Một số giải pháp nâng cao giá trị xuất khẩu sản phẩm tôm vào thị trường nhật bản - Pdf 34

1

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

MỤC LỤC

SV: Trần Thị Cẩm Vân

Lớp: Kinh tế phát triển 54A


2

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

DANH MỤC BẢNG BIỂU

SV: Trần Thị Cẩm Vân

Lớp: Kinh tế phát triển 54A


3

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

cao lợi thế cạnh tranh so với các nước khác, thúc đẩy chất lượng tôm xuất khẩu,
trên cơ sở đó, phát triển sản phẩm tôm nước nhà, đáp ứng yêu cầu thời kì hội
nhập

SV: Trần Thị Cẩm Vân

Lớp: Kinh tế phát triển 54A


4

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

3. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về sản phẩm tôm và sản phẩm tôm xuất
khẩu
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ nghiên cứu sản phẩm tôm và xuất khẩu sản
phẩm tôm vào thị trường Nhật Bản.
4 .Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê: đề tài thu thập vàthống kê các số liệu theo năm, theo
quý…của ngành xuất khẩu tôm trong nước, đặc biệt số liệu về xuất khẩu tôm sang thị
trường Nhật Bản để thấy được các biến động tăng giảm, xu hướng và tỉ trọng trong
các năm, từ đó phân tích, làm rõ cho đề tài
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Dựa vào các số liệu thu thập và tổng hợp
được nhằm phân tích thực trạng về sản lượng, thị phần giá trị kim ngạch xuất khẩu
tôm sang thị trường Nhật Bản. Từ đó được đánh giá các mặt ưu, nhược điểm, tìm
hiểu các nguyên nhân gây ra hạn chế.Trên cơ sở đó, đưa ra giải pháp để giải quyết
vấn đề

Trong cuộc sống hằng ngày, tôm là thực phẩm thiết yếu. Bởi đó là loại thực
phẩm có giá trị dinh dưỡng rất cao, chứa nhiều chất đạm, các vitamin và nguyên tố
vi lượng. Hơn nữa tôm còn được tôn vinh là vua của các loại hải sản bởi sự đa dạng
trong món ăn và phù hợp với khẩu vị đa số chúng ta.
Bên cạnh đó, tôm là một trong những loài thủy sản thương mại chủ yếu ở
nhiều nước bởi lượng tiêu thụ lớn của các sản phẩm tôm và có nhiều thị trường tiềm
năng của nó, đóng góp lớn trong kim ngạch của quốc gia.
1.1.1.2. Các loại tôm
Hiện nay, có rất nhiều loại tôm tự nhiên được nuôi trồng nhiều và trở thành
các loài thương phẩm thiết yếu. Một số loài tôm như là tôm sú, tôm thẻ chân trắng,
càng xanh...trở thành nguồn xuất khẩu chính tại nhiều quốc gia.
Tôm sú (Penaeus monodon) có nguồn gốc từ phổ biến vùng Ấn Tây- Thái
Bình Dương , sau đó phân bố rộng các vùng bờ đông châu Phi, bán đảo Ả rập, bờ
biển Nhật. Hiện nay tôm sú là loài được nuôi trồng nhiều, hơn 22 nước trên thế giới.
Tôm sú là loài động vật ăn tạp thiên về thức ăn có nguồn gốc động vật như các loại
giáp xác hoặc cá nhỏ, giun nhiều tơ và mảnh vụn hữu cơ . Tuy nhiên, tôm sú không
có khả năng thích ứng với nhiệt độ thấp hoặc quá cao. Vì vậy rất dễ xảy ra dịch
bệnh và cần được đáp ứng nhiều điều kiện về tự nhiên như nồng độ PH, độ nóng
lạnh của nước… mới phát triển tốt. Bên cạnh đó, các sản phẩm tôm sú thường đa
dạng, được đánh giá ngon hơn các loài khác ,vì thế tôm sú được coi là loài có giá trị
kinh tế cao.
Tiếp đến là tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei), xuất hiện lần đầu tiên ở
bang Florida, Mỹ vào năm 1973. Sau đó, được các nhà khoa học đưa vào nuôi thử
nghiệm cách ly để phục vụ công tác nghiên cứu. Trên thế giới, tôm thẻ chân trắng

SV: Trần Thị Cẩm Vân

Lớp: Kinh tế phát triển 54A



kích thước lớn nhất, tăng trưởng nhanh nhất và có giá trị cao nhất. Tôm hùm là loài
ăn tạp, trong tự nhiên và cũng như nuôi thương phẩm. Thức ăn chủ yếu là cá, giáp
xác và nhuyễn thể. Môi trường sống của chúng thường là những nơi nước sạch, có
hang hốc, san hô, chất đáy ở tầng đáy sạch, độ mặn cao (>30‰) và nhiệt độ nước
luôn ổn định trong khoảng 22 - 320C. Cũng như những loài tôm khác, tôm hùm
cũng lớn lên nhờ quá trình lột xác. Tuy nhiên, tôm hùm có chu kỳ lột xác dài hơn,
do đó tốc độ tăng trưởng cũng chậm hơn. Tôm hùm nuôi trong lồng sau thời gian từ
18 tháng trở đi mới đạt giá trị thương phẩm, cỡ 1 kg trở lên. Mặc dù có hiệu quả
kinh tế cao nhưng khó khăn lớn nhất của nghề nuôi tôm hùm là chưa thể sản xuất
giống nhân tạo. Người nuôi hiện nay chỉ dựa vào con giống khai thác từ tự nhiên.
Tuy nhiên, số lượng khai thác được ít, không đáp ứng đủ nhu cầu nuôi. Bên cạnh

SV: Trần Thị Cẩm Vân

Lớp: Kinh tế phát triển 54A


7

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

đó, dịch bệnh của tôm hùm (bệnh sữa), giá thức ăn tăng cao, thời gian nuôi dài là
những rủi ro chính trong quá trình nuôi.
1.1.2.Đặc điểm của tôm ở các vùng nước ta
Nước ta là nước có nền nuôi tôm lâu đời. Nước ta là nước có lợi thế về biển,
các vùng ao đầm. Do vậy, từ xa xưa, người dân đã dựa vào nghề đánh bắt và nuôi
trồng thủy sản để sinh sống. Sau đó, khi bắt đầu có sự giao thương giữa các nước,
các ngành công nghiệp nuôi tôm phục vụ thương mại đã nhen nhóm và phát triển.

Lớp: Kinh tế phát triển 54A


8

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

góp tiền để xây dựng các hệ thống thoát nước và đầu tư vào các loại tôm giống, thu
hút được đầu tư, nâng cao chất lượng tôm, hạn chế rủi ro dịch bệnh một cách triệt
để nhất.
Hiện nay, Đồng bằng Sông Cửu Long là vùng có sản lượng nuôi tôm cũng như
diện tích nuôi tôm lớn nhất. Với địa hình tự nhiên thuận lợi, hệ thống kênh rạch
sông ngòi phân bổ nhiều, Đồng Bằng Sông cửu long có lợi thế lớn. Năm 2014,
diện tích đồng bằng Sông cửu Long là 835145 ha với tổng sản lượng 624.680 tấn,
chiếm 76,3 % tổng sản lượng và diện tích cả nước. Năng suất nuôi trồng của Đồng
Bằng sông cửu long là 0,553 tấn/ ha ( Cả nước năm 2014 có tổng diện tích nuôi
trồng tôm là 1002322 ha, với tổng sản lượng 838.943 tấn.). Hình thức chủ yếu là
nuôi tôm quảng canh và quảng canh cải tiến.
Tôm được nuôi trồng nhiều nhất là tôm sú và tôm chân trắng. Diện tích nuôi
tôm sú năm 2014 ước đạt 537 ngàn ha, tăng 4% so với năm 2013, sản lượng ước đạt
248 ngàn tấn, tăng 3%. Sóc Trăng là tỉnh có diện tích nuôi trồng tôm sú nhiều nhất
và sản lượng tôm nhiều nhất, chiếm 316 ngàn ha.
Bên cạnh đó, còn có tôm chân trắng. Mặc dù mới được du nhập vào Việt Nam
từ năm 2001, đến nay phong trào nuôi tôm chân trắng phát triển mạnh ở các tỉnh
Đồng bằng sông Cửu Long, do thời gian nuôi tôm chân trắng ngắn, đạt tỷ lệ thành
công cao và giá bán cao. So với tôm sú, tôm chân trắng có nhiều ưu điểm như thích
nghi tốt với môi trường, khả năng chống chịu dịch bệnh và thời gian sinh trưởng
ngắn hơn. Do đó, nhiều hộ nuôi tôm sú đang có xu hướng chuyển sang nuôi tôm

hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc
biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam, được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định
của pháp luật.
Tóm lại, xuất khẩu được hiểu là hoạt động mua bán, trao đổi trong ngoài nước,
bao gồm các loại hàng hóa, dịch vụ cho người nước, các tuân theo các quy định chặt
chẽ trên phạm vi quốc tế, có những động tác to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội
của mỗi quốc gia.
1.2.2.Các hình thức xuất khẩu
Phương thức xuất khẩu sản phấm là cách thức đưa một sản phẩm thâm nhập
vào thị trường nước ngoài. Chọn lựa phương thức thâm nhập thị trường xuất khẩu
là việc rất quan trọng. Có nhiều phương thức để doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm
của mình ra thị trường thế giới, trong đó có một số phương thức chính như: xuất
khẩu trực tiếp, xuất khẩu ủy thác, các phương thức tại chỗ, đối lưu....Các đặc tính cụ
thể của các phương thức như sau :
Một là xuất khẩu trực tiếp. Đây là hình thức xuất khẩu do một doanh nghiệp
trong nước trực tiếp xuất khẩu hàng hoá cho một doanh nghiệp nước ngoài thông
qua các tổ chức của chính mình. Xuất khẩu trực tiếp có ưu điểm là giảm bớt được
các chi phí trung gian, từ đó tăng thu nhập cho doanh nghiệp, biết được nhu cầu của
khách hàng nhằm đưa ra các phương án kinh doanh phù hợp. Tuy nhiên, chi phí để
giao dịch trực tiếp cao, có rủi ro trong kinh doanh lớn vì không có điều kiện nghiên
cứu các thông tin kĩ về bạn hàng. Hơn nữa, trình độ kĩ thuật nghiệp vụ của các cán
bộ tham gia xuất khẩu phải cao.
Thứ hai là hình thức xuất khẩu gián tiếp. Đây là hình thức xuất khẩu mà nhà
xuất khẩu và nhà nhập khẩu phải thông qua một người thứ ba.Người này là trung
gian. Hình thức này sẽ giảm bớt được chi phí nghiên cứu tìm kiếm bạn hàng và tạo
điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh như: mở rộng kênh phân phối, mạng lưới

SV: Trần Thị Cẩm Vân

Lớp: Kinh tế phát triển 54A

thức này là xuất khẩu liên kết hoặc phương thức hàng đổi hàng.Phương thức này
thông thường được thực hiện nhiều ở các nước đang phát triển, các nước này hầu
như là rất thiếu ngoại tệ cho nên thường dùng phương pháp hàng đổi hàng để cân
đối nhu cầu trong nước. Phương thức này tránh được rủi ro do biến động tỷ giá hối
đoái trên thị trường nhưng nhược điểm của phương thức này là thời gian trao đổi
thanh toán trên thị trườnglâu, do vậy không kịp tiến độ sản xuất mất cơ hội kinh
doanh và phương thức này không linh hoạt, cứng nhắc.
Thứ sáu là phương thức mua bán tại hội chợ triển lãm. Hội chợ là một thị
trường hoạt động định kì, được tổ chức vào một thời gian và một địa điểm cố định
trong một thời hạn nhất định, tại đó người bán đem trưng bày hàng hoá của mình và
tiếp xúc với người mua để kí hợp đồng mua bán.Hình thức này là việc trưng bày
giới thiệu những thành tựu của một nền kinh tế hoặc một ngành kinh tế, văn hoá,
SV: Trần Thị Cẩm Vân

Lớp: Kinh tế phát triển 54A


11

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

khoa học kĩ thuật: ví dụ hội chợ triển lãm hàng công nghiệp. Triển lãm liên quan
chặt chẽ đến ngoại thương tại đó người ta trưng bày các loại hàng hoá nhằm mục
đích quảng cáo để mở rộng khả năng tiêu thụ. Ngày nay ngoài các mục đích trên,
hội chợ triển lãm còn trở thành nơi để giao dịch kí kết hợp đồng cụ thể.
Thứ bảy là xuất khẩu tại chỗ. Đây là một hình thức xuất khẩu mà hàng hoá
không di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia mà được sử dụng ở các khu chế xuất
hoặc doanh nghiệp bán sản phẩm cho các tổ chức nước ngoài ở trong nước. Ngày



12

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

kinh tế của nước ta chuyển dịch tích cực và nó làm cho cơ cấu kinh tế của nước
chuyển dịch phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới và khu vực. Khi
xuất khẩu tôm phát triển thì sự phát triển của những ngành sản xuất ra sản phẩm
tôm tạo ra nhu cầu đối với các ngành sản xuất đầu vào như : điện, nước, nguyên vật
liệu, máy móc thiết bị liên quan đến nuôi trồng và chế biến tôm… Các nhà đầu tư sẽ
mở rộng sản xuất, đáp ứng như cầu này, tạo ra sự phát triển cho ngành công nghiệp
nặng. Hơn nữa, cơ cấu sản xuất tôm và tiêu dùng tôm trên thế giới đang thay đổi
hết sức mạnh mẽ. Do đó, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp
hóa phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới và tất yếu đối với chúng ta. Ngày
nay, trong xu thế mới, chúng ta phải coi thị trường và đặc biệt là thị trường thế giới
là mục tiêu để xuất khẩu. Điều này có ý nghĩa tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và thúc đẩy sản xuất phát triển. Xuất khẩu sản phẩm tôm có tác động đến sản
xuất ở các mặt sau : Xuất khẩu tôm tạo tiền đề cho các ngành khác phát triển thuận
lợi. Chẳng hạn, khi ngành tôm xuất khẩu phát triển thì sẽ giúp ngành nguyên vật
liệu được phát triển như các vật dụng đánh bắt, các bè thuyền…xuất khẩu tôm tạo
tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo lại và nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
Điều này cho thấy, xuất khẩu là phương tiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật,
công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam. Từ đó, nền sản xuất trong nước
được đổi mới, trình độ công nghệ cao hơn, phù hợp với xu thế phát triển, tạo nên
một cơ cấu phù hợp với xu thế.
Ngoài ra, xuất khẩu tôm còn giúp giải quyết các vấn đề xã hội. Theo tính toán
của các nhà kinh tế, nếu đẩy mạnh xuất khẩu tôm, tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu

thế, giá trị xuất khẩu tôm luôn cần được chú trọng nâng cao, luôn là ngành xuất
khẩu chủ lực của nước nhà.
Việc nâng cao giá trị xuất khẩu tôm muốn hiệu quả phải gắn với tiêu chí được đề ra
như kim ngạch, giá cả, cơ cấu...Các tiêu chí được đặt ra để nâng cao, bổ sung, hoàn
thiện sản phẩm để đạt giá trị xuất khẩu cao nhất.

1.3.2. Sự cần thiết nâng cao giá trị xuất khẩu sản phẩm tôm
Nâng cao giá trị sản phẩm là một việc làm cần thiết trong quá trình sản xuất.
Đối với ngành nuôi trồng và xuất khẩu tôm hiện nay, đó là một việc làm bức thiết
và cấp bách.
Thứ nhất, nội bộ ngành tôm còn nhiều hạn chế. Trong hoạt động nuôi tôm,
nguy cơ ô nhiễm môi trường, dư lượng hóa chất, kháng sinh chưa được kiểm soát
tốt khiến cho người tiêu dùng lo lắng về chất lượng sản phẩm nên họ đòi hỏi phải
biết nguồn gốc thực phẩm mình sẽ sử dụng được sản xuất từ đâu, qua các quy trình
công nghệ thế nào. Thực tế là hệ thống theo dõi, giám sát và có khả năng truy xuất
nguồn gốc quá trình nuôi, chế biến đến tiêu thụ tôm tại Việt Nam còn rất hạn chế.
Mặt khác, đa số sản phẩm tôm Việt Nam không truy xuất được nguồn gốc dẫn đến
việc các nước phải kiểm tra chất lượng hàng Việt Nam mang tính xác suất và một
khi lô tôm nào đó có vấn đề về chất lượng thì hàng loạt sản phẩm bị kiểm định xác
suất cũng phải nhận kết quả tương tự.
Ngoài ra, cơ cấu hàng giá trị gia tăng còn thấp. Tuy các sản phẩm tôm chế
biến su, làm sẵn có giá trị gia tăng tương đối cao, chiếm khoảng 65% cơ cấu sản
phẩm tôm nhưng chi phí chế biến cao tương ứng nên hiệu quả sản xuất kinh doanh
không cao.
Nguồn nhân lực và giống tôm còn chưa đạt chất lượng đảm bảo và nhiều bất
cập. Kinh phí cho công nghệ gia hóa và sản xuất giống chất lượng còn hạn chế, vẫn
phải nhập khẩu một lượng lớn tôm giống, kéo theo đó là khó khăn cho vấn đề quản

SV: Trần Thị Cẩm Vân


các nước phải kiểm tra chất lượng hàng Việt Nam và một khi lô tôm nào đó có vấn
đề về chất lượng thì hàng loạt sản phẩm bị kiểm định xác suất cũng đều có kết quả
tương tự.Thời gian qua, thị trường xuất khẩu của chúng ta luôn phải đối mặt với
những rào cản kỹ thuật, bị cảnh báo ngừng xuất khẩu.Theo thống kê, trong 4 tháng
đầu năm 2015, Việt Nam bị các thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản cảnh báo chất cấm
và trả về 36 lô tôm, bằng gần 40% con số của cả năm ngoái (92 lô).
Thêm nữa, ngành xuất khẩu tôm luôn có tính cạnh tranh cao và ngành tôm có
sự bảo hòa. Theo nhiều chuyên gia phân tích thị trường khẳng định, thị trường tôm
ngày càng phức tạp, đầy cạnh tranh. Thứ nhất, thị trường bất ổn. Tôm là loài dễ mắc
dịch bệnh. Khi có dịch bệnh hay các chính sách của chính phủ sẽ làm thay đổi cầu
dẫn đến thay đổi cung trên thị trường, khiến thị trường thường luôn biến động về
cung cầu. Nếu không nâng cao chất lượng tôm thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài
SV: Trần Thị Cẩm Vân

Lớp: Kinh tế phát triển 54A


15

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

ra, thị trường tôm luôn cạnh tranh khốc liệt. Các nước luôn cạnh tranh để có có
được lợi thế của sản phẩm nhiều nhất. Điển hình như tháng 12/ 2014 Indonesia và
Ấn Độ đã giảm giá bán tôm khoảng 20% nhưng vẫn có lãi nhờ chính sách linh hoạt
và thả nổi tỷ giá tùy theo biến động thị trường. Ấn Độ đang từng bước quy hoạch,
quản lý quy hoạch nuôi tôm, kiên quyết đóng cửa các trại nuôi tôm không được
phép sử dụng hoặc giấy phép đã hết hạn nhằm kiểm soát tốt nuôi tôm, tránh hiện
tượng khủng hoảng thừa hoặc thiếu nguyên liệu, giảm nguy cơ dịch bệnh và ô


16

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

đánh giá vai trò của cơ cấu xuất khẩu, ta sử dụng các công thức sau :
Đánh giá theo cơ cấu theo mặt hàng :
Tỉ trọng của một mặt hàng

Lượng hàng xuất khẩu tôm

=

Lượng hàng xuất khẩu của thủy sản

x100%

Từ công thức trên ta thấy được loài tôm nào có lợi thế và được ưa thích nhất,
xem xét sự thay đổi mặt hàng theo từng năm để thấy được tỉ trọng từng loại mặt hàng.
Đánh gía theo cơ cấu theo thị trường :
Tỷ trọng sản phẩm
theo thị trường

=

Kim ngạch xuất khẩu tôm vào một thị trường

x100%



17

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

x100%

Công thức trên cho thấy được phần trăm lượng hàng xuất khẩu trực tiếp vào
nước nhập khẩu. Từ đó đánh giá được vai trò của phương thức trực tiếp.
Thứ hai theo phương thức xuất khẩu gián tiếp.
Tỷ trọng xuất khẩu gián tiếp

=

Kim ngạch xuất khẩu gián tiếp
Tổng kim ngạch xuất khẩu

x100%

Công thức trên cho thấy được phần trăm lượng hàng xuất khẩu gián tiếp vào
nước nhập khẩu, từ đó đánh giá vai trò của phương thức gián tiếp
Từ đó so sánh hai phương thức xuât khẩu trực tiếp và gián tiếp ,từ đó đánh giá
ảnh hưởng của hai hình thức trong xuất khẩu tôm ra quốc tế.
1.4.5.Kết hợp hiệu quả giữa nâng cao giá trị và phát triển bền vững
Việc xuất khẩu tôm theo các mục tiêu và định hướng của nước nhà, thì không
chỉ có mục tiêu về kinh tế mà còn phát triển và đánh giá dựa trên giá trị xã hội và
phát triển bền vững. Phát triển bền vững ngành tôm được thể hiện ở cả mặt kinh tế,

trường quốc tế.
1.5.1.2.Tỷ giá hối đoái
Tỉ giá hối đoái là tỉ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền của hai nước, được biểu diễn thông
qua tỉ lệ bao nhiêu đồng tiền nước này bằng một đơn vị đồng tiền nước kia. Biến
động tỷ giá luôn có tác động đến nền kinh tế, nhất là khả năng cạnh tranh của xuất
khẩu, cán cân thương mại và thanh toán, nợ công, cơ cấu sản xuất với mức ảnh
hưởng tuỳ theo độ mở của nền kinh tế quốc gia với kinh tế thế giới, mối tương quan
giữa tiền tệ trong nước với tiền tệ nước ngoài.
Khi đồng tiền nội tệ mất giá, tỉ giá tăng, thì giá cả hàng xuất khẩu của quốc gia đó
trở nên rẻ hơn, sức cạnh tranh của hàng hóa đó trên thị trường quốc tế sẽ được nâng
cao. Chẳng hạn, một lô hàng sản phẩm tôm có giá 16000 triệu VNd. Thời điểm
1/2012, tỉ giá trên thị trường USD/VND là 16000 thì lô hàng này được bán với giá 1
triệu USD. Thời điểm 12/2012, tỉ giá USD/VND 17000 thì lô hàng này được bán
với giá 16000/17000 = 0.941 triệu USD, rẻ hơn thời điểm ban đầu. Khi ấy, mức cầu
mở rộng và khối lượng hàng hóa xuất khẩu sẽ gia tăng. Như vậy, sự tăng lên của tỉ
giá có tác động lớn đến khối lượng hàng xuất khẩu.
Khi điều chỉnh tỉ giá, nhà nước cần tính toán đến nhiều tác động khác nhau ,
trái chiều của tỉ giá.
1.5.1.3.Chính sách thuế quan
Chính sách thuế là một hệ thống các quan điểm nguyên tắc, biện pháp kinh tế,
hành chính và pháp luật thích hợp về thuế mà một quốc gia áp dụng để thực hiện
các mục tiêu xác định.
Các chính sách thuế quan có ảnh hưởng rất lớn đối với ngành xuất khẩu.
Chính sách thuế quan giúp phát triển và bảo hộ sản xuất nội địa. Gía cả tăng lên làm
giảm nhu cầu tiêu dùng , tăng sản xuất trong nước và giảm nhập khẩu.
Thuế quan còn tác động đến hành vi người tiêu dùng. Nếu giả định rằng thu
nhập của mỗi người tiêu dùng là cố định , và người tiêu dùng đó có thể lựa chọn
mua một trong hai hàng hóa A và B. Khi chưa có thuế nhập khẩu, người tiêu dùng
vừa mua sản phẩm A và B theo một tỉ lệ nào đó. Gỉa sử nhà nước đánh thuế nhập
khẩu đối với một mức thuế nào đó thoe giá sản phẩm A. Khi đó đường giới hạn

đó khiến sự phụ thuộc giữa các nước ngày càng tăng. Mỗi biến động trên thị trường
có tính chất hội nhập hóa như hiện nay, đều mang lại các ảnh hưởng đối với ngành
xuất khẩu.
Đối với xuất khẩu tôm, với nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suy thoái,
hay khủng hoảng lương thực, dịch bệnh toàn cầu hay tỉ giá hối đoái có sự biến động
lớn đều ảnh hưởng đến việc xuất khẩu. Khi nền kinh tế có sự biến động, các nước
xuất khẩu phải có chính sách điều chỉnh, giảm bớt hay tăng sản lượng... để mang lại
hiệu quả nhất cho ngành tôm xuất khẩu.
1.5.2.Nhân tố môi trường ngành
1.5.2.1.Yếu tố tự nhiên
Yếu tố tự nhiên là các nguồn lợi tự nhiên có sẵn như nguồn tài nguyên, vị trí
địa lý… Yếu tố tự nhiên góp phần quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm,
tạo yếu tố cạnh tranh. Nhân tố này ảnh hưởng đến doanh nghiệp kinh doanh xuất
khẩu. Nguồn lực có đủ lớn thi mới có khả năng thực hiện đươc hoat động xuất khẩu

SV: Trần Thị Cẩm Vân

Lớp: Kinh tế phát triển 54A


20

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

. Vì hoạt động xuất khẩu chứa nhiều rủi ro. Mỗi quốc gia có lợi thế riêng trong từng
mặt hàng của mình, vì thế cơ cấu sản xuất của các quốc gia cũng khác nhau.
Đối với ngành tôm, có nước có đường biên giới biển, hay nhiều ao hồ, đầm
lầy sẽ có lợi thế về yếu tố tự nhiên,có thể có được các giống tôm chất lượng. Ngược

SV: Trần Thị Cẩm Vân

Lớp: Kinh tế phát triển 54A


21

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

những biến động của thị trường giúp cho hoạt động xuất khẩu của công ty đạt hiệu
quả cao.
1.5.2.4. Đối thủ cạnh tranh
Với bất cứ một ngành nào, đặc biệt là xuất khẩu tôm, có rất nhiều đối thủ
cùng tham gia vào thị trường, tạo ra sự cạnh tranh và sức ép lớn cho ngành tôm
nước nhà.
Cạnh tranh sẽ tạo động lực phát triển, với nguyên tắc, ai hoàn thiện hơn, thỏa
mãn nhu cầu tốt hơn thì sẽ tồn tại và phát triển. Đối thu cạnh tranh có liên quan đến
số lượng đối thủ trên thị trường, lợi thế của đối thủ và chiến lược cạnh tranh , môi
trường cạnh tranh.
Nếu trên thị trường, số lượng đối thủ lớn thì ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng
tiêu thụ. Càng nhiều đối thủ, sự chú trọng đến sản phẩm càng phải được nâng cao.
Khi tham gia thị trường, cần có chỗ đứng nhất định, sản phẩm cần phải đa dạng,
phù hợp thị hiếu, nổi bật trước các đối thủ cạnh tranh.Nếu không, sản phẩm sẽ bị
đẩy nhanh ra khỏi thị trường và có thể biến mất hoàn toàn.
Lợi thế của đối thủ và chiến lược của đối thủ cũng rất quan trọng. Nếu đối thủ
có lợi thế lớn như lấy được sự tin tưởng của người tiêu dùng, hay bề dày kinh
nghiệm, thì rất khó có thể đánh bại và tìm chỗ đứng nếu có chiến lược khôn ngoan
rõ ràng cho sản phẩm của mình.

về nhu cầu, thì cần cải tiến, biến đổi sản phẩm cho phù hợp.
Vì thế càng hiểu rõ về thị hiếu của người dân tại nước nhập khẩu càng có lợi
thế, chiếm được thị phần trong thị trường nước đó.Khi nhập khẩu tôm vào thị
trường của nước nhập khẩu, cần phải hiểu rõ văn hóa, đặc tính tổng quan về thị hiếu
của người dân nước đó, từ đó thay đổi sản phẩm và chung loại để phù hợp. Trong
vô vàn hàng hóa nhập khẩu,người dân có nhiều sự lựa chọn. Vì vậy, mỗi sản phẩm
đưa vào phải lấy được sự ưa thích và tin dùng của người dân nước đó.Nếu không,
sản phẩm sẽ không có chỗ đứng trên thị trường.Từ đó, lượng hàng xuất khẩu vào thị
trường giảm sút.
1.5.3.3.Chính sách nhập khẩu
Các chính sách nhập khẩu là các chính sách liên quan đến thuế nhập khẩu hạn
ngạch nhập khẩu, lãi suất, rào cản kỹ thuật. Mỗi nước đều có quy định về chính
sách nhập khẩu riêng về quy định, lãi suất thuế, có tác động không nhỏ cho các
nước xuất khẩu. Trong ngắn hạn, chính sách thuế nhập khẩu góp phần đáng kể vào
việc nâng cao năng lưc cạnh tranh của doanh nghiệp, tuy nhiên nếu kéo dài bảo hộ
qua thuế sẽ làm suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong dài hạn, tạo
ra sự ỷ lại, mất động lực sáng tạo, đổi mới của doanh nghiệp.
Các chính sách nhập khẩu tôm mỗi nước khác nhau. Các chính sách bao gồm
thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, các quy định về tiêu chuẩn an toàn thực
phẩm, môi trường... Với các nước có các quy định nhập khẩu khắt thì đòi hỏi các
nước nhập khẩu phải tuân thủ theo các quy định, nếu không sẽ có thể bị trả lại hàng
và cấm xuất khẩu, gây ra tổn thất nặng nề.
1.5.3.4. Các quy định pháp luật về nhập khẩu sản phẩm
Các quy định liên quan đến sản phẩm là các quy định liên quan đến thuế,
các chính sách về an toàn thực phẩm, quy định về phân phối, mẫu mã,…
Mỗi nước xuất khẩu phải đáp ứng được các điều kiện của quy định mới
được tham gia vào thị trường nước nhập khẩu. Mỗi nước đều có các quy định khác
nhau, luật lệ xuất khẩu sản phẩm khác nhau. Vì vậy, cần tìm hiểu trước khi đưa sản
phẩm tôm ra thị trường nước đó. Nếu không đáp ứng được các quy định nhập khẩu
của nước đó, ngay lập tức các sản phẩm sẽ bị trả lại. Các sản phẩm tôm chủ yếu là

ách tắc trong tiêu dùng và tạo tiền đề cho việc xuất khẩu tôm bị gừng trệ và khó có
chỗ đứng. Ngoài ra, để sản phẩm tôm nước nhà có chỗ đứng, không phải chỉ cung
cấp sản phẩm và dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh mà còn phải phân phối sản
phẩm tôm một cách có hiệu quả cao đến với thị trường ở quốc tế.
1.5.3.6. Tình hình chính trị, hợp tác với nước nhập khẩu
Hợp tác là điều kiện tiên quyết để xuất khẩu hàng hóa. Tình hình hợp tác với
nước nhập khẩu càng lâu dài và bền chặt, càng dễ xâm nhập vào thị trường nước đó.
Tình hình hợp tác tốt đẹp sẽ dễ thương lượng,đàm phán. Ngoài ra, tình hình chính trị
tốt đẹp giữa hai nước sẽ tăng sự tin tưởng cho người dùng tại thị trường nhập khẩu.
Đối với thị trường tôm, là thị trường hàng thực phẩm tươi sống, nhiều sự cạnh
tranh.Vì thế, việc hợp tác lâu dài, uy tín với nước nhập khẩu lại càng quan trọng.
Trong các hiệp định thương mại được kí kết, các quy định chung sẽ tạo nhiều thuận
lợi như giảm thuế, giảm các hạn ngạch... từ đó, tạo thuận lợi cho ngành xuất khẩu.

SV: Trần Thị Cẩm Vân

Lớp: Kinh tế phát triển 54A


24

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM TÔM VÀO THỊ
TRƯỜNG NHẬT BẢN GIAI ĐOẠN VỪA QUA
1



Gdp

4556

4664

4785

4789

4709

4049

5470

5474.
2

5936

6987

4800

1.08

1.19


lượng rất cao. Người Nhật Bản rất chú trọng đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề,
có đủ khả năng nắm bắt và sử dụng những kỹ thuật, công nghệ mới. Công nhân
được đào tạo không chỉ trong các trường dạy nghề mà có thể đào tạo ngay tại các xí
nghiệp. Ngoài ra, Nhật Bản tập trung vào những ngành sản xuất lớn, hiện đại và có
hiệu quả cao như: công nghiệp hóa học nặng, cộng nghiệp điện tử, công nghiệp sản
SV: Trần Thị Cẩm Vân

Lớp: Kinh tế phát triển 54A


25

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: Th.S Bùi Thị Thanh Huyền

phẩm lâu bền (ô tô, đồ điện dân dụng …) ngày càng được phát triển và dần trở
thành những ngành công nghiệp quan trọng của Nhật Bản. Nhà nước đã tạo ra môi
trường kinh tế thuận lợi cho tăng trưởng bằng hệ thống pháp luật và khả năng duy
trì trật tự xã hội bằng pháp luật và sự đầu tư trực tiếp vào kinh tế. Ngoài ra, Nhật
Bản đã tìm mọi cách để xâm nhập vào thị trường thế giới như tăng khả năng cạnh
tranh hàng hóa nhờ giảm chi phí sản xuất và chú trọng chất lượng sản phẩm, xây
dựng đội ngũ thương nhân có năng lực, nhiều kinh nghiệm, thực hiện chính sách đối
ngoại linh hoạt.
Tăng trưởng cao tuy nhiên, vẫn có sự biến động. Vào năm 2009, do ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, mức tăng trưởng bình quân năm của Nhật
Bản giảm xuống chỉ còn 4049 tỉ USD giảm 530 tỉ USD, tương đương giảm 14.7 %
so với 2008. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng diện rộng, người dân
thắt chặt hầu bao, các công ty đầu tư thận trọng hơn, khiến không chỉ nền kinh tế
Nhật mà còn hầu hết các nước rơi vào lạm phát và tăng trưởng chậm. Vì thế, sản


-27.8

-22.2

Nguồn : Vasep.com.vn
Liên tiếp trong 5 quý từ quý III/ 2014 đến quý III/ 2015 GDP liên tục giảm
mạnh liên tiếp. Đặc biệt vào quý III/2015, GDP giảm 27.8%.Trong vòng 1 năm, đến
quý III/2015, GDP đạt tăng trưởng âm 49.9% so với cùng kì năm ngoái. Thực sự
Nhật Bản đã rơi vào khủng hoảng kinh tế .
Nguyên nhân gây ra sự sụt giảm này một phần là do sự giảm tốc mạnh của
kinh tế Trung Quốc… Hai năm trở lại đây, tình hình kinh tế Trung Quốc đang theo

SV: Trần Thị Cẩm Vân

Lớp: Kinh tế phát triển 54A



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status