Nghiên cứu đa dạng thành phần loài cây tinh dầu và đánh giá giá trị của một số loài đại diện tại vườn quốc gia cát bà, thành phố hải phòng - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

Phạm Phương Đông
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài cây tinh dầu
và đánh giá giá trị của một số loài đại diện tại Vườn Quốc gia Cát Bà,
thành phố Hải Phòng

LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGÀNH SINH HỌC

HÀ NỘI, THÁNG 10 NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

Phạm Phương Đông
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài cây tinh dầu
và đánh giá giá trị của một số loài đại diện tại Vườn Quốc gia Cát Bà,
thành phố Hải Phòng
Chuyên ngành: Thực vật học

Hải Phòng, ngày

tháng 10 năm 2018

TÁC GIẢ

Phạm Phương Đông


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các kết quả
nêu trong luận văn là trung thực, các số liệu tham khảo đều có nguồn trích dẫn
rõ ràng, các hình ảnh được sử dụng trong luận văn là hình của riêng tôi được
thực hiện trong quá trình thực hiện đề tài, chưa từng được ai công bố trong các
công trình nghiên cứu khác.
Hải Phòng, tháng 10 năm 2018
TÁC GIẢ

Phạm Phương Đông


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của Đề tài ................................................................................ 1

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................................. 29
3.1. Thành phần loài cây tinh dầu tại VQG Cát Bà ......................................... 29
3.2. Đa dạng cây tinh dầu tại VQG Cát Bà...................................................... 31
3.2.1. So sánh cây tinh dầu tại VQG Cát Bà so với Việt Nam .................... 31
3.2.2. Đa dạng ở bậc dưới ngành.................................................................. 32
3.2.3. Đa dạng về dạng sống cây tinh dầu tại Vườn Quốc gia Cát Bà. ........ 37
3.2.4. Đa dạng về công dụng của các loài cây tinh dầu ............................... 38
3.3. Các loài cây tinh dầu có nguồn gen quý hiếm bị đe dọa .......................... 41
3.4. Thành phần hóa học trong tinh dầu của một số loài cây tại Vườn Quốc gia
Cát Bà............................................................................................................... 42
3.4.1. Thành phần hóa học trong tinh dầu loài sài hồ- Pluchea pteropoda . 42
3.4.2. Thành phần hóa học trong tinh dầu loài Dạ hợp (Magnolia coco) .... 43
3.4.3. Thành phần hóa học trong tinh dầu loài Nguyệt quế (Murraya
paniculata).................................................................................................... 45
3.4.4. Thành phần hóa học trong tinh dầu loài Hàm ếch rừng (Piper bonii)46
3.4.5. Thành phần hóa học trong tinh dầu loài Lãnh công rợt (Fissistigma
pallens) ......................................................................................................... 47
3.4.6. Thành phần hóa học trong tinh dầu loài Na biển (Annona glabra) ... 48
3.4.7. Thành phần hóa học trong tinh dầu loài Bưởi bung (Acronychia
pedunculata) ................................................................................................. 51
3.5. Các giải pháp đề xuất nhằm bảo tồn đa dạng cây tinh dầu tại Vườn Quốc
gia Cát Bà......................................................................................................... 53
3.5.1. Nguyên nhân suy giảm đa dạng cây tinh dầu tại Vườn Quốc gia Cát
Bà .................................................................................................................. 54
3.5.2. Các giải pháp bảo tồn đa dạng cây tại Vườn Quốc gia Cát Bà .......... 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................. 57
1. Kết luận ........................................................................................................ 57
2. Kiến nghị...................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 59
PHỤ LỤC


KBTTN

Khu bảo tồn thiên nhiên



Nghị định

UBND

Uỷ ban nhân dân

WWF

World Wide Fund For Nature (Quỹ quốc tế bảo vệ thiên
nhiên)


DANH MỤC BẢNG
- Bảng 3.1. Sự phân bố các taxon của cây tinh dầu ở VQG Cát Bà;
- Bảng 3.2. So sánh hệ cây tinh dầu của Cát Bà với hệ cây tinh dầu Việt Nam;
- Bảng 3.3. Mười họ đa dạng nhất của cây có chứa tinh dầu tại Vườn Quốc gia
Cát Bà, Hải Phòng;
- Bảng 3.4. Sự phân bố số lượng loài cây tinh dầu trong các họ;
- Bảng 3.5. So sánh các họ có nhiều loài cây tinh dầu ở Cát Bà (1) với số loài
cây ở Cát Bà;
- Bảng 3.6. Thống kế các chi có nhiều loài chứa tinh dầu nhất;
- Bảng 3.7. Dạng cây của các cây tinh dầu tại Vườn Quốc gia Cát Bà;
- Bảng 3.8. Số lượng loài có nhiều công dụng



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Tài nguyên thực vật là nguồn tài nguyên vô giá mà thiên nhiên đã ban
tặng cho con người, trong đó có nguồn tài nguyên về cây tinh dầu. Từ xa xưa
cho đến nay con người chúng ta không ngừng tìm tòi, nghiên cứu sử dụng nguồn
tài nguyên cây tinh dầu để làm ra các sản phẩm phục vụ cho chính con người.
Cùng với những kinh nghiệm chiết xuất tinh dầu cổ truyền của các dân tộc anh
em, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đưa ngành chiết xuất tinh dầu theo
hướng công nghiệp và sản xuất có tính chuyên sâu nhằm tạo ra các sản phẩm
chất lượng và năng suất cao đã cho thấy giá trị của nó đời sống của con người.
Các thành phần loài cây tinh dầu được phân bố rộng và khá đa dạng. Tại
Việt Nam, theo Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001) [21], số loài cây tinh dầu trong
hệ thực vật nước ta gồm có khoảng 657 loài thuộc 357 chi và 115 họ (chiếm
khoảng 6,3% tổng số loài, 15,8% tổng số chi và 37,8% số họ thực vật bậc cao có
mạch).
Tuy nhiên hiện nay, sự đa dạng sinh học nói chung, đa dạng về cây tinh
dầu nói riêng đang bị tổn thương và suy thoái nghiêm trọng, nguyên nhân sâu xa
là do sự gia tăng dân số và sự đói nghèo. Một nguyên nhân không kém phần
quan trọng, do nhận thức chưa đúng đắn về nguồn tài nguyên cây rừng, người ta
chỉ hiểu đơn giản là cung cấp gỗ mà ít chú ý tới giá trị các sản phẩm khác. Chính
vì vậy, đã dẫn đến quá trình khai thác quá mức, sử dụng lãng phí và làm suy
giảm một cách nhanh chóng nguồn tài nguyên cây tinh dầu quý giá này. Hơn thế
nữa, một thực tế khi hoàn cảnh sống được nâng cao thì việc sử dụng các loại
tinh dầu càng được đẩy mạnh việc cung không đáp ứng được nhu cầu, đồng thời
không có biện pháp trồng thay thế sẽ dẫn đến hệ lụy làm giảm nguồn tài nguyên
này.
Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, trong những năm gần đây
tại Vườn quốc gia cát Bà - Thành phố Hải Phòng tình trạng khai thác tài nguyên

gia Cát Bà, thành phố Hải Phòng.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn
- Ý nghĩa khoa học
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương Đông

Page 2


Kết quả của đề tài góp phần bổ sung và hoàn chỉnh dữ liệu về nguồn tài
nguyên cây tinh dầu tại Vườn quốc gia Cát Bà, Hải Phòng.
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học bước đầu phục vụ cho các ngành ứng
dụng và sản xuất như Nông- Lâm nghiệp, Dược học, Tài nguyên thực vật...
4. Những điểm mới của luận văn
- Đây là công trình nghiên cứu về đa dạng thành phần loài cây tinh dầu
đầu tiên tại Vườn Quốc gia Cát Bà, bao gồm 281 loài thuộc 145 chi, 35 họ,
thuộc 2 ngành bao gồm: Ngành thông (Pinophyta) và ngành Mộc lan
(Magnoliophyta);
- Xây dựng danh lục, đánh giá đa dạng các bậc taxon, đánh giá đa dạng về
dạng sống, giá trị sử dụng, đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển đa
dạng cây tinh dầu;
- Thống kê những loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng trong sách đỏ
Việt Nam năm 2007, IUCN 2012, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP.
- Phân tích và đánh giá giá trị tinh dầu từ một số loài cây tinh dầu tại
Vườn Quốc gia Cát Bà, thành phố Hải Phòng.
5. Bố cục luận văn
Luận văn gồm 58 trang, được chia thành các phần: Mở đầu (03 trang),
Tổng quan nghiên cứu (20 trang), Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên
cứu (6 trang); Kết quả nghiên cứu (28 trang); Kết luận và kiến nghị (2 trang),
Tài liệu tham khảo và các phụ lục liên quan.

đây khoảng một trăm năm. Năm 1847, Buterov đã nghiên cứu thành phần tinh
dầu Long não, tách được camphor ra khỏi tinh dầu Long não, đặt nền móng cho
nghiên cứu hóa học tinh dầu [18]. Từ thế kỷ 20 đến những năm đầu của thế kỷ
21, cùng với sự tiến bộ của nhân loại và sự phát triển của khoa học kỹ thuật,
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương Đông

Page 4


ngành công nghiệp sản xuất tinh dầu đã dần phát triển, tinh dầu trở thành một
sản phẩm không thể thiếu trong đời sống con người.
Ta ̣i các quốc gia đang phát triển và chưa phát triến, có tới 80% dân số tỏ ra
tín nhiệm với việc chăm sóc sức khoẻ bằng y học cổ truyền, mà trong đó cây
tinh dầu dùng làm thuốc được sự tin dùng khá nhiều. Hiện chưa có con số thống
kê nào về tổng khối lượng nguyên liệu các loài cây thuố c có chứa tinh dầu đươ ̣c
sử du ̣ng hàng năm là bao nhiêu. Chỉ ước đoán rằng, đó sẽ là một khối lượng rất
lớn. Chỉ riêng ở Trung Quốc, nhu cầu sử du ̣ng cây thuốc có chứa tinh dầu vào
khoảng 1.600.000 tấn/năm, với tỷ lệ gia tăng hàng năm khoảng 9%. Tỷ lệ này ở
châu Âu và Bắc Mỹ khoảng 10%/năm [21].
Về thành phần hoá học: Khái niệm tinh dầu để chỉ các chất lỏng không
tan trong nước, hoặc hòa tan rất ít, chứa các hợp chất hữu cơ tan lẫn vào nhau,
dễ bay hơi và có mùi đặc trưng. Tinh dầu là tổ hợp các chất tự nhiên khoảng từ
20 đến hàng trăm đơn chất trong mỗi loài. Chúng được mô tả bởi 2 hay 3 chất
chính chiếm hàm lượng cao (20-70%) khi so sánh với những thành phần khác
hiện diện trong tổng số. Ví dụ: carvacrol (30%) và thymol (27%) là thành phần
chính của tinh dầu loài Origanum compactum, linalool (68%) trong thành phần
tinh dầu của loài Coriandrum sativum, anpha và Beta-thuyone (57%) và
camphor (24%) trong tinh dầu Artemisia herba-alba, 1.8-cineole (trên 50%) của
tinh dầu Tràm – Melaleuca lecadendron, anpha phellandrene (36%) và limonene
(31%) của lá và carvone (58%), limonene (37%) của tinh dầu từ hạt Anethum

cộng sự đã tiến hành so sánh về hàm lượng và thành phần các cấu tử trong tinh
dầu Oải hương (Lavandula angustifolia) thu được bằng các phương pháp chiết
xuất khác nhau, cho thấy rằng việc chưng cất nước (WD) tạo ra sản lượng cao
nhất (1,2%), tiếp theo là chưng cất hơi nước (WSD) (1,12%), chiết xuất dung
môi (SE) (0,8%) và chiết xuất CO2 siêu tới hạn (SCE) (0,5%). Linalyl axetat và
các este có vai trò quan trọng nhất quyết định chất lượng hương vị hoa oải
hương, được ghi nhận là cao hơn trong sản phẩm dễ bay hơi của SCE (51,8%),
tiếp theo là SE và WSD (31,4%) và WD (26,8%). Ngược lại, linalool được tìm
thấy nhiều nhất trong phân lượng dễ bay hơi do WD sản xuất (30,9%) theo sau
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương Đông

Page 6




SCE

(23%),

WSD

(20,5%)



SE

(17,3%).


nhu cầu của thế giới. Thị trường Canada bị thống trị bởi nước hoa và công
nghiệp hương liệu cung cấp từ Hoa Kỳ. Pháp chiếm lĩnh thị trường nước hoa thế
giới, và Thụy Sỹ là một trong những nước đứng đầu sử dụng tinh dầu ở lĩnh vực
dược học. Anh và Ấn Độ được biết đến với thế mạnh về các loại hương liệu.
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương Đông

Page 7


Các nước có sản lượng trồng cấy tinh dầu lớn trên thế giới hiện nay là: Brazil,
Trung Quốc, Ai cập, Ấn Độ, Mehico, Guatemala và Indonexia [31].
Sản phẩm tinh dầu của nhóm Cam chanh (lemon, lime, bergamot,..), được
tiêu thụ lớn nhất trên toàn cầu, phục vụ cho công nghiệp đồ uống, sản xuất bánh
kẹo. Tiếp đến là Bạc hà cay (peppermint) sử dụng cho sản xuất kẹo, kẹo cao su,
nước súc miệng và thuốc lá. Đứng thứ 3 về sản lượng tiêu thụ là Oải hương
(lavender), Oải hương được sử dụng nhiều trong công nghiệp hoá mỹ phẩm, như
nước hoa, kem bôi da, dầu gội sữa tắm, bởi những công dụng như hương thơm
quyến rũ, có khả năng giảm stress, kháng khuẩn, được coi là mùi hương cổ điển
tại Châu Âu .v.v... (CBI’s, 2007). Con số thống kê sản lượng tinh dầu hàng năm
trên thế giới là 120.000 tấn tinh dầu, đạt giá trị 4 tỷ đô la Mỹ. Trong đó, nhóm
cam chanh mỗi năm được sản xuất khoảng 30.000 tấn, Bạc hà 16.000 tấn, bạc hà
cay (peppermint) 4.000 tấn, Sả chanh 3.000 tấn, Oải hương 420 tấn [31].
Dương cam cúc/Cúc la mã (Chamomile - Matricaria chamomilla L.) một
trong những dược liệu cổ xưa nhất được biết đến với nhân loại, là loài bản địa
phía Nam và phía Tây của Châu Âu. Loài này có ở các nước Đức, Hungary,
Pháp, Nga, Yugoslavia, và Brazil. Được nhập nội vào Ấn Độ trong thời kỳ
Mughal, và trồng tại các khu vực Punjab, Uttar Pradesh, Maharashtra, và
Jammu, Kashmir. Hoa khô của loài này có chứa nhiều terpenoid và flavonoid
góp phần vào khả năng chữa bệnh [27,28]. Các chế phẩm hoa cúc thường được
sử dụng cho nhiều bệnh của con người như sốt, viêm, co thắt cơ, rối loạn kinh

1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.2.1. Đa dạng cây có chứa tinh dầu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, hiện nay theo Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001), số loài cây
tinh dầu trong hệ cây nước ta gồm có khoảng 657 loài thuộc 357 chi và 115 họ
(chiếm khoảng 6.3% tổng số loài, 15.8% tổng số chi và 37.8% số họ cây bậc cao
có mạch). Những họ có số loài chứa tinh dầu nhiều nhất gồm: Họ Sim
(Myrtaceae), họ Bạc hà (Lamiaceae), họ Hoa tán (Apiaceae), họ Cúc
(Asteraceae), họ Cam (Rutaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Thông
(Pinaceae), họ Hoa hồng (Rosaceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ Hoàng đàn
(Cupressaceae),..[21]
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương Đông

Page 9


Việt Nam nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm rất thích hợp cho việc
phát triển các loại cây tinh dầu, nhiều loại cây tinh dầu đã góp phần quan trọng
vào việc cải thiện đời sống kinh tế, tạo ra nhiều sản phẩm dùng trong nước cho
các ngành công nghiệp tiêu dùng và xuất khẩu, nhất là phục vụ cho ngành Y tế
để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người.
Hiện tại trên cả nước đã hình thành một số vùng, khu vực trồng dược liệu
cho tinh dầu tương đối tập trung đã và đang được khai thác trở thành sản phẩm
thương mại đặc trưng cho từng vùng như tinh dầu Quế thanh (Cinnamomum
cassia) ở Yên Bái, Quảng Nam; tinh dầu Hồi (Illicium verum) ở Lạng Sơn; tinh
dầu Thảo quả (Amomum aromaticum) ở Lào Cai, tinh dầu Sả (Cymbopogon
citratus) ở Tuyên Quang, Yên Bái, Nghệ An; tinh dầu Tràm (Melaleuca
cajuputi) ở Quảng Bình, tinh dầu Bạc Hà (Mentha spp.) ở Hưng Yên, Hà
Nam…[21].
Nhiều loài dược liệu cho tinh dầu những năm trước đây có trữ lượng khá
lớn nhưng đã bị khai thác cạn kiệt do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu do các

đã chia các mẫu tinh dẫu thành 5 nhóm, và 6 thứ (có thể gọi là các type hóa học)
theo tinh dầu của lá, hoa quả khi phân loại. Đây là một đóng góp mới, vì trên thế
giới người ta chủ yếu phân loại cây Long não dựa trên thành phần hóa học tinh
dầu (Chemotaxonomy) của lá hay tinh dầu gỗ thân vì thế có thể bỏ qua 01 thứ
của loài Long não theo bậc phân loại [21].
Năm 1995, Nguyễn Xuân Dũng tiến hành Nghiên cứu góp phần phân loại
bằng hóa học cây thuốc và tinh dầu, các cây trong chi Riềng, Long não, Cúc,
Hoa môi, Sim, Cam của 12 chi và 60 loài, lần đầu tiên xác lập được các cấu tử
chìa khóa của các loài đã có tên cây, kết quả này góp phần sáng tỏ thêm cho việc
phân loại trên hình thái của chúng [10].
Năm 2014, Bùi Văn Hướng và nhóm nghiên cứu đã bước đầu tiến hành
nghiên cứu tinh dầu lá của loài giổi chanh (Michelia citrata) nguồn gốc tự nhiên
tại Quản Bạ, Hà Giang. Theo đó, xác định được hàm lượng tinh dầu trong lá đạt
được 0,38% (theo nguyên liệu khô tuyệt đối). Bằng phương pháp sắc ký khí
khối phổ (GC-MS) đã tách và bước đầu xác định được 27 hợp chất chiếm
92,89% tổng khối lượng tinh dầu. Các thành phần có tỷ lệ lớn trong tinh dầu từ
lá loài Giổi chanh là Linalool (11,79%), Citronellal (11,51%), α-Citral
(13,51%), β-Citral (10,91%), Citronellol (9,63%). Dựa trên khảo sát hóa học,
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương Đông

Page 11


thành phần chính trong tinh dầu lá Giổi chanh là Citronellal và Citral là những
chất có khả năng xua muỗi và côn trùng, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát
khả năng xua muỗi từ tinh dầu của Giổi chanh và thu được kết quả khả quan.
Khả năng xua muỗi Aedes aegypti của tinh dầu loài Giổi chanh - Michelia
citrata 10% cho kết quả tỉ lệ giảm đốt là trên 90% trong 1 giờ. Thử nghiệm tác
dụng xua muỗi Aedes aegypti của tinh dầu có nồng độ 20%, 40%, 60% cho kết
quả tỉ lệ giảm đốt đạt hơn 90% trong 2 giờ thử nghiệm, sau đó giảm dần tác

huyết, giúp phòng chống bệnh tiểu đường hiệu quả, do thể hiện hoạt tính quét
gốc tự do DPPH và ức chế enzym anpha-glucosidase ở nồng độ 500µg/ml, tinh
dầu ở lá Sả không thể hiện hoạt tính này. Thăm dò hoạt tính sinh học trên dòng
tế bào ung thư phổi A-549 cho thấy các mẫu thử đầu có giá trị IC50 thấp, chứng
tỏ hoạt tính mạnh trên dòng tế bào ung thư này [26].
Lê Thị Hương (2016) trong đề tài luận án “Nghiên cứu một số đặc điểm
sinh học, thành phần hóa học tinh dầu của một số loài trong chi Riềng (Alpinia
Roxb.) và Sa nhân (Amomum Roxb.) thuộc họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.) ở
Bắc Trung Bộ” đã cung cấp những dẫn liệu về hàm lượng, thành phần hóa học
trong tinh dầu ở các bộ phận lá, thân giả, thân rễ, hoa và quả của 12 loài với các
hợp chất chủ yếu là monotecpen và sesquitecpen. Lần đầu tiên cung cấp những
dẫn liệu về tinh dầu của các loài: Alpinia menghaiensis, Alpinia polyantha,
Amomum maximum, Amomum muricarpum, Amomum gagnepainii [14].
Lê Đồng Hiếu (2017), đã định được 36 loài và thứ thuộc 3 chi, trong đó
chi Piper là đa dạng nhất với 33 loài và ghi nhận vùng phân bố mới của 28 loài
cho khu hệ Cây Bắc Trung Bộ; xác định hàm lượng và phân tích thành phần hóa
học tinh dầu của 36 mẫu thuộc 18 loài trong chi Hồ tiêu (Piper). Trong đó, lần
đầu tiên xác định hàm lượng và thành phần hóa học tinh dầu của 13 loài (Tiêu lá
gai- Piper boehmeriifolium, Tiêu thân ngắn- Piper brevicaule, Tiêu cam bốtPiper cambodianum, Tiêu lá hoa mập- Piper carnibracteum...[11].
Hoàng Danh Trung (2018), khi nghiên cứu về tinh dầu của 4 chi Hồng bì
(Clausena), Ba chạc (Euodia), Cơm rượu (Glycosmis), Muồng truổng
(Zanthoxylum) thuộc họ Cam (Rutaceae) ở Nghệ An đã cung cấp các dẫn liệu
tương đối đầy đủ và có hệ thống về các loài cây thuộc 4 chi này ở Nghệ An; tác
giả cũng cung cấp dẫn liệu về hàm lượng, thành phần hóa học tinh dầu ở lá,
thân, rễ, vỏ, quả của 15 loài trong 4 chi nghiên cứu; trong đó lần đầu tiên cung
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương Đông

Page 13



Page 14


- Phía Đông và Đông Nam giáp vịnh Lan Hạ.
Vườn Quốc gia Cát Bà được thành lập theo quyết định số 79 CT ngày
31/12/1986 của Chủ tịch hội đồng bộ trưởng. Ngày 20/10/1998 theo công văn số
1737/NN của Chủ tịch hội đồng bộ trưởng, Vườn quốc gia Cát Bà được chuyển
giao cho Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn), đến
ngày 06/4/2004 Thủ tướng Chính phủ đă ban hành Quyết định số 333/QĐ-TTg
về việc chuyển Vườn quốc gia Cát Bà về thành phố Hải Phòng quản lý. Ngày
29/12/2004 Vườn quốc gia Cát Bà - khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia và khu dự
trữ sinh quyển thế giới quần đảo Cát Bà được UNESCO chính thức công nhận
[theo 7, 25].

Hình: 1.1. Bản đồ khu vực Vườn Quốc gia Cát Bà
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương Đông

Page 15


1.4.1.2. Địa hình, địa mạo
Cát Bà nằm trong vùng quần đảo đá vôi bao gồm hàng ngàn hòn đảo lớn
nhỏ, những hòn đảo này kéo dài tạo thành hình cánh cung và song song với cánh
cung Đông Triều. Các hòn đảo có độ cao phổ biến từ 100 - 150m so mặt nước
biển, nơi cao nhất thuộc đỉnh Cao Vọng 331m. Các đảo nhỏ có đầy đủ các dạng
địa hình của một miền Karst bị ngập nước.
1.4.1.3. Địa chất, thổ nhưỡng:
Địa chất: Theo tài liệu và bản đồ địa chất tỷ lệ 1/500.000 miền Bắc
Việt Nam cho thấy Khu vực Cát Bà cũng như phần Đông Bắc Việt Nam có
lịch sử phát triển địa chất lâu dài, từng là một bộ bộ phận của cấu trúc uốn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status