BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN KIM THOA
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ BIẾN ĐỘNG SINH LƢỢNG ĐỘNG VẬT PHÙ DU
VÙNG BIỂN VEN ĐẢO BẠCH LONG VĨ, HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN KIM THOA
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ BIẾN ĐỘNG SINH LƢỢNG ĐỘNG VẬT PHÙ DU
VÙNG BIỂN VEN ĐẢO BẠCH LONG VĨ, HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành đào tạo:
Mã ngành:
Quyết định giao đề tài:
Quyết định thành lập HĐ:
Nuôi trồng thủy sản
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành Luận văn Thạc sĩ này, trƣớc hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới PGS.TS. Đỗ Văn Khƣơng, ngƣời hƣớng dẫn khoa học đã tận tình hƣớng dẫn và
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện Luận văn.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô trƣờng Đại học
Nha Trang, Viện Nghiên cứu Hải sản đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và
hoàn thành Luận văn Thạc sĩ này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các ông chủ nhiệm đề tài, dự
án: Ths. Lại Duy Phƣơng, PGS.TS. Đỗ Văn Khƣơng, ThS. Nguyễn Văn Hiếu các tác
giả các bài báo khoa học… đã cho phép tôi sử dụng nguồn tƣ liệu để viết Luận văn.
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ và
động viên của Lãnh đạo và các cán bộ Phòng Nghiên cứu Bảo tồn biển, Viện Nghiên
cứu Hải sản, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tƣ liệu tại hiện
trƣờng và xử lý số liệu trong phòng thí nghiệm.
Xin chân thành cảm ơn UBND huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Đồn biên
phòng đảo Bạch Long Vĩ, đã tạo điều kiện cho tôi trong các chuyến khảo sát thực địa
thu thập mẫu vật làm tƣ liệu cho Luận văn này.
Cuối cùng gia đình, bạn bè, đồng nghiệp chính là nguồn động viên, khích lệ vô
giá đã đi cùng tôi trong suốt những năm tháng phấn đấu, rèn luyện để có đƣợc sản
phẩm khoa học này.
Hải Phòng, Ngày 20 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Kim Thoa
iv
MỤC LỤC
3.3. Đánh giá sự biến động sinh vật lƣợng ............................................................. 31
3.3.1. Biến động về khối lƣợng ........................................................................... 28
3.3.2. Biến động về số lƣợng ............................................................................... 30
3.4. Giải pháp khai thác và sử dụng bền vững nguồn lợi thủy sản .......................... 34
3.4.1. Giải pháp khai thác .................................................................................... 34
3.4.2. Giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi ...................................................... 35
Chƣơng 4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ........................................................... 36
4.1. Kết luận .......................................................................................................... 36
4.2. Khuyến nghị ................................................................................................... 37
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 38
A. Tài liệu tiếng Việt ............................................................................................. 38
B. Tài liệu tiếng Anh ............................................................................................. 40
C. Tài liệu tiếng Pháp ............................................................................................ 42
PHỤ LỤC .................................................................................................................. 43
Phụ lục 1: Danh mục thành phần loài động vật phù du tại Bạch Long Vĩ ............... 43
Phụ lục 2: Một số hình ảnh .................................................................................... 48
vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐVPD
: Động vật phù du
L
: Chiều dài
Max
TB
: Trung bình
Tb
: Tế bào
TL
: Tỷ lệ
TVPD
: Thực vật phù du
µm
: Micromét
ĐVĐ
: Động vật đáy
GHCP
:Giới hạn cho phép
vii
Hình 3.5. Biến động sinh vật lƣợng ĐVPD đảo Bạch Long Vĩ ................................... 33
ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Động vật phù du (ĐVPD) là mắt xích quan trọng của chuỗi thức ăn; thành phần
chính trong thức ăn của nhiều loài cá con và cá trƣởng thành; là cơ sở đánh giá tiềm
năng sinh học của vùng nƣớc và đƣợc sử dụng làm sinh vật chỉ thị cho môi trƣờng
nƣớc, góp phần đáng kể vào việc cân bằng sinh thái của thủy vực. Ngoài ra, nghiên
cứu ĐVPD làm cơ sở cho công tác dự báo và xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch khai thác
thủy sản ở các vực nƣớc, sử dụng tối ƣu sản lƣợng sinh vật trong thủy vực nhằm đạt
hiệu quả cao nhất trên cơ sở bảo đảm cân bằng sinh thái. Chính vì những ý nghĩa đó
việc bổ sung, cập nhật các thông tin liên quan đến đa dạng thành phần loài và biến
động sinh vật lƣợng ĐVPD là rất cần thiết. Nghiên cứu về ĐVPD vùng ven đảo Bạch
Long Vỹ, Hải Phòng nhằm đạt đƣợc các mục tiêu sau: (1) Xác định đƣợc đa dạng
thành phần loài và đặc điểm phân bố sinh thái của các nhóm loài ĐVPD chiếm ƣu thế
tại vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng; (2) Đánh giá đƣợc sự biến động sinh
lƣợng ĐVPD theo không gian và thời gian tại vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ, Hải
Phòng.
Luận văn thiết kế hệ thống điểm điều tra thu mẫu theo các trạm nghiên cứu môi
trƣờng đại diện cho cả vùng ven đảo Bạch Long Vĩ. Mẫu động vật phù du đƣợc thu
bằng lƣới hình chóp với diện tích miệng lƣới rộng 0,125 m2 trong cột nƣớc từ cách đáy
2 m đến mặt nƣớc, miệng lƣới đƣợc gắn lƣu tốc kế (Flowmeter) có mắt lƣới 330 µm.
Mẫu đƣợc bảo quản trong dung dịch formaline 4 - 5 %. Phân loại ĐVPD theo phƣơng
pháp hình thái so sánh và sử dụng phần mềm ứng dụng trên Microsoft Office Excel
2010 để phân tích xử lý số liệu.
Kết quả xác định đƣợc tổng cộng có 80 loài ĐVPD thuộc 9 nhóm. Trong đó,
nhóm Copepoda có số lƣợng loài nhiều nhất (46 loài) chiếm 57,50% là nhóm thức ăn
quan trọng nhất của nhiều loài cá nổi, nhóm Polychaeta có số lƣợng ít nhất (2 loài)
thông tin để bảo vệ môi trƣờng nƣớc.
Thành phần loài ĐVPD ở vùng biển Bạch Long Vĩ rất đa dạng và có vai trò
quan trọng trong hệ sinh thái biển nên cần tiếp tục có nghiên cứu sâu hơn theo hƣớng
(1) Nghiên cứu mối quan hệ giữa ĐVPD với các yếu tố môi trƣờng và hệ sinh thái
quanh đảo Bạch Long Vĩ. (2) Nghiên cứu mối quan hệ giữa ĐVPD với nguồn lợi cá ở
khu vực vùng biển Bạch Long Vĩ.
Từ khóa: Động vật phù du, sinh vật lƣợng, Bạch Long Vĩ.
xi
MỞ ĐẦU
Đảo Bạch Long Vĩ nằm giữa Vịnh Bắc Bộ, thuộc quyền quản lý của thành phố
Hải Phòng, có tầm quan trọng Quốc gia liên quan đến những vần đề chủ quyền lãnh
hải, an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế biển. Để khẳng định và thực hiện chủ
quyền, khai thác tiềm năng to lớn tài nguyên đảo và vùng biển quanh đảo, cần thiết
phải phát triển dân sinh cùng với tăng cƣờng xây dựng cơ sở hạ tầng và thực thi các dự
án kinh tế. Các hoạt động này đang và sẽ tạo nên sức ép đối với môi trƣờng tự nhiên,
sinh thái vùng biển ven đảo. Để có thể phát triển bền vững, ngăn ngừa giảm thiểu tác
động đến môi trƣờng, sinh thái, việc điều tra cơ bản môi trƣờng vùng biển đảo Bạch
Long Vĩ phục vụ cho quy hoạch phát triển chiến lƣợc kinh tế - xã hội huyện đảo là
công việc cần thiết.
Chính vì có vị trí quan trọng nhƣ vậy nên việc nghiên cứu tổng thể đa dạng sinh
học của vùng biển là rất cần thiết trong đó bao gồm các nhóm đối tƣợng Động vật phù
du . Động vật phù du (ĐVPD) là một trong các thủy sinh vật đóng vai trò quan trọng
trong hệ sinh thái biển và chu trình chuyển hóa vật chất dinh dƣỡng của thủy vực.
ĐVPD không những là mắt xích quan trọng của chuỗi thức ăn mà còn là cơ sở đánh
giá tiềm năng sinh học của vùng nƣớc. Nhiều nhóm động vật phù du cỡ nhỏ là thành
phần chính trong thức ăn của nhiều loài cá con và cá trƣởng thành. Động vật phù du
còn đƣợc sử dụng làm sinh vật chỉ thị cho môi trƣờng nƣớc và góp phần đáng kể vào
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố sinh thái của ĐVPD và các nhóm loài chiếm ƣu
thế tại vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ.
- Đánh giá đƣợc sự biến động sinh lƣợng ĐVPD theo không gian và thời gian
của ĐVPD tại vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ.
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học:
- Cập nhật, bổ sung cơ sở khoa học về đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật
biển (ĐVPD) cho vùng biển Bạch Long Vĩ.
- Cập nhật, bổ sung các thông tin liên quan đến sự biến động sinh vật lƣợng
sinh vật biển (ĐVPD) theo thời gian ở vùng biển Bạch Long Vĩ.
Ý nghĩa thực tiễn:
- Giúp cho các nhà quản lý, cộng đồng cƣ dân có những hiểu biết hơn về đa
dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật biển, về vai trò và ý nghĩa của quần xã ĐVPD đối
với môi trƣờng sinh thái, đối với đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của con ngƣời.
2
- Cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản lý xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch
khai thác thủy sản, nhằm bảo tồn, phục hồi, phát triển và sử dụng hợp lý nguồn lợi
sinh vật tại vùng biển Bạch Long Vĩ.
3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu ĐVPD trên thế giới và trong khu vực
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ĐVPD trên thế giới
Thompson (1830) là ngƣời đầu tiên sử dụng lƣới ĐVPD sau đó là Muler
(1845). Trong khi nghiên cứu chu trình của sao biển, Muler dùng mắt lƣới nhỏ để vớt
ấu trùng của chúng đã tình cờ phát hiện ra sự phong phú của cá loài sinh vật nhỏ bé
sp. Nov., 9 loài khác đƣợc ghi nhận là mới đối với biển Trung Quốc [31].
- Trong năm 1974, Chen Qingchao và Shen Chia Jui (1974) công bố công trình
thứ 2 về Copepoda của biển Đông với khu vực sát ở vùng nƣớc gần bờ tỉnh
Kwangtung (Trung Quốc) xác định đƣợc 31 loài thuộc bộ Calanoida với thành phần
chính là các loài nhiệt đới, trong đó 16 loài phân bố ở biển Đông Trung Quốc, 11 loài
ở phía biển Hoàng Hải, có 4 loài giới hạn phân bố ở biển Đông, 2 loài lần đầu tiên bắt
gặp ở biển Đông là Pontellopsis macronyx A. Scott và Euchaeta spinosa Giesbrecht, 1
loài đƣợc xác định là mới đối với khoa học là Pontellopsis inflatodigitata, sp. Nov
[32].
- Năm 1980, Chen Qingchao (1980) công bố kết quả nghiên cứu thành phần
khu hệ ĐVPD ở vùng nƣớc quanh đảo Hồng Kông với 120 loài thuộc 15 nhóm cùng
rất nhiều ấu trùng da gai, thân mềm và cá biển. ĐVPD khá phong phú ở vùng nƣớc
gần bờ Hồng Kông với thành phần chính là các loài cửa sông và ven bờ [33].
- Khi tiến hành khảo sát vùng trung tâm và một phần phía bắc Biển đông giai
đoạn 1975-1982, Cheng Qingchao (1982) đã mô tả 10 loài của bộ Calanoida thuộc họ
Tortanidae và giống Tortanus. Hầu hết các loài này đều bắt gặp ở Biển Đông Trung
Hoa và biển Hoàng Hải, trong đó loài Tortanus sinicus, sp.nov đƣợc mô tả là loài mới
đối với khoa học [34].
- Năm 1994, 12 công trình nghiên cứu đa dạng sinh vật biển quần đảo Trƣờng
Sa và vùng biển lân cận đã công bố. Trong đó nghiên cứu của Cheng Qingchao (1994)
về tính đa dạng của ĐVPD cho thấy sự khác biệt về mùa của tính đa dạng không lớn.
Giá trị tính đa dạng của vùng biển thuộc mức phong phú [35].
- Năm 1996 kết quả của chuyến khảo sát liên hợp Việt Nam - Philippin
JOMSRE-SCS-96, Mc Manus et al. (1996) cho biết về sinh vật lƣợng của sinh vật phù
du ở khu vực biển đông đều tập trung ở tầng nƣớc 0 † 100m với giá trị trung bình 11,9
mg khô/m3 [41].
5
Serene (1948) công bố kết quả nghiên cứu biến động số lƣợng ĐVPD theo thời
gian và mối quan hệ với các yếu tố ngoại cảnh trong các năm 1938 - 1942 ở Vịnh Nha
Trang [51].
Hamon (1956) đã công bố danh sách 11 loài động vật Hàm tơ (Chaetognatha) ở
biển miền Nam Việt Nam. Khi nghiên cứu SVPD ở Cầu Đá vịnh Nha Trang đã phát
hiện nhịp điệu di cƣ theo ngày đêm theo chiều thẳng đứng của cá con trong biển. Năm
1929 - 1930 ông nghiên cứu ĐVPD ở vịnh Nha Trang và thấy ở đây ĐVPD rất phong
phú và có tính chất biển rõ ràng. Mùa hè có nhiều dạng ĐVPD biển khơi nhƣng khi có
gió mùa đông bắc thì khu hệ đột nhiên thay đổi, rất nghèo về thành phần loài và số
lƣợng do có nƣớc ngọt từ lục địa chảy ra. Năm 1952, ông đã nghiên cứu khá đầy đủ về
điều kiện ngoại cảnh và qui luật biến động số lƣợng SVPD trong mùa khô và mùa mƣa
ở vịnh Nha Trang [47].
Chƣơng trình khảo sát NAGA (1959-1961) đã nghiên cứu ĐVPD ở vùng biển
đông nam Việt Nam và Vịnh Thái Lan đã có một số công trình đƣợc công bố: Sinh vật
lƣợng ĐVPD ở vịnh Thái Lan và vùng biển phía đông nam Việt Nam (Brinton, 1963);
Phân bố và số lƣợng của tôm Lân (Euphausia) ở biển miền Nam Việt Nam (Brinton và
Watanaprida, 1963); Một số loài Chân mái chèo ở vịnh Thái Lan (Flemiger, 1963);
Các loài chân cánh (Pteropoda) ở Vịnh Thái Lan và biển đông Nam Việt Nam
(Rottaman, 1963); Các loài Thủy mẫu (Medusa), Quản thủy mẫu (Siphonophora) và
Hàm tơ (Chaetognatha) ở vịnh Thái Lan và biển đông nam Việt Nam (Alvarino,
1963); Phân bố của một số giống và loài chân mái chèo trong tầng nƣớc mặt biển nam
Việt Nam (Bui Thi Lang, 1963) [30] v.v.
Chƣơng trình nghiên cứu tổng hợp Vịnh Bắc Bộ Việt - Trung (1959 - 1962) đã
điều tra hệ thống và liên tục hai đợt, mỗi đợt 12 tháng và thu đƣợc những tài liệu cơ
bản về ĐVPD. Dựa trên những tài liệu thu đƣợc, Nguyễn Văn Khôi và Đàm Quang
Hải (1967) đã công bố danh sách 127 loài Chân mái chèo (Copepoda) và danh mục
một số loài Hàm tơ (Chaetognatha) ở vịnh Bắc Bộ [14].
Năm (1994) Nguyễn Văn Khôi sử dụng một phần tƣ liệu của cuộc điều tra đã
Viện Nghiên cứu Biển năm 1970-1971 đã tổ chức điều tra vùng cửa sông Hồng,
sông Ninh Cơ và sông Đáy. Nguyễn Văn Khôi và Dƣơng Thị Thơm (1980) cho biết
thành phần loài và sự biến đổi tỷ lệ theo mùa của ĐVPD ở ba cửa sông này [15].
Chƣơng trình C.S.K (Cooperation Study of the Kuroshio and Adjacent Region)
của UNESCO (1973-1974) đã thu thập mẫu SVPD trong vùng biển từ Khánh Hòa đến
Cam Ranh và phân tích ở Singapo nhƣng mới công bố một số tài liệu thống kê số
lƣợng.
8
Nguyễn Tiến Cảnh (1977) đã có báo cáo về khối lƣợng SVPD và động vật đáy
ở vịnh Bắc Bộ [9].
Chƣơng trình điều tra tổng hợp vùng biển Thuận Hải - Minh Hải (1978 -1980)
đã tiến hành 15 chuyến khảo sát từ vùng biển Quy Nhơn đến Cà Mau. Từ các tài liệu
thu đƣợc Nguyễn Văn Khôi và cộng sự (1991) đã xác định đƣợc 212 loài ĐVPD, trong
đó có 8 giống và 18 loài mới so với danh sách tên loài đã công bố ở Việt Nam và cho
biết sự phân bố và biến động theo mùa của sinh vật lƣợng ĐVPD [16].
Từ năm 1979-1987, nhiều chuyến khảo sát nghiên cứu trên các tàu của Liên Xô
Nauka, Sokalski, Gerakl, Santar v.v… cũng đã thu thập mẫu về SVPD ở vùng biển
miền Nam Việt Nam.
Nguyễn Trọng Nho và cộng sự (1991) có nghiên cứu về cơ sở thức ăn trong
biển. Các tác giả đã tính toán khối lƣợng, năng suất sinh học và trữ lƣợng của SVPD
và ĐVĐ là thức ăn cho các động vật khai thác ở vùng biển Thuận Hải từ 20m nƣớc trở
vào bờ [21].
Nguyễn Tiến Cảnh (1991, 1996), đã xác định khối lƣợng và NSSH của ĐVPD
ở các vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên khu vực nghiên cứu chƣa bao trùm hết vùng
biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam [10].
Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Cho, Nguyễn Tấn Hóa (1994) trên cơ sở tập hợp
các tài liệu về thành phần ĐVPD từ 1959 ở Việt Nam đã phân tích đặc tính thành phần
loài ĐVPD biển Việt Nam [18].
1.3.1. Vị trí địa lý
Bạch Long Vĩ là đảo xa bờ nhất của Việt Nam trong vịnh Bắc bộ. Đảo có tọa độ
địa lý 20o07'35'' và 20o08'36'' vĩ độ Bắc; 107 o42'20'' - 107o44'15'' kinh độ Đông. Do vị
trí giữa vịnh (cách Hòn Dấu - Hải Phòng 110 km, cách đảo Hạ Mai 70 km, cách mũi
Ta Chiao - Hải Nam 130 km), đảo có một vị trí quan trọng trong việc mở rộng vùng
biển và phân định biển vịnh Bắc bộ. Ngoài ra, đảo còn nằm trên một trong 8 ngƣ
trƣờng lớn của vịnh, có một vị trí quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế, an
ninh - quốc phòng biển của nƣớc ta ở vịnh Bắc bộ [13].
10
Hình 1.1. Bản đồ khu vực huyện đảo Bạch Long Vĩ
(Nguồn: Nguyễn Văn Hiếu và cộng sự 2013)
1.3.2. Đặc điểm khí tƣợng thuỷ văn
Khí hậu Bạch Long Vĩ đại diện cho vùng khơi vịnh Bắc Bộ, có hai mùa chính.
Mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 8, thời tiết nóng ẩm và mƣa nhiều, gió mùa Tây Nam
với tần suất hƣớng nam 74 - 88%, tốc độ trung bình 5,9 - 7,7m/s.. Mùa khô từ tháng 10
đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh, khô và ít mƣa, hƣớng gió thịnh hành là bắc và
đông chiếm tần suất 86 - 94%, tốc độ trung bình 6,5 - 8,2m/s. (hình 1.2).
11
Tốc độ (m/s)
9.0
8.5
8.0
Hình 1.2. Biến động tốc độ gió trung bình trong năm tại Bạch Long Vĩ
(Nguồn: Nguyễn Văn Hiếu và cộng sự 2013)
Nhiệt độ không khí trung bình năm đạt 23.3oC, cao vào các tháng 6, 7 và 8 (đạt
trên 28oC) và thấp vào các tháng 1 và 2 (đạt 16,6 - 16,8oC). Biên độ nhiệt ngày đêm
nhỏ, thƣờng không quá 5 oC và mùa lạnh thƣờng bắt đầu và kết thúc muộn hơn so với
Nhiệt độ (oC)
vùng ven bờ (hình 1.3).
30.0
27.5
25.0
22.5
20.0
17.5
15.0
I
II
III
IV
V
VI
VII
các sƣờn dốc hẹp hoặc vách dốc. Bề mặt đỉnh chia nƣớc khá bằng phẳng, dài khoảng
1,3 km, rộng khoảng 100m. Bề mặt 10 - 15m, phân bố ở bờ Đông, mũi Đông Bắc đảo,
hẹp hơn ở mũi Tây Nam đảo và bờ Tây, góc dốc 3 - 8o. Bề mặt cao 4 - 6m phân bố
chủ yếu ở bờ đông, mũi Đông Bắc và mũi Tây Nam, góc dốc 3 - 8o, khá bằng phẳng,
độ cao không lớn, phù hợp cho xây dựng công trình, nhà ở. Bề mặt cao 1 - 3m tạo
thành một dải gần nhƣ liên tục, phân bố quanh đảo. Phủ trên mặt là các loại đất cát
dày 1 - 2m.
1.3.3. Đặc điểm môi trƣờng nƣớc biển
Nƣớc biển quanh khu vực đảo có nhiệt độ dao động từ 18,7 đến 29,7oC, trung
bình 24,4oC. Nhiệt độ nƣớc biển thƣờng thấp vào tháng mùa đông (tháng 11 đến tháng
4 năm sau), dao động từ 18,7 đến 20,9oC. Các tháng mùa hè nhiệt độ nƣớc cao hơn,
tháng 7, 8 nhiệt độ nƣớc dao động từ 24,0 - 29,7oC. Nƣớc biển khu vực ven đảo có độ
muối cao và khá ổn định từ 32,2 - 33,8‰, trung bình 33,1‰ và có sự khác biệt theo
mùa mƣa và khô. Độ muối của khu vực quanh đảo khá cao 33,1-34,0‰. Kết quả quan
trắc năm 2007 của Trần Lƣu Khanh (2007), tháng 4-5 ghi nhận độ muối trong nƣớc
khu vực trung bình đạt 34,1‰; tháng 9 - 10, độ muối thấp hơn (trung bình 32,6‰).
Hàm lƣợng DO tại khu vực biển Bạch Long Vĩ khá cao dao động từ 4,77-5,50mg/l,
trung bình đạt 5,22mg/l. Trị số pH trong nƣớc khu vực ven đảo mang đặc trƣng môi
trƣờng nƣớc biển khơi với các kết quả nghiên cứu đều cho giá trị kiềm yếu và nằm
trong GHCP (6,5 - 8,5). Do nằm khá xa đất liền nên không bị ảnh hƣởng nhiều bởi
nguồn nƣớc đục từ lục địa đổ ra, do đó môi trƣờng nƣớc biển ven đảo Bạch Long Vĩ
có độ đục khá thấp, dao động 2 - 9 NTU, trung bình 4,4 NTU [13].
13
Bảng 1.1. Giá trị các thông số môi trƣờng cơ bản nƣớc biển quanh đảo
Bạch Long Vĩ
Thông số
33,7
31,0
5,60
4,59
8,05
7,79
2,0
3,0
Cao nhất
24,6
30,0
34,2
33,4
6,70
5,56
(Nguồn: Nguyễn văn Hiếu và cộng sự 2013)
- Hàm lượng N-NO2-: Hàm lƣợng N-NO2- dao động từ 0,003 - 0,009mg/l; vào
mùa mƣa hàm lƣợng N-NO2- trung bình 0,005mg/l cao hơn so với mùa khô (trung bình
0,003mg/l). Nƣớc trong khu vực âu tàu có hàm lƣợng N-NO2- trung bình 0,007mg/l
cao hơn so với nƣớc khu vực ven đảo (trung bình 0,003 - 0,006mg/l). Các giá trị quan
trắc hàm lƣợng N-NO2- đều thấp hơn nhiều so với GHCP (0,020mg/l) theo đề tài KT 03
- 07 và ngƣỡng đề xuất của ASEAN (0,055mg/l) [13].
- Hàm lượng N-NO3-: Muối dinh dƣỡng N-NO3- ven đảo có hàm lƣợng cao
trong các tháng mùa mƣa (0,007 - 0,037mg/l), mùa khô hàm lƣợng thấp hơn dao động
0,006 - 0,027mg/l. Chênh lệch giữa tầng mặt (trung bình 0,016mg/l) và tầng đáy không
lớn (trung bình 0,017mg/l). So với GHCP (0,5mg/l) theo tiêu chuẩn của đề tài KT 0307, các kết quả quan trắc tại khu vực đảo Bạch Long Vĩ đều thấp hơn nhiều. Tuy
nhiên, ở các trạm nghiên cứu trong khu vực âu tàu, hàm lƣợng N-NO3- trung bình đạt
0,169mg/l cao hơn GHCP (0,060mg/l) theo tiêu chuẩn chất lƣợng nƣớc biển của
ASEAN đề xuất [13].
- Hàm lượng N-NH4+: Hàm lƣợng N-NH4+ dao động từ 0,003- 0,032mg/l, thấp
hơn nhiều so với GHCP (0,5mg/l) theo QCVN 10:2008 áp dụng cho nƣớc biển phục
vụ nuôi trồng thuỷ sản, bảo tồn thuỷ sinh. Cục bộ một số điểm quan trắc có hàm
lƣợng N-NH4+ vƣợt GHCP (0,07mg/l) theo tiêu chuẩn ASEAN, đặc biệt trong khu
vực âu tàu, hàm lƣợng N-NH4+ khá cao vƣợt GHCP khoảng 1,2 - 1,5 lần [13].
- Hàm lượng P-PO43-: Hàm lƣợng P-PO43- khá thấp, trung bình 0,008mg/l, vào
mùa mƣa khu vực có biểu hiện ô nhiễm với hàm lƣợng P-PO43- vƣợt GHCP (0,015mg/l
14