gai
mắt” gây bức xúc dư luận, tạo phản cảm. Đã sai thì nên sửa.
1.2.2. Đảm bảo đủ về số lượng
Không chỉ đảm bảo đủ chất lượng, doanh nghiệp cũng cần đảm bảo đủ số lượng trong
trọng nhất của doanh nghiệp.
Nâng cao chất lượng sản phẩm nghĩa là tăng tính năng sử dụng, tuổi thọ, độ an toàn
của sản phẩm, giảm mức gây ô nhiễm môi trường, tiết kiệm được nguồn tài nguyên, tăng giá
trị sử dụng trên một sản phẩm đầu ra. Nhờ đó tăng khả năng tích luỹ cho tái sản xuất, hiện
đại hoá công nghệ, máy móc thiết bị, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật. Nâng cao chất
lượng sản phẩm còn đồng nghĩa với tính hữu ích của sản phẩm, thoả mãn nhu cầu người tiêu
dùng đồng thời giảm chi phí đi một đơn vị sản phẩm nhờ hoàn thiện quá trình đổi mới, cải
tiến hoạt động, tối thiểu hoá lãng phí, phế phẩm hoặc sản phẩm phải sửa chữa vì vậy mà lợi
nhuận được tăng cao. Nếu như sản phẩm/ dịch vụ của doanh nghiệp không đạt đến các tiêu
chuẩn đã đề ra hoặc chất lượng của nó không làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thì sản
phẩm/ dịch vụ đó sẽ không thể tồn tại trên thị trường.
Nhờ có chất lượng sản phẩm, dịch vụ cao mà uy tín của doanh nghiệp được nâng lên,
không những giữ được những khách hàng quen thuộc mà còn thu hút được những khách
hàng tiềm năng mới. Kết quả là thị phần doanh nghiệp ngày càng được mở rộng, tạo cơ sở
lâu dài cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Ví dụ: Tình trạng phân bón làm bằng bột gạch, đá, đất sét, bột cao lanh rồi gắn nhãn
mác nhập khẩu; sản xuất một nơi, xuất hóa đơn bán một nẻo; dùng thử thì tốt, dùng đại trà
thì kém… đang gây thiệt hại lớn cho nông dân và cả nền kinh tế.
5
Chương 1. Thế nào là kinh doanh có văn hóa
Theo Hiệp hội Phân bón Việt Nam, thị trường hiện có 6 mô hình sản xuất, kinh doanh,
tiêu thụ phân bón giả, kém chất lượng, nhái nhãn mác. Đó là các cơ sở nhỏ lẻ trong nước sản
xuất phân bón có hàm lượng dinh dưỡng thấp, chỉ có 2,99%, rồi nhái nhãn mác của các công
ty có thương hiệu lớn, ghi hàm lượng dinh dưỡng 53%; lấy phân urê bột pha vào nước và lừa
bán cho nông dân là phân bón nước đậm đặc; sản xuất phân bón toàn bột gạch, bột đá, đất
sét, bột cao lanh rồi gắn nhãn mác phân bón nhập khẩu; phân bón sản xuất một nơi, xuất hóa
đơn bán một nẻo (sản xuất ở TP Cần Thơ nhưng xuất hóa đơn ở tỉnh Vĩnh Long); tổ chức
hội thảo mời nông dân đến tuyên truyền về phân bón đặc hiệu, mua dùng thử thì tốt nhưng
phẩm khác nhau . VD: “Prudential, luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu” ,”Viettel, hãy
nói theo cách của bạn”, “SaiGon Beer, có thể bạn không cao nhưng người khác cũng phải
ngước nhìn”, …. Chúng ta có thể thấy rằng quảng cáo là một phương thức rất hữu hiệu để
đưa hình ảnh của sản phẩm đến người tiêu dùng. Nếu như quảng cáo tốt kết hợp với chiến
lược marketing hợp lí và thông minh sẽ tạo nên một hiệu ứng rất tốt và góp phần giúp cho
việc lưu thông hàng hóa trở nên thuận tiện, hiệu quả, từ đó sẽ tạo ra nguồn lợi nhuận cho
công ty, tổ chức.Có một thực trạng xảy ra trong quảng cáo và marketing đó là vấn đề chất
lượng và công năng của sản phẩm thường được phóng đại hơn so với những gì khách hàng
cảm nhận về sản phẩm qua quá trình sử dụng trong thực tế, tất nhiên đó là một chiến lược
cực kì quan trọng trong marketing vì thông qua việc nâng cao hình ảnh, phóng đại sự vật sẽ
giúp cho sản phẩm có ấn tượng mạnh hơn trong mắt người tiêu dùng, không thể có chuyện
khách hàng uống một chai C2 mà ngay sau đó mở mắt ra đã thấy mình đứng trước một bờ
biển, nhưng thông qua đó chúng ta ngầm hiểu được thông điệp của đoạn quảng cáo đó là tác
dụng giải khát tức thời của C2 giúp người uống sảng khoái,.... Tuy nhiên có một số những
đoạn quảng cáo hay là những chiến lượn marketing mà nó đi quá giới hạn của việc cường
điệu hay phóng đại đó chính là marketing và quảng cáo sai sự thật, một sản phẩm thuốc có
thể công dụng của chúng là để chữa một căn bệnh nhất định nào đó những nếu quảng cáo
thổi phồng nó lên như một loại tiên dược chữa bách bệnh thì chắc chắn đó là một quảng cáo
sai sự thật vì hiện nay chưa có loại thuốc nào có thể chữa bách bệnh được như vậy,... Và nếu
như khách hàng tìm đến sản phẩm của chúng ta nhằm một mục đích sử dụng nào đó thông
qua quảng cáo nhưng trong quá trình sử dụng thì sản phẩm đó không đáp ứng đúng mục đích
sử dụng của họ thì đương nhiên khách hàng sẽ không cảm thấy hài lòng với sản phẩm, ở
mức độ nhẹ sẽ là tìm đến sản phẩm khác, công ty mất khách hàng tiêu dùng, ở mức độ khác
thì họ sẽ có thành kiến với sản phẩm, ở một mức độ nặng hơn đó là tẩy chay, lên án vì hành
vi marketing, quảng cáo sai sự thật.
d. Một vài ví dụ thực tế:
VD1:Vào tháng 11/2012, nhà sản xuất 7Up đã phải hầu tòa vì quảng cáo sai sự thật,
gây hiểu lầm cho người tiêu dùng về lợi ích sức khỏe của sản phẩm. Trên các chai 7Up đều
khẳng định sản phẩm có chứa chất chống oxy hóa chiết xuất từ thiên nhiên như quả mâm
xôi, quả anh đào, lựu và nam việt quất, nhưng theo kết quả của các nghiên cứu của CPSI
hoàn toàn kết tinh từ nước hầm xương, thịt như các lời quảng cáo: “100% từ nước hầm
xương”, “ngon từ thịt, ngọt từ xương”, “tốt hơn cho sức khỏe”… mà có chứa rất nhiều bột
ngọt.
Ở Việt Nam ta hiện nay thì vẫn chưa thực sự siết mạnh việc kiểm tra đánh giá nội dung
của các chiến lược marketing hay quảng cáo, dẫn đến bên cạnh những chiến lược tốt còn có
những trường hợp quảng cáo sai sự thật, dẫn đến việc bất an trong tâm lí người mua hàng,
8
Chương 1. Thế nào là kinh doanh có văn hóa
trong tương lai nên có những bộ luật cũng như điều khoản để siết chặt cũng như kiểm soát
tốt nội dung quảng cáo và marketing tại Việt Nam.
1.2.5. Đảm bảo cung cấp đầy đủ về thông tin, dịch vụ chăm sóc và tư vấn khách hàng.
Chăm sóc khách hàng, dịch vụ sống còn của doanh nghiệp. Quan niệm về dịch vụ
khách hàng của mỗi doanh nghiệp là không giống nhau, và sẽ phản ánh mối quan hệ của một
doanh nghiệp với khách hàng. Nếu chỉ nghĩ dịch vụ khách hàng đơn thuần là việc cung cấp
những gì khách hàng yêu cầu, chắc chắn chủ doanh nghiệp sẽ gặp phải những khó khăn
trong việc làm hài lòng những khách hàng khó tính.
Tuy nhiên, nếu có cách hiểu rộng hơn về ý nghĩa của dịch vụ khách hàng, là việc tạo
cho khách hàng sự hài lòng, đáp ứng những nhu cầu khó nắm bắt hơn, đồng thời xây dựng
một “dịch vụ khách hàng” ngay trong nội bộ công ty thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ có ưu
thế hơn đối thủ của mình trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc khách hàng. Khi khách hàng
tiếp xúc và làm việc với các nhân viên trong doanh nghiệp, thực chất họ đang có những đánh
giá nhất định hay đang cho điểm chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp, thể hiện qua 6 điểm
cơ bản sau:
- Sự thân thiện của nhân viên
- Thấu hiểu, cảm thông và luôn lắng nghe nhu cầu của khách hàng
- Nhận được sự đối xử công bằng
- Được đặt ở vị trí trung tâm trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Được cung cấp thông tin về sản phẩm, chính sách, thủ tục,…
khách hàng bên ngoài của công ty một cách hiệu quả, thống nhất.
VD1: Ấn tượng với cách chăm sóc khách hàng đẳng cấp của MobiFone.
Mời khách hàng nghe hòa nhạc, tặng hoa cho thuê bao nữ nhân ngày 8/3, mời khách
nghỉ dưỡng ở khách sạn, resort cao cấp với giá chỉ 500.000/ đêm nghỉ. MobiFone là mạng di
động đang đứng đầu về chăm sóc khách hàng đẳng cấp so với các mạng di động hiện nay.
Nếu tính trên doanh thu bình quân trên mỗi thuê bao hiện nay, MobiFone đang là mạng
có chỉ số cao nhất trên thị trường di động. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế,
MobiFone là mạng di động đầu tiên tại Việt Nam và hầu hết các đại gia tại Việt Nam đều là
những người sử dụng điện thoại di động đầu tiên tại Việt Nam. Bên cạnh đó, phần lớn những
doanh nhân thành đạt danh tiếng là người phía Nam mà đây lại là thị trường trọng điểm của
MobiFone nên việc khách hàng của MobiFone chiếm ưu thế trong doanh thu bình quân trên
mỗi thuê bao là điều dễ hiểu. Thông thường những đối tượng khách hàng lâu năm có cước
phí cao cũng sẽ đòi hỏi nhà mạng phải phục vụ mình tốt hơn. Vì vậy, những thuê bao này
10
Chương 1. Thế nào là kinh doanh có văn hóa
luôn được MobiFone chăm sóc với nhiều chương trình ấn tượng để họ gắn bó với mạng di
động này.
Thực tế thì không chỉ có MobiFone, các mạng di động khác cũng tung ra nhiều chương
trình chăm sóc khách hàng tốt, đặc biệt là khách hàng thân thiết. Tuy nhiên, trong nhiều năm
qua, những chương trình chăm sóc khách hàng của MobiFone thường gây ấn tượng bởi đẳng
cấp và sự khác biệt.
Hàng năm MobiFone cũng dành tặng chương trình hòa nhạc sang trọng mang tên
“MobiFone Concert” cho khách hàng MobiGold. Tâm điểm của chương trình là phần trình
diễn của dàn nhạc giao hưởng nổi tiếng thế giới và các nghê nghệ sỹ tài năng của Việt Nam.
Cùng với các chương trình chăm sóc khách trên, MobiFone cũng là mạng di động đi
đầu trong việc chăm sóc khách hàng nữ với nhiều chương trình hấp dẫn. Năm 2012,
Nam có phòng mang tên chăm sóc khách hàng. Giải thích về việc thành lập phòng chăm sóc
khách hàng từ thời kỳ còn độc quyền, đại diện của MobiFone cho biết, MobiFone thành lập
phòng chăm sóc khách hàng với định hướng sẽ cung cấp dịch vụ thông tin di động theo các
tiêu chuẩn quốc tế. Còn theo đánh giá của các chuyên gia về viễn thông, yếu tố "Tây"
(Comvik) trong MobiFone là một nhân tố quan trọng giúp mạng di động này có văn hóa
phục vụ khách hàng với tiêu chuẩn cao ngay từ những ngày đầu tiên. Đây là điểm làm
MobiFone khá khác biệt so với các mạng di động lớn còn lại.
Ví dụ trên cho thấy nếu sản phẩm tốt, kết hợp với dịch vụ chăm sóc khách hàng chu
đáo, nhiệt tình, đánh được vào tâm lí và nhu cầu của người mua hàng thì không những doanh
nghiệp , tổ chức đó bán được hàng, thu về lợi nhuận mà họ sẽ phát triển thêm được một
nguồn khách hàng trung thành lớn, tạo ra niềm tin ,uy tín từ xã hội, nâng cao chất lượng, giá
trị của thương hiệu của doanh nghiệp, tổ chức của họ
Đối với khách hàng, vấn đề được đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ về dịch vụ chăm
sóc khách hàng là một vấn đề mà bất cứ người mua hàng nào cũng đều quan tâm đặc biệt
đến. Ngày hôm nay khi họ đã quyết đinh bỏ 1 số tiền ra để mua 1 chiếc điện thoại, laptop
hay xe máy, ô tô,... thì ngoài việc đựoc kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua, khuyến
mại, giảm giá, … thì yếu tố người tiêu dùng quan tâm nhất đó là dịch vụ chăm sóc khách
hàng ra sao, ai giúp đỡ họ khi cần tìm hiểu thêm thông tin về sản phẩm, khi sản phẩm có vấn
đề thì bộ phận nào sẽ là nơi giải quyết,... nếu như chúng ta đảm bảo đủ việc cung cấp thông
tin cho khách hàng thì họ sẽ có 1 niềm tin rất lớn vào doanh nghiệp, tin tưởng rằng doanh
nghiệp sẽ tạo điều kiện tốt nhất để cho họ được sử dụng sản phẩm thì họ quyết định mua sản
phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp đó là điều tất yếu, điều đó cũng góp phần tạo nên sự thúc
đẩy về doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp, tổ chức.
VD2: Hành vi ứng xử của bộ phận chăm sóc khách hàng của công ty TNHH Thiên
Ngọc Minh Uy.
Như chúng ta đã biết, công ty TNHH Thiên Ngọc Minh Uy là một công ty kinh doanh
sản phẩm hàng tiêu dùng tiêu biểu như : nồi cơm điện, máy lọc nước, áo ngực,.. phương
thức kinh doanh họ áp dụng đối với doanh nghiệp là hình thức kinh doanh đa cấp, chưa bàn
12
Bất kể ai làm kinh tế chúng ta đều biết bên cạnh chất lượng sản phẩm, cơ sở hạ tầng,
thương hiệu,... thì dịch vụ khách hàng là một trong những công cụ hữu hiệu để tạo nên ưu
thế cạnh tranh cho một doanh nghiệp. Có những công ty vừa và nhỏ, tuy tên tuổi, cơ sở, điều
kiện không thể so sánh được với các thương hiệu lớn
13
Chương 1. Thế nào là kinh doanh có văn hóa
khác nhưng bằng cách khéo léo xây dựng cho mình một dịch vụ chăm sóc khách hàng
tốt họ đã tạo nên một lượng khách hàng tiềm năng và trung thành gắn bó với công ty, sử
dụng sản phẩm, điều đó tạo ra cho các công ty đó nguồn tiêu thụ sản phẩm ổn định, tạo nên
lợi nhuận cho công ty, số lượng khách hàng trung thành ngày càng tăng. Rõ ràng không thể
phủ nhận vai trò của bộ phận chăm sóc khách hàng trong chiến lược xây dựng và phát triển
của mỗi doanh nghiệp, dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt là dịch vụ xây dựng dựa trên tiêu
chí đáp ứng tất cả nhu cầu, thắc mắc, khó khăn của khách hàng trong vấn đề sử dụng sản
phẩm , từ đó tạo nên sự hiểu biết, hài lòng, an tâm của khách hàng đối với hàng hóa. Và một
điều cực kì quan trọng trong chăm sóc khách hàng đó chính là việc đảm bảo cung cấp đầy đủ
thông tin về các loại hình dịch vụ cho khách hàng trong qua trình họ sử dụng hàng hóa,
thông tin tốt, khách hàng nắm bắt được, họ sẽ hài lòng, yên tâm sử dụng sản phẩm, sự tín
nhiệm đối với công ty được đẩy lên cao, công ty xây dựng được cho mình mạng lưới khách
hàng trung thành ngày càng gia tăng. Thông tin không đầy đủ, mập mờ sẽ dẫn tới việc khách
hàng băn khoăn ,hồ nghi, không thoải mái trong việc sử dụng sản phẩm, dẫn tới việc công ty
không gia tăng được số lượng khách hàng trung thành, từ đó lợi nhuận sẽ giảm. Vì vậy dịch
vụ chăm sóc khách hàng là sống còn đối với mỗi công ty nên việc đảm bảo cung cấp đầy đủ
thông tin cho khách hàng là việc tối quan trọng mà mỗi tổ chức cần phải làm tốt để phát
triển uy tín cũng như thương hiệu sản phẩm của mình.
1.3. Hoạt động sản xuất kinh doanh thiếu văn hóa
Đất nước đang trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh công thương nghiệp và
chú trọng đến đầu tư lâu dài, việc giữ chữ tín đối với khách hàng… Nhưng khi đã bước qua
giai đoạn khó khăn ban đầu thì các nguồn đầu tư lâu dài như nhân lực, công nghệ … sẻ phát
huy tác dụng và chủ thể kinh doanh sẻ có những bước phát triển ổn định lâu dài và bền
vững, được xã hội chấp nhận.
15
Chương 2. Tác động của văn hóa kinh doanh tới hiệu quả sản xuất
CHƯƠNG 2. TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA KINH DOANH TỚI
HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
2.1. Tác động của văn hóa tới kinh doanh
2.1.1. Khi hoạt động kinh doanh có văn hóa
Văn hóa của doanh nghiệp: Nó là chất keo kết dính các thành viên trong doanh nghiệp
lại với nhau. Nó bao gồm giá trị của một tổ chức, những chuẩn mực về hành vi, những chính
sách, quy định của tổ chức đó. Vậy một doanh nghiệp như thế nào là kinh doanh có văn hóa!
Kinh doanh có văn hóa được thể hiện ở các yếu tố:
- Tạo dựng được thương hiệu hình ảnh: Xây dựng được triết lý kinh doanh và thực hiện
điều đó bằng việc kinh doanh có đạo đức, có trách nhiệm xã hội, sản xuất dựa trên nhu cầu
và sức khỏe của người tiêu dùng, đặt chất lượng sản phẩm hàng đầu, tuân thủ đúng luật kinh
doanh và các quy định xã hội
- Nội bộ đoàn kết, đội ngũ có trình độ chất lượng: Một trong những yếu tố quyết định
thành công trong kinh doanh là doanh nghiệp sở hữu một đội ngũ cán bộ chất lượng, đoàn
kết,biết hỗ trợ lẫn nhau, xây dựng các tổ chức công đoàn, đảng bộ trong doanh nghiệp. Bên
cạnh đó tích cực tổ chức các hoạt động ngoại khóa, văn nghệ, thể thao… tăng tính sáng tạo
và đoàn kết của nhân viên
- Tăng uy tín về sản phẩm với các đối tác: Một sản phẩm chất lượng không những tạo
dựng được hình ảnh, thương hiệu trong mắt người tiêu dùng, mà nó còn góp phần xây dựng
uy tín của doanh nghiệp với các đối tác, nhà đầu tư.Một doanh nghiệp uy tín bao gồm: kinh
thái, yếu tố văn hoá.
b. Hoạt động kinh doanh không văn hóa và ảnh hưởng tiêu cực của nó
- Ảnh hưởng xấu tới hình ảnh của công ty: Sản xuất hàng giả, hàng nhái nhãn mác,
hàng kém chất lượng, kém phẩm chất, Nhiều doanh nghiệp trốn lậu thuế, nợ đọng vốn, khai
gian thu nhập để chiếm đoạt thuế VAT ,nấp bóng lợi dụng những nhãn hiệu có uy tín trên thị
trường và tìm cách trà trộn với hàng thật, hàng có chất lượng tốt để tiêu thụ, lừa bịp người
tiêu dùng …sớm hay muộn thì cũng bị người tiêu dùng , các cơ quan có thẩm quyền phát
hiện và xử lý. Như vậy hình ảnh của doanh nghiệp với xã hội gần như là mất hoàn toàn,cái
mà các doanh nghiệp làm ăn có văn hóa phải mất nhiều năm mới có thể xây dựng được.
Doanh nghiệp đó khó có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình tiếp tục bình thường,
ngoài ra còn phải đối mặt với trách nhiệm xã hội , sự truy tố của pháp luật…
17
Chương 2. Tác động của văn hóa kinh doanh tới hiệu quả sản xuất
- Quản trị nhân lực là một trong yếu tố quyết định đến sự thành công của một doanh
nghiệp, 1 doanh nghiệp mà thiếu quan tâm đến đời sống của công nhân viên như nợ lương,
không đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế...vì lợi nhuận không chú ý tới tính an toàn trong
lao động, sức khoẻ của đời sống nhân dân lao động, để ngày càng nhiều người mắc các căn
bệnh độc hại dẫn tới:
+ Trong nội bộ doanh nghiệp :Mất niềm tin của cán bộ công nhân viên, người lao
động trong doanh nghiệp, ảnh hưởng đến tinh thần cũng như thái độ làm việc và hệ quả tất
yếu là năng suất làm việc rất thấpảnh hưởng trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh cũng
như chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
+ Ngoài doanh nghiệp: Khó có thể tuyển dụng được các nhân viên có trình độ và kỹ
thuật cao về đầu quân , với chính sách đãi ngộ như vậy doanh nghiệp đó khó có thể có một
lực lượng người lao động có chuyên môn và kỹ thuật cao mà yếu tố đó lại là yếu tố quyết
định , tạo sự khác biệt giữa các doanh nghiệp với nhau về mặt lâu dài doanh nghiệp đó khó
có cơ hội phát triển
biệt giữa các doanh nghiệp trong cùng một quốc gia và từng nền văn hóa khác nhau. Văn
hóa doanh nghiệp là tài sản vô hình và vô giá của mỗi doanh nghiệp. Trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa thì việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết, nhưng cũng
không ít khó khăn.
3.1. Thực trạng văn hóa kinh doanh tại Việt Nam
a. Về mặt tích cực:
- Đặc điểm nổi bật của văn hóa dân tộc là coi trọng tư tưởng nhân bản, chuộng sự hài
hoà, tinh thần cầu thực, ý chí phấn đấu tự lực, tự cường… đây là những ưu thế để xây dựng
văn hóa doanh nghiệp mang bản sắc Việt Nam trong thời hiện đại.
- Cùng với sự thay đổi nhanh chóng của kinh tế thế giới, nhất là khi Việt Nam đã chính
thức trở thành thành viên của WTO, việc quản lý kinh doanh 1 số doanh nghiệp đã tổ chức
lại trên các phương diện và giải quyết hài hòa các mối quan hệ trong kinh doanh.
- Hiện nay, không ít doanh nghiệp Việt Nam đã trưởng thành, trụ vững và phát triển
mạnh mẽ, mà nguyên nhân sâu xa chính là do các doanh nghiệp này đã và đang coi trọng
xây dựng văn hóa kinh doanh cho mình. Thu hút chất xám, phát huy tinh thần sáng tạo, khả
năng tổ chức và lãnh đạo từ nguồn lao động dồi dào, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh,
hiệu quả…
b. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực còn tồn tại rất nhiều mặt tiêu cực, cụ thể:
- Nhìn chung, văn hóa công sở và văn hoá doanh nghiệp của nước ta còn có những mặt hạn chế
nhất định. Đó là một nền văn hóa được xây dựng trên nền tảng dân trí thấp, môi trường làm việc có
nhiều bất cập, dẫn đến có những cái nhìn ngắn hạn, chưa có quan niệm đúng đắn về cạnh tranh và hợp
20
Chương 3. Thực trạng văn hóa kinh doanh tại Việt Nam và giải pháp
tác, chưa có tính chuyên nghiệp, còn bị ảnh hưởng bởi các tàn dư của nền kinh tế bao cấp, chưa có cơ
chế dùng người thỏa đáng với từng vị trí làm việc, có sự bất cập trong giáo dục và đào tạo.
- Sự thiếu chung thực, thái độ tôn trọng cuộc sống, tôn trọng người khác. Đó là những
điều mà một doanh nghiệp, một doanh nhân, thậm chí là những con buôn, những tiểu thương
không thể thiếu.
Tình trạng làm hàng giả và thiếu trung thực trong các hoạt động sản xuất kinh doanh ở
các doanh nghiệp của chúng ta còn nhiều. Vào khoảng đầu tháng 6 năm 2013 thị trường Gas
ở Thành Phố Hồ Chí Minh có giá cao, do đó nhiều cửa hàng bán lẻ đã nghĩ đến hình thức
san chiết ga để kiếm lời như sau: Họ tìm mua loại bình Gas 40kg đến 50kg với mức giá rẻ
hơn là 1500đ/kg rồi chiết sang các bình nhỏ loại 12kg và 13kg. Mỗi bình ga triết sang đều
thiếu khoảng 1kg, gây thiệt hại về tiên bạc và nguy cơ xâm hại tới sức khỏe người tiêu dùng.
Với cách kinh doanh như vậy dõ dàng là không hề có văn hóa.
3.3. Các giải pháp khắc phục
3.3.1. Giải pháp của nhà nước
- Một là, đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính để tạo ra sự dân chủ, công khai và
cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Hai là, xác lập các tiêu chí để xây dựng khung kiến thức cơ bản cho mọi người, theo
đó thường xuyên xem xét lại những điểm mạnh, điểm yếu khi đánh giá về văn hoá doanh
nghiệp để tuyên truyền, nhắc nhở mọi người về trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi cá nhân
trong cộng đồng và trong mỗi doanh nghiệp.
- Ba là, tập trung nâng cao vị trí vai trò của các Hiệp hội doanh nghiệp để qua đó giúp
đỡ các doanh nghiệp mới, doanh nghiệp còn yếu, còn trong việc đào tạo nguồn nhân lực,
cung cấp thông tin về những vấn đề liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp để không
ngừng tạo cơ hội cho doanh nghiệp phát triển.
- Bốn là, xây dựng chiến lược đầu tư cho con người để phát huy tài năng và sức sáng
tạo lao động của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
- Năm là, tích cực tuyên truyền, phổ biến các kiến thức pháp luật và kiến thức chuyên
ngành cho tất cả mọi thành viên trong doanh nghiệp.
- Sáu là, tổ chức các cuộc thi, giao lưu văn hoá và tìm hiểu biết pháp luật giữa các
thành viên của các doanh nghiệp.
hơn. Vai trò của yếu tố văn hóa trong kinh doanh hết sức quan trọng, trong việc thúc đấy sự phát triển kinh tế của xã
hội, đất nước.
24
Tài liệu kham khảo
TÀI LIỆU KHAM KHẢO
[1] PGS. TS. Dương Thị Liễu, Giáo trình VĂN HÓA KINH DOANH, nhà xuất bản ĐẠI
HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN, năm 2010.
[2] http://luanvan.net.vn/luan-van/tieu-luan-van-hoa-va-vai-tro-cua-van-hoa-trong-kinhdoanh-6527/, Tiểu luận văn hóa và vai trò của văn hóa trong kinh doanh, 22-9-2013.
[3] http://lc.vietinbank.vn/sites/home/discuss/10020309.html, Văn hóa kinh doanh: 11.
Khái niệm và bản chất của văn hóa, 22-9-2013.
[4]
Các nguồn vài tài liệu khác trên internet.
25