Nghiên cứu đa dạng thành phần loài cây có củ tại xã nam viêm thị xã phúc yên tỉnh vĩnh phúc - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới sự hưỡng dẫn trực tiếp của
Thạc sĩ Dương Thị Thanh Thảo, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và Tiến
sĩ Lê Đồng Tấn, Trung tâm nghiên cứu Công nghệ cao, Viện Hàn lâm Khoa
học và Công nghệ Việt Nam đã quan tâm, tận tình giúp đỡ em rất nhiều để em
có được một khóa luận đạt kết quả tốt nhất.
Em cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của các cán bộ phòng Thực vật Dân tộc
học, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và
Công nghệ Việt Nam đã cung cấp thêm cho em các tài liệu và làm một số tiêu
bản về cây có củ trong nghiên cứu.
Ngoài ra, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa
Sinh - Kĩ thuật Nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều
kiện cho em để em có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2014.
Người thực hiện

Đỗ Thị Trang


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nghiên cứu, số liệu được trình bày trong khóa luận là trung thực và không
trùng với công trình của các tác giả khác.
Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2014.
Người thực hiện

Đỗ Thị Trang


Bảng 3.5. Nhóm cây làm gia vị............................................................................................23
Bảng 3.6. Nhóm cây có tác dụng làm thuốc.........................................................................24
Bảng 3.7. Nhóm cây dùng làm cảnh....................................................................................26
Bảng 3.8. Nhóm cây chứa tinh dầu......................................................................................27
Bảng 3.9. Thực trạng một số loài cây có củ ở Nam Viêm...................................................29
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..............................................................................................32
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................34
PHỤ LỤC.............................................................................................................................38


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Từ rất xa xưa, con người đã biết khai thác và sử dụng các sản phẩm từ
thực vật để có thể tồn tại và phát triển, trong đó có các sản phẩm đặc biệt mà
chúng ta gọi là củ. Ngày nay, các loài cây có củ trở nên rất đa dạng, chúng
phân bố trên khắp thế giới, được sản xuất với chi phí đầu vào thấp và thường
được tiêu thụ bởi những người nghèo nhất, nhưng nó lại đóng góp đáng kể
cho an ninh lương thực cũng như được dùng làm nguyên liệu cho quá trình
sản xuất công nghiệp. Đối với người dân Việt thì các loài cây này là một phần
không thể thiếu trong đời sống, chúng xuất hiện trong dân ca Việt Nam, trong
các bài thuốc dân gian, trong những công thức làm đẹp từ thiên nhiên, là
nguyên liệu tạo mùi thơm cho các sản phẩm công nghiệp hay làm tăng thêm
tính thẩm mĩ, làm giàu có thêm cho tâm hồn con người,...
Nam Viêm là một xã thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, người dân
nơi đây gắn bó với đồng ruộng từ lâu đời, sự xen canh các cây trồng có củ
không chỉ phục vụ nhu cầu trong xã mà còn được trao đổi với các vùng lân
cận như xã Tiền Châu, phường Xuân Hòa... Với họ thì cây có củ cũng là một
bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu sản xuất nông nghiêp, đem lại nhiều lợi
ích về mặt kinh tế. Song do quá trình công nghiệp hóa đã làm cho cơ cấu
trồng, khai thác cây có củ có nhiều sự thay đổi và do chưa có nghiên cứu đầy

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các nghiên cứu về đa dạng thực vật
Theo IUCN (Liên minh Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế), đa dạng sinh học
(Biodiversity, biological): Là sự phong phú của sinh giới từ mọi nguồn trên
Trái Đất. Bao gồm đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái.
Việc nghiên cứu đa dạng các loài thực vật trên thế giới đã được tiến hành
từ lâu. Chủ yếu là nhằm xác định cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp
khoa học cho việc xác định các biện pháp kĩ thuật tác động vào các hệ thực
vật nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường.
1.1.1. Những nghiên cứu về thành phần loài
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu
được tiến hành từ lâu trên thế giới. Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên
cứu của Vusotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicop (1933),
Creepva (1978)... Theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm
thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi
thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó. Do đó
việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là một chỉ tiêu quan
trọng trong nghiên cứu đa dạng thực vật [7].
Pócs Tama’s (1965) đã thống kê được ở miền Bắc Việt Nam có 5.190
loài thực vật [25].
Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1970) đã thống kê và bổ sung số loài ở miền
Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ với 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540
loài thuộc các ngành còn lại [25].
Thái Văn Trừng (1978) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài
thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.850 chi, 289 họ [25].

3


1.1.2. Những nghiên cứu về dạng sống thực vật

Nhìn chung, những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên
thế giới và ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu, đánh giá thành phần loài ở
một vùng và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương
quan với điều kiện địa hình và khí hậu. Tuy vậy, số lượng các công trình
nghiên cứu còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn, rộng rãi hơn
nhằm mục đích có thể đánh giá chính xác thành phần loài thực vật đặc trưng
của một khu vực hoặc một quốc gia.
1.2. Những nghiên cứu về cây có củ
Trong "Từ điển Bách khoa Thực vật học Việt Nam", của tác giải Nguyễn
Bá và cộng sự, xuất bản 2014, đưa ra khái niệm về như sau: Củ (tuber) là
phần phình lên ở thân hoặc rễ, thường là biến dạng cho chức năng dự trữ,
thường là chỉ cho 1 năm mà thôi, ví dụ củ thân như Khoai tây (Solanum
tuberosum ), củ rễ như Thược dược (Dahlia pinnata). Củ rễ phát triển từ các
rễ phụ. Củ thân phân biệt với củ rễ ở chỗ có chồi hay ‘mắt’[1].
Còn cuốn sách "Plant resources of South- East Asia", tập 14, Vegetable
oils and fats, các tác giả H. A. M. var der Vossen và B. E. Umail (Editor) có
đề cập đến khái niệm về củ hành (buld): Là một cơ quan phía dưới mặt đất
với thân chính rất ngắn mang theo lá cơ sở phình ra hoặc các vảy lá kèm theo
đó là các chồi non [29].
Tác giả Trần Bá Cừ viết trong cuốn sách "Rau-hoa-quả-củ làm thuốc",
khái niệm về củ được giới thiệu như sau: Củ là các bộ phận của thực vật phát
triển ngầm dưới mặt đất, tích lũy chất dinh dưỡng dự trữ giúp cây qua thời kì
rụng lá mùa đông có điều kiện chuyển lên phát triển các chồi xuân năm sau
khỏi mặt đất hay thúc các mầm ngủ trên thân, cành, ngọn cây đông trước đã
rụng lá mọc lên. Ba dạng thường gặp:

5


1. Rễ củ (tuberculum) như củ Khoai lang, củ Sắn dây thường chứa

Thân củ có thể hình thành trên mặt đất và có màu lục (như Su hào), hoặc hình
thành ở dưới đất (như Khoai tây). Mỗi củ Khoai tây do một cành biến đổi, khi
nằm trong đất nó không chứa diệp lục, nhưng để ra ngoài sáng nó lại có màu
lục [22].
Thực vật nước ta rất phong phú và đa dạng. Ở mỗi loài cây lại có lợi ích
khác nhau đối với cuộc sống của con người. Con người luôn luôn tìm tòi để
có hiểu biết hơn về thế giới thực vật, từ đó khai thác các giá trị khác nhau để
phục chính nhu cầu cuộc sống.
Theo Võ Văn Chi và Trần Hợp trong "Cây cỏ có ích ở Việt Nam" (2002)
đã chia ra 11 nhóm cây có ích bao gồm: nhóm cây cung cấp gỗ; nhóm cây cho
sợi; nhóm cây có nhựa mủ, gôm, tinh dầu; nhóm cây cho dầu béo, sáp mỡ;
nhóm cây cho dầu thơm (hương liệu); nhóm cây cho tanin, chất nhuộm; nhóm
cây làm thuốc, diệt sâu bọ, cỏ dại; nhóm cây làm lương thực, cây cho bột,
đường; nhóm cây làm thực phẩm; nhóm cây làm thức ăn gia súc và nhóm cây
cho gia vị, nước uống. Cây có củ được xếp vào nhóm cây làm lương thực [6].
Trong đó, củ tạo thành có thể là thân, rễ, thân ngầm của các loài cây
cho củ chứa các chất dinh dưỡng. Có khoảng 261 loài trong 90 chi và 50 họ
thực vật với nhiều loài cho củ trở thành cây lương thực như Khoai tây, Sắn,
Khoai lang [6].
Theo GS.TS Nguyễn Văn Luật thì cây có củ chiếm một vị thế đáng kể
trong cơ cấu lương thực của nước ta.Vị thế của cây có củ lương thực có lẽ đạt
đỉnh cao vào những khi thiếu gạo, mà đỉnh cao nhất vào thời gian trước năm
1945. Hồi trước cách mạng (1945), người dân quê thường phải ăn độn Khoai
lang, Khoai tây và các loại củ khác bù cho gạo thiếu trong bữa ăn của người
nghèo, chưa kể đến Rau má, củ Chuối, nõn Khoai bông,… Từ sau đổi mới
(sau 1986), không những ta đủ gạo ăn mà còn dư cho xuất khẩu hàng triệu

7




đậu có độc, gây nghiêm trọng đến tính mạng con người khi ăn nó, còn loài
Sắn dây lại là một loài mà củ của chúng có tác dụng giải độc [15].
Trong cuốn "Từ điển cây thuốc Viêt Nam" của Võ Văn Chi (2012) đã
giới thiệu về đặc điểm và công dụng của rất nhiều loài thực vật được sử dụng
làm thuốc trong đó có nhiều loài có củ như Gừng, Riềng, Cà rốt, Su hào,
Khoai lang,.. [5].
Sự nghiên cứu chuyên sâu vào công dụng của thực vật đảm bảo sự tìm
tòi và khai thác những tiềm năng ẩn chứa trong thực vật, không thể không
nhắc tới tiềm năng tinh dầu- nguồn nguyên liệu tự nhiên đặc trưng ở thực vật,
trong cuốn sách "Tài nguyên thực vật có tinh dầu" ở Việt Nam của Lã Đình
Mỡ và cộng sự đã chỉ ra nhiều chi thực vật cho tinh dầu trong đó phải kể tới
các chi trong họ Gừng (Zingiberaceae) trong đó có các chi: chi Gừng
(Zingiber) đã thông kê và mô tả tóm tắt 11 loài (theo Phạm Hoàng Hộ, 1993),
chi Riềng (Curcuma) có 15 loài (theo danh lục các loài thực vật Việt Nam,
2005), chi Nghệ (Apinia) theo thống kê của Nguyễn Quốc Bình (1994) có 24
loài thuộc chi này và tinh dầu có trong hầu hết các bộ phận (lá, hoa, 'thân',
thân rễ) của các loài trong các chi trên [21].
Màu sắc là cảm giác mang đến cho con người để cảm nhận được các nét
đẹp trong thế giới sinh vật, trong cuộc sống cũng như tập quán, văn hóa của
mỗi dân tộc, nhiều loài cây có củ được dùng để làm các nguyên liệu nhuộm
màu như: Củ nâu (Dioscorea cirrhosa Lour.), Củ nâu dài (Dioscorea sp.)
dùng để nhuộm nâu; lá Riềng (Apinia officinarum Hance.) dùng nhuộm gạo
màu xanh; Nghệ (Curcuma longa L.) lấy củ để nhuộm gạo, lá dùng nhuộm
sợi màu xanh; Nghệ đen (Curcuma zedoaria Rosc.), củ dùng để nhuộm gạo
và tơ; Gừng (Zingiber officinale Rosc.) dùng lá để nhuộm gạo màu xanh.
Khi nhắc đến cây có củ, một phần không thể thiếu trong công dụng của
chúng chính là làm đẹp, những bài thuốc làm đẹp từ thiên nhiên rất được ưa

9

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các loài cây có củ được trồng cũng như cây mọc hoang dại hay xuất
hiện trong các phiên chợ tại xã Nam Viêm.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng cây có củ tại 4 thôn: Khả Do, Tân Tiến, Đồng Cờ,
Nam Viêm thuộc xã Nam Viêm. Tập chung chủ yếu là những loài cây trồng
có củ được người dân sử dụng cũng như các loài mà người dân địa phương
biết.
2.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1/2013 đến tháng 5/2014.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp kế thừa
Kế thừa các tài liệu bao gồm sách, các bài tạp chí, đã được công bố để
tham khảo thành phần loài cây có củ có liên quan tại vùng nghiên cứu.
Sử dụng các tài liệu thống kê tại địa phương để tìm hiểu thông tin về
điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế, dân sinh; các báo cáo thống kê về tình
hình sản xuất nông lâm nghiệp để thu thập thông tin về cây có củ đã trồng
trên địa bàn. Tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu về cây có củ của địa phương đã
có trước đó hay không rồi tiến hành điều tra.
• Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

Khảo sát địa điểm nghiên cứu
Tiến hành xác định địa điểm nghiên cứu, từ đó chụp ảnh về địa điểm
nghiên cứu, các loài cây có củ tìm thấy trên đường đi và trong quá trình
nghiên cứu.

11



+ Phỏng vấn bán cấu trúc: Người được phỏng vấn tự do nói những
quan tâm của chính họ và để chia sẻ trực tiếp sự xuống cấp của bảo tồn.
Người phỏng vấn tin tưởng vào những câu hỏi mở để giới thiệu đề tài quan
tâm [28].
+ Phỏng vấn chéo: Là cách phỏng vấn để kiểm tra thông tin của
người khác đã đưa ra trong các lần phỏng vấn [23].
Sử dụng phiếu điều tra
Phiếu điều tra sử dụng được thể hiện trong phiếu 2.1 và phiếu 2.2
(Phần phụ lục).
Tiến hành thu thập mẫu
Tiến hành thu các mẫu cây có củ ở địa điểm nghiên cứu. Trong trường
hợp với những loài phổ biến đã dễ xác định tên loài thì có thể xác định ngay
tên loài trên thực địa. Các mẫu được thu thập cần đầy đủ cơ quan sinh dưỡng
(rễ, thân, lá, hoa, quả,...), đảm bảo không bị giập nát, gãy,...[28].
• Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

Kết quả sau mỗi đợt điều tra được tập hợp lại. Các thông tin dạng thô
cần được xử lí, chỉnh lí lại tên, công dụng cho thống nhất, phân nhóm công
dụng, dạng sống,... Sau khi có kết quả từ việc xác định tên khoa học, các
thông tin cùng loài sẽ được nhập với nhau. Các thông tin sẽ được xem xét,
kiểm tra, đối chiếu và thống nhất lại [23].

13


Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thành phần loài cây có củ tại xã Nam Viêm
Trong quá trình nghiên cứu bước đầu, chúng tôi đã bước đầu điều tra

Allium ascalonicum L. 1759.

Hành ta

Thảo

T

R

Alium cepa L. 1753.

Hành tây

Thảo

T

R

Allium fistulosum L. 1753.

Hành hoa

Thảo

T

R


TM

Tên khoa học

Họ Hành- Alliacea Agardh. 1858.

1.
2.
3.
4.
5.
6.

Họ Măng tây- Asparagaceae Juss.1789.
7. Polianthes tuberosa L. 1753.

14

G,
T,TD
G,
T,TD
G,
T,TD
G,
T,TD,
G,
T,TD

R

C, T

Thuỷ tiên

Thảo

T

V

C,T

Ráy dại

Thảo

D

R,V

T

Thảo

T

R,V

L-T, T


T

R

L-T, T

Thảo

T

V

Thảo bò

T

R,V

TD

Họ Náng- Amarylliaceae Jaume, 1805.

9. Hippeastrum puniceum (Lamk.)
Kuntze, 1891.

10.

Narcissus tazetta L. 1753.

Họ Ráy- Araceae Juss. 1789.

longipinnatus Bailey, 1923.
Họ Dong riềng- Cannaceae Juss. 1789.

17.

Canna edulis Ker- Grawl. 1823.

Dong
riềng

L-T,
T, C

Họ Khoai lang- Convolvulaceae Juss. 1789.

18.Ipomoea batatas (L.) Poir. in Lamk.
1791.

Khoai
lang

15

L-T, T


Họ Cói- Cyperaceae Juss. 1789.

19.



Thảo
leo

Họ Thầu dầu- Euphorbiaceae Juss. 1789.

21.

Manihot esculenta Crantz, 1766.

Sắn

Bụi

Họ Đậu- Fabaceae Lindl. 1836.

22.

Pachyrhizus erosus (L.) Urb.

23.Pueraria montana var. chinensis
(Ohwi) Maesen, 1988.

Củ đậu
Sắn dây

Thảo
leo
Thảo
leo

Thảo

T

V

L-T, T

Họ Hoàng tinh- Marantaceae Peter. 1888

25.

Maranta arundinacea L. 1753.

Hoàng
tinh

Họ Chuối- Musaceae Juss. 1789.

26.

Musa paradisiaca L. 1753.

Chuối
tiêu

Họ Sen- Nelumbonaceae Dumort. 1829.

27.




đỏ
Họ Hòa thảo- Poaceae Barnh. 1895.

29.Cymbopogom citratus (DC. ex Nees)
Stapf. 1906.

Sả

Thảo

T

R,V

Khoai tây

Thảo

T

R

Riềng

Thảo

T



31.

Alpinia officinarum Hance, 1872.

32.

Zingiber officinale Rosc. 1807.

33.

Curcuma longa L.1753.

G, T,
TD
G, T,
TD
G, T,
TD

Chú thích
T: Cây trồng

L-T: Lương thực, thực phẩm

D: Cây mọc dại

T: Thuốc

R: Ruộng

3.2. Tính đa dạng về dạng sống của cây có củ tại xã Nam Viêm
Trong các loài cây có củ tại xã Nam Viêm thì thấy dạng thân thảo chiếm
ưu thế, có 3 dạng thân thảo gồm: cây thân thảo đứng là chủ yếu gồm 16 họ
chiếm tới 76,19% số họ; 21 chi chiếm 77,78% số chi và 27 loài chiếm 81,82%
số loài; đại diện như: Hành ta (Allium ascalonicum L. 1759.), Cà rốt (Daucus
carota L. 1753.), Thuỷ tiên (Narcissus tazetta L. 1753.), Môn nước
(Colocasia esculenta (L.) Shott, 1832.), Su hào (Brassica oleracea var.
gongylodes L. 1753.),...
Thân thảo dạng leo có 3 loài, chiếm 9,09% tổng số loài; thuộc 3 chi,
chiếm 11,11% tổng số chi; có trong 2 họ chiếm 9,52% số họ; đại diện một số
loài như: Củ từ (Dioscorea esculenta (Lour.) Burk. 1917.), Sắn dây (Pueraria
montana var. chinensis (Ohwi) Maesen, 1988.), Củ đậu (Pachyrhizus erosus
(L.) Urb.).
Dạng thân thảo bò có 1 loài là: Khoai lang (Ipomoea batatas (L.) Poir. in
Lamk. 1791.), chỉ chiếm 3,03% tổng số loài cây có củ được tìm thấy.
Dạng cây bụi chỉ có 2 loài chiếm 6,06% số loài; thuộc 2 chi, chiếm
7,41% số chi và nằm trong 2 họ, chiếm 9,52% số họ; gồm có 2 loài là: Đinh
lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms, 1921.), Sắn (Manihot esculenta Crantz,
1766.). Kết quả được bày tại bảng 3.2 dưới đây.

18


Bảng 3.2. Tổng hợp dạng sống cây có củ tại xã Nam Viêm
Dạng sống
Đứng
Leo


Thảo

7,41

Số
lượng
27
3
1
2

%
81,82
9,09
3,03
6,06

3.3. Nguồn gốc cây có củ tại xã Nam Viêm
Các loài cây có củ tại Nam Viêm thuộc 3 nhóm:
Nhóm 1. Nhóm cây trồng
Bao gồm các loài cây đã và đang được người dân sử dụng trồng trọt ở
các mức độ khác nhau với các mục đích khác nhau như làm lương thực, thực
phẩm, làm gia vị, làm thức ăn cho gia súc, làm cảnh,... Chúng có thể là cây
bản địa, cây được người dân thu thập, thậm chí là cây nhập nội nhưng đã
được trồng qua nhiều thế hệ khác nhau nay không còn xác định rõ nguồn gốc.
Thuộc nhóm này có 17 họ chiếm 80,89% số họ, 22 chi chiếm 81,48% số chi
và 26 loài chiếm 78,79% số loài. Đại diện một số loài như: Hành ta (Allium
ascalonicum L. 1759.), Cà rốt (Daucus carota L. 1753.), Su hào (Brassica
oleracea var. gongylodes L. 1753.), Khoai lang (Ipomoea batatas (L.) Poir. in
Lamk. 1791.), Khoai tây (Solanum tuberosum L. 1753.), Riềng (Alpinia
officinarum Hance, 1872.),...
Nhóm 2. Nhóm cây mọc tự nhiên


Cây trồng

3.
4.

Cây mọc
dại
Cây thương
mại

%

Chi
Số lượng

Loài
Số lượng
%

%

17

80,95

22

81,48


Các loài cây có củ được trồng trên 2 sinh cảnh chính: Các chân ruộng
dùng cho sản xuất nông nghiệp và đất vườn trên quy mô hộ gia đình. Trên đất
ruộng, cây có củ được trồng chủ yếu vào vụ Đông và Đông xuân (từ tháng 11
năm trước đến tháng 4 năm sau) nhằm thâm canh tăng vụ. Thuộc nhóm này là

20


các cây thuộc họ Hành (Alliaceae), họ Hoa tán (Apiaceae), họ Ráy (Araceae),
họ Cải (Brassicaceae), họ Khoai lang (Convolvulaceae), họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae), họ Sen (Nelumbonaceae), họ Hòa thảo (Poaceae), họ Cà
(Solanaceae), họ Gừng (Zingiberaceae) trong danh lục trên.
Trên đất vườn, cây có củ cũng được trồng theo mùa vụ như trên đất
ruộng. Tuy nhiên, thời gian có thể kéo dài hơn hay đôi khi không đúng mùa
vụ do mục đích sử dụng đất của từng hộ gia đình khác nhau và không phụ
thuộc vào mùa vụ như trên đất ruộng. Thuộc nhóm này gồm các họ: họ Náng
(Amarylliaceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Dong riềng (Cannaceae), họ
Củ nâu (Dioscoreaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Lay ơn (Iridaceae), họ Hoàng
tinh (Marantaceae), Họ Chuối (Musaceae) trong danh lục.
3.4.2. Giá trị sử dụng của các loài cây có củ
Các cây có củ rất đa dạng về thành phần loài cũng như rất phong phú
về giá trị sử dụng. Căn cứ vào thực tế sử dụng loài, chúng tôi ra làm 4 nhóm
chính:
Nhóm 1. Nhóm cây dùng làm lương thực, thực phẩm
Cây lương thực là các loại cây trồng mà sản phẩm của chúng được
dùng làm lương thực cho người, nguồn cung cấp chính về năng lượng và chất
bột cacbohydrat trong khẩu phần thức ăn.
Thực phẩm (hay còn được gọi là thức ăn) là bất kỳ vật phẩm nào, bao
gồm chủ yếu các chất: chất bột (cacbohydrat), chất béo (lipit), chất đạm
(protein), hoặc nước, mà con người hay động vật có thể ăn hay uống được,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status