PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bắt đầu từ nửa sau thế kỉ XX, quá trình phát triển của nhân loại đã chuyển
biến theo hướng mới, tạo cơ hội cho các quốc gia đang phát triển nhất là các
quốc gia châu Á đã có những bước phát triển mang tính nhảy vọt, trong đó có
Việt Nam. Để vững bước trong quá trình hội nhập với kinh tế, phục vụ cho mục
tiêu phát triển bền vững của Đảng và nhà nước thì yếu tố tiên quyết là yếu tố về
con người. Nhằm phát triển tiềm năng của đất nước, phục vụ những mục tiêu
trước mắt và lâu dài, đòi hỏi đất nước ta phải có những người lao động vừa giỏi
về chuyên môn, vững vàng về đạo đức, văn minh trong lỗi sống. Nhiệm vụ này
thuộc về nền giáo dục của nước nhà. Vậy có thể nói, công cuộc đổi mới đất
nước hiện nay đòi hỏi giáo dục cơ sở phải đào tạo những con người phát triển
toàn diện, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mỗi môn học ở nhà
trường với đặc trưng của mình đều phải góp phần đào tạo thế hệ trẻ, trong đó có
Lịch sử.
Những kiến thức lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc từ cổ đến kim đều có tác
động không chỉ đến trí tuệ mà cả trái tim học sinh. Nhân vật lịch sử, sự kiện lịch
sử trong quá khứ sẽ khơi dạy trong học sinh những tư tưởng tình cảm đúng đắn,
mà những tư tưởng tình cảm này là hành trang tối cần thiết cho thế hệ trẻ trong
điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới. Song muốn phát huy tốt chức năng,
nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử trong việc giáo dục học sinh cần nâng cao hiệu
quả dạy học, trong đó mục đích là nâng cao hiệu quả bài học kinh nghiệm. Một
trong những phương pháp khoa học để giảng dạy tốt môn Lịch sử ở trường
Trung học cơ sở là biết khai thác triệt để, hiệu quả các di sản lịch sử.
Di sản văn hóa có vai trò thực sự to lớn trong việc giữ gìn và phát huy bản
sắc dân tộc. Trong dạy học, biết sử dụng di sản văn hóa để hướng đến những giá
trị về chân - thiện - mỹ thì bài giảng của người thầy mang sức sống văn hiến và
có thêm độ dày của lịch sử.
Di sản văn hóa Việt Nam là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lâu bền về
lịch sử, khoa học và được lưu truyền vĩnh cửu từ thế hệ này sang thế hệ khác. Có
dụng di sản trong dạy học tích cực ở bộ môn Lịch sử, trường trung học cơ sở
- Kế hoạch nghiên cứu:
+ Xây dựng kế hoạch và thực nghiệm: năm học 2013 – 2014
+ Tiến hành đại trà: năm học 2014 -2015
2
PHẦN II - NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận
1.1. Tổng quan về Di sản
1.1.1.Khái niệm về Di sản
Di sản văn hóa Việt Nam bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn
hóa vật thể (bao gồm di sản văn hóa và di sản thiên nhiên) là sản phẩm tinh thần,
vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua
thế hệ khác.
1.1.2. Đặc điểm của di sản văn hóa Việt Nam
Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hóa của
cộng đồng các dân tộc anh em, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao
truyền , kế thừa và tái sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay. Di sản văn hóa
Việt Nam là bức tranh đa dạng văn hóa, là tài sản quý giá của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân
dân ta.
Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị sáng tạo từ việc học hỏi, giao lưu
và kế thừa từ các nền văn hóa và văn minh của nhân loại. Những giá trị đó là sự
kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn hóa và văn minh của nhân loại với nền văn hóa
bản địa lâu đời của các dân tộc Việt Nam.
Di sản văn hóa Việt Nam, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể có sức sống
khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được
lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình
diễn và các hình thức khác.
Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm:
- Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam.
- Ngữ văn dân gian, bao gồm sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố,
truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu
đạt khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết.
- Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm âm nhạc, múa hát, sân khấu và
các hình thức trình diễn dân gian khác.
- Tập quán xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi
lễ và các phong tục khác.
-
Lễ hội truyền thống
-
Nghề thủ công truyền thống
-
Trí thức dân gian
1.1.4. Ý nghĩa của di sản đối với hoạt động dạy học, giáo dục cơ sở
Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Di sản văn hóa, dù dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể đều có thể sử dụng
trong quá trình giáo dục, dạy học dưới hình thức tạo môi trường, tạo công cụ
hoặc là nguồn cung cấp chất liệu để xây dựng nội dung dạy học.
nghiên cứu. Trong quá trinh tiếp cận với di sản văn hóa theo sự hướng dẫn của
giáo viên, các hiện tượng sự vật, các giá trị ẩn chứa trong di sản sẽ được các em
tìm hiểu, khám phá và trải nghiệm. Những điều tưởng như quen thuộc sẽ trở nên
hấp dẫn hơn, sống động hơn và học sinh sẽ có hứng thú với chúng, từ đó các em
có được động cơ học tập đúng đắn, trở nên tích cực và phấn đấu tiếp nhận kiến
thức mới cũng như có thái độ và hành vi thân thiện, bảo vệ di sản tốt hơn.
- Phát triển trí tuệ của học sinh: trong quá trình học tập, trí tuệ của học sinh
phát triển nhờ sự tích cực hóa các mặt khác nhau của hoạt động tư duy, nhờ việc
tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự phát triển khác nhau của hoạt động tâm lý: tri
giác, biểu tượng, trí nhớ... Cho học sinh tiếp cận di sản đúng mục đích, đúng lúc
với các phương pháp dạy học phù hợp, với sự hướng dẫn chi tiết mang tính định
hướng, kích thích tư duy, giáo viên sẽ giúp học sinh phát triển khả năng quan
sát, khả năng xử lý thông tin, khả năng phân tích, tổng hợp và so sánh, qua đó
phát triển trí tuệ của các em.
- Giáo dục nhân cách học sinh: Di sản văn hóa là một trong những phương
tiện dạy học đa dạng, sống động nhất. Ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nên nó có
khả năng tác động mạnh tới tình cảm, đạo đức tới việc hình thành nhân cách của
học sinh. Khai thác được những giá trị ẩn chứa trong các di sản, chuyển giao cho
học sinh để các em cũng nhận thức được những giá trị đó, giáo viên giúp hình
thành ở học sinh một hệ thống các quan điểm, các khái niệm về nhận thức thế
giới xung quanh, giúp các em nhận thức được bản chất và có cơ sở giải thích
5
một cách khoa học các sự vật, hiện tượng liên quan đến di sản. Tiến hành nghiên
cứu di sản một cách nghiêm túc, kỹ lưỡng cũng chính là rèn cho các em tác
phong làm việc nghiêm túc, khoa học.
- Góp phần phát triển một số kĩ năng sống ở học sinh: Để tự lực trong cuộc
sống, học tập và làm việc hiệu quả, học sinh rất cần có những kĩ năng sống cơ
tạo điều kiện để học sinh trình bày lại được những thông tin thu thập được đồng
thời bộc lộ cả suy nghĩ của cá nhân học sinh về những gì các em trình bày.
+ Kĩ năng hợp tác: hợp tác là chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau
trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung. Học tập với di sản,
đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ của nhóm học sinh. Trong quá trình làm việc, học
sinh biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với
những thành viên khác trong nhóm để hoàn thành nhiệm vụ giáo viên giao, biết
lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi người trong nhóm,
6
đồng thời biết hỗ trợ các thành viên khác trong quá trình hoạt động, tôn trọng
những quyết định chung, những điều đã cam kết.
+ Kĩ năng tư duy phê phán: là khả năng phân tích một cách khách quan và
toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng... xảy ra. Khi làm việc với di sản, học
sinh không chỉ thu thập thông tin rồi mô tả các hiện tượng sự vật được các em
tìm hiểu mà còn phải biết phân tích chúng một cách có phê phán. Khi sắp xếp
các thông tin thu thập được theo từng nội dung, các em phân tích, so sánh, đối
chiếu, lí giải các thông tin thu thập được, đặc biệt là các thông tin trái chiều, xác
định bản chất vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng... đưa ra những nhận định
về những mặt tích cực, hạn chế của vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng...
Những động tác đó giúp học sinh phát triển kĩ năng tư duy phê phán.
+ Kĩ năng nhận trách nhiệm: đó là khả năng con người tự tin, chủ động nhận
nhiệm vụ phù hợp với khả năng của bản thân, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ và ý
thức cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm. Khi đảm nhận
trách nhiệm, cần dựa trên những điểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời
tìm kiếm thêm sự giúp đỡ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ. Việc giáo viên giao
nhiệm vụ rõ ràng, học sinh tiếp nhận nhiệm vụ và trao đổi nhóm, phân công
nhau và thực thi nhiệm vụ được giao một cách có ý thức, nhiệt tình và có kết
quả. Quá trình đó giúp cho kĩ năng đảm nhận trách nhiệm của học sinh được rèn
tin thu thập được, xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, sâu sắc và có hệ thống
các thông tinđó và cuối cùng là viết báo cáo. Các công việc nêu trên được học
sinh tuần tự thực hiện. Cách tổ chức như vậy sẽ giúp các em rèn được kĩ năng
tìm kiếm và xử lí thông tin trong quá trình làm việc với di sản.
1.2.
Tổng quan về Dạy và Học tích cực
1.2.1. Khái niệm
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay
đổi cách dạy và cách học. Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều
“đọc- chép”, giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm
hay còn được gọi là dạy và học tích cực. Trong cách dạy này học sinh là chủ
thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương
tác tích cực giữa người dạy và người học.
1.2.2. Ý nghĩa của dạy và học tích cực
Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã được đặt ra trong
ngành giáo dục Việt Nam từ những năm 1960. Ở thời điểm này, các trường sư
phạm đã có khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”.
Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, năm 1980, phát huy tính tích cực đã là
một trong các phương hướng cải cách, nhằm đào tạo những người lao động sáng
tạo, làm chủ đất nước. Từ đó, trong nhà trường xuất hiện ngày càng nhiều tiết
dạy tốt của các giáo viên giỏi, theo hướng tổ chức cho học sinh hoạt động, tự lực
chiếm lĩnh tri thức mới. Tuy vậy, phương pháp dạy học ở trường Trung học cơ
sở và phương pháp đào tạo giáo viên ở trường sư phạm phổ biến vẫn là cách dạy
thông báo kiến thức “đọc - chép” hay còn được gọi là truyền thụ một chiều.
Phương pháp dạy học này dẫn đến sự thụ động của người học, nặng về ghi nhớ
lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành áp dụng…
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự thách thức của quá
trình hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao động
thời tìm kiếm “khám phá” ra những hiểu biết mới cho bản thân. Qua đó sẽ thông
hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính
mình.
Tính tích cực nhận thức trong học tập liên quan với động cơ học tập. Động
cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là
hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh ra nếp tư duy độc
lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo và ngược lại.
Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái, chủ động,
tự giác tham gia các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những điều chưa
biết dựa trên những cái đã biết. Sáng tạo vận dụng kiến thức đã học vào thực tế
cuộc sống .
1.3. Các hình thức tổ chức dạy học với di sản
1.3.1. Khai thác, sử dụng tài liệu về di sản để tiến hành bài học ở trường phổ
thông
Tài liệu về di sản đóng vai trị là một nguồn kiến thức góp phần bổ sung, cụ
thể hoá, làm phong phú hơn nội dung bài học do quy định số trang có hạn, sách
giáo khoa không đề cập tới. Nó làm cho những kiến thức trong bài học không
chỉ đơn thuần là con số, các sự kiện khô khan mà sinh động hơn, có hồn hơn,
giúp cho học sinh tái hiện được kiến thức và hiểu bài nhanh, nhớ lâu hơn.
Tuy nhiên, để khai thác các tài liệu về di sản phục vụ bài học thì giáo viên
phải tuân thủ những yêu cầu sau:
- Giáo viên phải tiến hành chọn lọc kỹ và xác minh tính chân thực của các
tài liệu về di sản.
- Chọn lọc những tài liệu điển hình nhất, sắp xếp các tài liệu đó thành hệ
thống phù hợp với tiến trình bài học kết hợp với các phương tiện trực quan,
9
phương tiện kỹ thuật hiện đại làm cho bài học sinh động hơn. Đồng thời, tuỳ
theo mục đích, nội dung bài học mà giáo viên khai thác những tài liệu khác nhau
di sản với trao đổi đàm thoại nhằm giúp học sinh hiểu sâu sắc những kiến thức
cơ bản của bài học.
1.3.2. Tiến hành bài học tạo nơi có di sản. Bài học tại thực địa.
Bài học tại thực địa có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh về cả ba mặt kiến
thức: tư tưởng, tình cảm và kỹ năng. Bởi vì thực địa – nơi có di sản là những dấu
vết, mảnh vụn của quá khứ còn sót lại nên khi tiến hành bài học nội khó tại đây
tức là học sinh đã được quan sát các dấu vết, mảnh vụn của quá khứ để bổ sung,
cụ thể hoá những kiến thức các em đang nghiên cứu. Nó giúp các em phát triển
trí tưởng tượng, đa dạng hoá hoạt động nhận thức, gây hứng thú học tập bộ môn.
Tiến hành học tại thực địa là phương thức thực hiện dạy học gắn với đời sống có
10
tác dụng nâng cao hiểu biết về kiến thức môn học, về văn hoá – giáo dục, lòng
yêu quê hương, đất nước, óc thẩm mĩ cho các em. Bài học tại di sản cũng phải
tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của một bài học nội khóa đồng thời cũng phải thực
hiện đầy đủ các yêu cầu của bài học tại thực địa.
Ví dụ như khi dạy bài Cổ Loa và lực lượng quốc phòng-Lịch sử 6, giáo viên
có thể tiến hành giảng dạy tại thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội. Bài Thời
nguyên thủy trên đất nước ta-Lịch sử 6, tiến hành tại Bảo tàng Quốc gia.
1.3.2.1. Để tiến hành bài học tại thực địa cần bảo đảm một số yêu cầu sau:
* Công tác chuẩn bị cho việc tiến hành bài học tại nơi có di sản phải được thực
hiện chu đáo, kỹ lưỡng. Công tác chuẩn bị là yếu tố quyết định cho mọi sự thành
hay bại, kể cả trong hoạt động dạy học. Tiến hành bài học tại thực địa là một
hình thức tổ chức dạy học bên ngoài lớp học, quá trình dạy học liên quan đến
nhiều yếu tố, điều kiện khác nhau nên phải được chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng cả
đối với giáo viên và học sinh.
Một là, chọn vấn đề, địa điểm phù hợp với mục tiêu, nội dung, số tiết học và
điều kiện tiến hành. Nếu ở địa phương trường đúng hoặc các vùng lân cận có di
sản liên quan đến những sự kiện lớn được ghi trong chương trình môn học thì cố
Ba là, giáo viên phải chuẩn bị trước cho học sinh về tư tưởng và kiến thức
chuyên môn như nêu mục đích, yêu cầu của bài học và nội dung kiến thức cơ bản
cần tìm hiểu trước ở nhà, thông báo sơ qua về địa điểm có di sản, sự kiện, nội
dung kiến thức liên quan đến di sản, yêu cầu các em sưu tầm thêm tài liệu có liên
quan; chuẩn bị đồ dùng trực quan, phương tiện dạy học cần thiết; phổ biến nội qui
học tập tại thực địa. Ngoài ra, giáo viên còn phải nhắc nhở học sinh về việc đảm
bảo phương tiện đi lại, an toàn giao thông (nếu học sinh tự đến địa điểm tiến hành
bài học), giờ giấc, vật dụng che mưa nắng…
* Nội dung bài học tại di sản phải đảm bảo tính chính xác, cơ bản và bám sát
nội dung kiến thức mà di sản phản ánh. Tuy nhiên, cần phải lưu ý là nội dung
bài học tại di sản không nhất thiết phải trình bày tất cả kiến thức được qui định
trong chương trình mà cần lựa chọn những vấn đề cơ bản nhất, được phản ánh
qua các chứng tích, hiện vật tại di sản để giảng dạy cho học sinh. Điều quan
trọng là nguồn kiến thức từ di sản phải làm sáng tỏ nội dung kiến thức trọng
tâm của bài. Tuy nhiên, giáo viên phải chú ý làm sao để đảm bảo mạch nội
dung chương trình của bài học, tránh quá tải đối với hoạt động nhận thức của
học sinh, hay quá ôm đồm kiến thức về địa phương.
* Khi tiến hành bài học tại di sản, giáo viên cần chú ý:
Phải khai thác tối đa khả năng cung cấp thông tin thông qua các dấu vết,
hiện vật,…tại nơi có di sản. Khi khai thác tập trung vào những dấu vết, hiện vật
quan trọng phản ánh kiến thức cơ bản của bài học, tránh tình trạng cho học sinh
quan sát tràn lan làm loãng trọng tâm nội dung cần nghiên cứu của bài học.
Khi hướng dẫn học sinh quan sát phải giúp học sinh tìm ra mối quan hệ bên
trong, làm sáng tỏ nội dung, kiến thức mà các chứng tích, hiện vật phản ánh.
Tổ chức hoạt động quan sát các chứng tích, hiện vật của học sinh một cách
khoa học, hợp lí và hiệu quả.
Phải tổ chức cho học sinh tự học trong và sau giờ học.
Giáo viên có thể tổ chức các hoạt động tự học cho học sinh như:
- Hướng dẫn học sinh tập dượt nghiên cứu thông qua tiếp xúc với các loại tài
liệu tại di sản như tìm hiểu niên đại, xuất xứ, chất liệu, hình thức thể hiện (kiểu
học, cụ thể hoá kiến thức và tạo những biểu tượng chân thực, chính xác. Do đó,
trong buổi tham quan, giáo viên cần tập trung vào những tài liệu, hiện vật có liên
quan đến chương trình đã học (hoặc sẽ học). Để đạt được kết quả tốt, giáo viên
nên kết hợp với cán bộ hướng dẫ ở nơi có di sản để việc trình bày, bổ sung kiến
thức phù hợp với yêu cầu và trình độ nhận thức của học sinh, trên cơ sở đó, gợi
ý, dẫn dắt học sinh nắm vững những vấn đề quan trọng.
1.3.4. Tổ chức thăm quan ngoại khóa, trải nghiệm di sản
Tổ chức tham quan ngoại khó, trải nghiệm di sản cho học sinh là hình thức
phổ biến, có hiệu quả trong các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông. Hình
thức này có thể áp dụng cho học sinh các khối ở cả cấp Tiểu học, THCS và
THPT. Song việc tổ chức học sinh tham quan ngoại khó, trải nghiệm di sản đòi
hỏi phải bỏ nhiều công sức để chuẩn bị và tiến hành về thời điểm tổ chức, có thể
tiến hành vào đầu năm học hoặc nhân dịp kỉ niệm các ngày lễ lớn trong năm như
ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam (22/12), ngày thành lập Đảng
(03/02), kỉ niệm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5)… ngày truyền thống
của quê hương.
1.3.4. Sử dụng di sản để tổ chức các hoạt động ngoại khóa khác
1.3.4.1. Khai thác và sử dụng tài liệu về di sản để tổ chức triển lãm, ra báo học
tập
Để khai thác và sử dụng tài liệu ở di sản vào hoạt động này ở trường phổ
thông đạt kết quả cao, nhà trường và giáo viên các bộ môn có ưu thế phải xây
dựng được một kế hoạch thật cụ thể, có mục đích rõ ràng. Giáo viên nên phân
13
công cho mỗi lớp (nếu là triển lãm, ra báo học tập ở lớp thì phân công tổ), khai
thác tài liệu nói về một nội dung cụ thể, sau đó sẽ trưng bày triển lãm.
Những tài liệu dùng trong triển lãm, ra báo học tập sẽ được sử dụng vào xây
dựng phòng học bộ môn để phục vụ dạy học lâu dài.
1.3.4.2. Tổ chức thi tìm hiểu về di sản ở địa phương
giáo dục nước ngoài nhiều Bảo tàng đã kết hợp với các trường học tổ chức
những buổi triển lãm, dạy học môn Lịch sử ở tại Bảo tàng. Bên cạnh đó được sự
quan tâm của xã hội cũng như các cấp lãnh đạo giáo viên dạy bộ môn Sử được
14
nhiều động viên khích lệ và tổ chức nhiều buổi chuyên đề trao đổi thảo luận
những phương pháp dạy học mới, để dạy học hiệu quả môn Lịch sử.
Khó khăn: Dư âm của nhiều năm, vẫn coi Lịch sử là môn phụ, môn học thuộc
nên đôi lúc chưa được sự quan tâm thích đáng của phụ huynh. Giáo viên bộ môn
Sử có thu nhập chưa cao nên chưa tập trung vào đầu tư dạy học. Ở các trường
phổ thông còn nhiều giáo viên dạy trái tay do vậy chưa có sự đầu tư thích đáng
vào bộ môn.
1.2.2. Đối với học sinh
Hầu hết các em học sinh ở độ tuổi THCS rất yêu thích Lịch sử, các em luôn
thấy bổ ích và hứng thú trong các tiết học tuy nhiên không phải giáo viên nào
cũng làm được điều đó. Càng ở lớp cao, định hướng nghề nghiệp từ phía gia
đình càng lớn do vậy năm học cuối cấp các em thường đầu tư thời gian vào môn
đi thi, chểnh mảng môn Sử ( chỉ có một số em theo các lớp bồi dường Học sinh
giỏi vẫn còn đam mê)
Với những thuận lợi và khó khăn trên người giáo viên nên nhận thức được và
tích cực đưa di sản vào dạy học để bài học thêm phong phú, hấp dẫn
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐƢA DI SẢN VÀO DẠY HỌC TÍCH CỰC Ở BỘ
MÔN LỊCH SỬ, TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Với ý nghĩa và vai trò quan trọng của việc dạy học di sản ở bộ môn Lịch sử,
tôi xin chia xẻ một số kinh nghiệm cũng như kế hoạch trong tương lai về vấn đề
này.
2.1. Tổ chức thăm quan ngoại khóa – trải nghiệm di sản
Hoạt động trọng tâm tham quan phục vụ nội dung bài học sau trong sách
giáo khoa lịch sử lớp 6
- Bài 8: Thời nguyên thủy trên đất nước ta
- Bài 9: Đời sống của người nguyên thủy trên đất nước ta
- Bài 10: Những chuyển biến trong đời sống kinh tế
- Bài 11: Những chuyển biến về xã hội
- Bài 12: Nước Văn Lang
- Bài 13: Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Văn Lang
VIII. Nội dung câu hỏi định hƣớng cho học sinh
Môn Lịch sử
1. Hãy kể tên những địa danh có dấu tích của người tối cổ sống trên đất nước ta.
2. Miêu tả cuộc sống của người nguyên thủy trên đất nước ta. (bằng chữ hoặc
hình ảnh có chú thích)
3. Bộ sưu tập hình ảnh về công cụ lao động của người nguyên thủy trên đất nước
ta. (Nêu chú thích và tác dụng). Tại sao công cụ sản xuất được chôn theo người
chết?
4. Ý nghĩa của nghề nông trồng lúa nước ra đời đối với đời sống con người.
5. Thế nào là chế độ mẫu hệ? Tại sao chế độ phụ hệ dần thay thế chế độ mẫu hệ?
6. Hãy dùng hình ảnh, số liệu để chứng minh thời văn hóa Đông Sơn, đồ đồng
rất phát triển.
7. Dùng hình ảnh để mô tả cuộc sống ( ăn mặc, ở, đi lại…) của cư dân Văn lang.
16
8. Giải thích ý nghĩa cảu những hoa văn trên trống đồng Đông Sơn?
9. Hãy ghi lại những ấn tượng sâu sắc của em về 1 vài cổ vật trong Bảo tàng
Lịch sử Quốc gia.
IX. Kế hoạch hoạt động
1. 8h học sinh có mặt tại Bảo tàng
2. Giáo viên phát nội dung cần tìm hiểu cho học sinh
III. Hoạt động dạy và học
Hoạt động 1: Khởi động
Trò chơi: Nhà sử học tương lai
Có 6 câu hỏi tương ứng với 6 nội dung kiến thức của học kì I. Học sinh lần lượt
trả lời để nối vào kiến thức bài mới.
Mở bài: Năm 179 TCN đất nước ta rơi vào tay nhà Triệu mở đầu 1 thời gian dài
tăm tối của lịch sử dân tộc.
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY-TRÒ
NỘI DUNG CẦN ĐẠT
Hoạt động 2: Nƣớc Âu Lạc từ thế kỉ II TCN đến thế kỉ I có gì đổi thay?
- Hs đọc sgk phần 1
- Gv hỏi: Đất nước ta sau khi rơi vào tay nhà Triệu
- Bị sáp nhập vào lãnh
rồi Hán, chúng đã thực hiện nhưng chính sách đô
thổ Trung Quốc
hộ như thế nào đối với nhân dân ta?
- Bị bóc lột, đánh thuế
- Hs trả lời ( nhiều hs)
- Bị đồng hóa
- Gv năm bắt các ý và ghi lên bảng
nguyên nhân dẫn đến khởi nghĩa Hai Bà Trưng?
ách đô hộ tàn bạo của
- Gv chốt 2 nguyên nhân: trực tiếp, sâu xa
nhà Hán
- Nguyên nhân trực
tiếp: Tô Định giết Thi
Sách (chồng của bà
Trưng Trắc)
- Hs đọc 4 câu thơ trong sgk
- Gv hỏi: Qua 4 câu thơ trên, hãy cho biết mục tiêu
của cuộc khởi nghĩa?
- Gv hỏi: Theo em, việc khắp nơi kéo về tụ nghĩa
nói lên điều gì?
- Hs trả lời
19
- Gv giới thiệu bản đồ và gọi 1 hs lên bảng chỉ lược
đồ 2 địa danh: Mê Linh-căn cứ cuộc khởi nghĩa, Luy
Lâu-nơi ở là làm việc của thái thú Tô Định
- Gv trình bày diễn biến: Hát Môn-Mê Linh-Cổ LoaLuy Lâu
- Hs đọc lời nhận xét của nhà sử học Lê Văn Hưu
- Gv hỏi: Tại sao đội quân Hai Bà Trưng không tiến
b. Diễn biến: Hát
yêu nước nồng nàn
Đoạn phim tổng hợp hình ảnh: đền thờ, tên
đƣờng phố, trƣờng học mang tên Hai Bà Trƣng.
20
của nhân dân ta và vai
trò xuất sắc của người
phụ nữ
- Gv kết bài
- Đoạn phim về trường Trưng Vương
Lịch sử 9
CHƢƠNG V:
VIỆT NAM TỪ CUỐI NĂM 1946 ĐẾN NĂM 1954
BÀI 25 – NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946-1950) - Tiết 1
I. Mục tiêu bài học
1. Kiến thức: Học sinh
- Trình bày được hoàn cảnh bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực
dân Pháp. Giải thích được vì sao Đảng và Chính phủ ta lại phát động cuộc
kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp vào ngày 19/12/1946.
- Nêu và phân tích được đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng
đề ra trong năm 1946 – 1947.
- Khái quát được cuộc chiến đấu của nhân dân ta ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến
16, đặc biệt ở Hà Nội
2. Học sinh: Sưu tầm tư liệu, tranh ảnh và đọc bài trước.
III. Tiến trình tổ chức dạy và học
1.
Ổn định tổ chức
2.
Kiểm tra bài cũ
- Nhìn hình ảnh, đoán sự kiện.
Giáo viên vào bài:
HĐ CỦA GIÁO VIÊN
HĐ CỦA HỌC SINH
GHI BẢNG
I. Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ (1912-1946)
1. Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ
Giáo viên dẫn dắt và giảng về
một số hành động gây hấn của
Pháp ở một số nơi trên đất nước
ta
Nhóm 1 :1 hs lên trình
Đại diện nhóm 1 trình bày hành bày, sử dụng lược đồ
động của Pháp ở Hà Nội
trên màn hình
22
Pháp đưa ra; hoặc cầm súng
chống thực dân Pháp
Theo con trong hoàn cảnh lịch
sử này, theo các con nên Hòa
hay Đánh?
Hs trả lời
Hs trả lời
-Về
phía
ta:19/12/1946
toàn quốc kháng
chiến
Hs quan sát và lắng
nghe
.
Để bảo vệ đất nước ngày 18, Hs trả lời
19/12 Đảng và chính phủ họp và
ra quyết định lựa chọn con
đường thứ 2 là phát động toàn
quốc kháng chiến tại ngôi nhà
của ông Nguyễn Văn Dương,
làng Vạn Phúc, Hà Đông, Hà
Nội và chính tại nơi đây Hồ Chủ
23
mạnh để quyết tâm bảo vệ nên
độc lập của dân tộc. Để đánh
thắng thực dân Pháp ta phải có
đƣờng lối đúng đắn, vậy đƣờng
lối trong cuộc kháng chiến
chống Pháp là gì? Cô mời các
con cùng tiếp tục tìm hiểu mục
2
(GV ghi bảng)
Gv ghi bảng phần 2
24
2. Đƣờng lối kháng chiến chống thực dân Pháp của ta
Hs đọc sgk phần 2
Gv hỏi: Ngoài lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến thì đường lối Hs trả lời 2 văn kiện.
kháng chiến chống Pháp trong
năm 1946 – 1947 của Đảng
được thể hiện qua những văn
kiện lịch sử nào?
(Chiếu 3 văn kiện)
Gv ghi bảng
Hs theo dõi
Toàn dân, toàn
diện, trường kì, tự
lực cánh sinh,
tranh thủ sự ủng
hộ của quốc tế
Đà Nẵng…
- Ở Hà Nội:
19/12/1946
Gv giảng: tình hình ở các đô thị
phía Bắc vĩ tuyến 16
25