LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong Đồ án là trung thực, khách quan và chưa từng để
bảo vệ ở bất kỳ hội đồng nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Đồ án đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong Đồ án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày
tháng 03 năm 2016
Tác giả
Đỗ Khắc Cương
1
1
LỜI CẢM ƠN
Đồ án được hoàn thành theo chương trình đào tạo Đại học khoá liên thông 4
tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Tài nguyên và Môi
trường, Khoa Môi trường, các thầy cô giáo và Tiến sĩ Phạm Đình Sắc, Tiến sĩ Hoàng
Ngọc Khắc người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt những
kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian học tập cũng như quá trình
hoàn thành Đồ án.
Nhân dịp này tôi xin tỏ lòng biết ơn Uỷ ban nhân dân xã Việt Lâm, huyện Vị
Xuyên, tỉnh Hà Giang, cùng toàn thể đồng nghiệp bạn bè đã giúp đỡ động viên tôi
hoàn thành khoá học.
Mặc dù đã nỗ lực làm việc, nhưng do hạn chế về thời gian, nên đồ án không
tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng
ĐVN
Nội dung diễn giải
Đa dạng sinh học
Đất nương rẫy
Đất trống
Đất vườn nhà
KBTTN
KVNC
RTNĐ
RTNĐV
UBND
Khu bảo tồn thiên nhiên
Khu vực nghiên cứu
Rừng trên núi đất
Rừng trên núi đá vôi
Ủy ban nhân dân
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đồ án
Ốc trên cạn thuộc ngành động vật thân mềm là một trong những nhóm động
vật khá đa dạng trong hệ sinh thái trên cạn. Ốc có vai trò quan trọng trong môi
trường sống tự nhiên, hằng ngày chúng ăn các loại xác bã thực vật, các loại trái
cây chín rụng, nấm, rêu, địa y, ....thải ra môi trường dưới dạng phân hữu cơ rất hữu
ích cho môi trường đất. Bên cạnh đó, các loài ốc trên cạn còn là mắt xích quan
mất đi trong khi chúng chưa được biết đến, trong đó có thể có loài ốc cạn. Đây là
nhóm động vật Chân bụng có số lượng lớn phân bố ở tất cả các sinh cảnh trên cạn, cả
vùng núi và đồng bằng như: trong hang động, trên mặt đất và trên thảm thực vật. Do
đó ốc cạn không chỉ là mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn, mà chúng còn có vai
trò trong sản xuất nông nghiệp là góp phần cải tạo đất trồng, tăng độ màu mỡ của đất,
từ đó tăng năng suất và chất lượng nông sản. Ngoài ra một số loài còn là dược liệu
quý, làm thực phẩm, Nguyễn Chính (1996) [3]. Bởi vậy, ốc cạn đang bị nhân dân địa
phương khai thác, dẫn đến số lượng và sự đa dạng về thành phần loài bị giảm sút
nghiêm trọng …. Các nghiên cứu và dẫn liệu về ốc ở cạn khu vực này sẽ góp phần
quan trọng trong thống kê thành phần loài, điều tra đa dạng sinh học. Mặt khác, định
hướng các nghiên cứu về vai trò của ốc ở cạn, làm rõ giá trị khoa học và thực tiễn,
đặc biệt là vai trò chỉ thị tình trạng môi trường trên cạn.
Để góp phần giải quyết vấn đề nêu trên, việc thực hiện đề tài: Nghiên cứu đa
dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của ốc cạn (Mollusca: Gastropoda)
ở xã Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang là rất cần thiết và có ý nghĩa lớn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Về lý luận
Xây dựng cơ sở thông tin dữ liệu về đa dạng sinh học ốc cạn ở khu vực ở xã
Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang qua đó đã xác định mối quan hệ giữa ốc
cạn với môi trường sống là cơ sở khoa học cho chính quyền địa phương đề ra
biện pháp quản lý và phát triển đa dạng sinh học nói chung và ốc cạn nói riêng ở
tỉnh Hà Giang.
2.2. Về thực tiễn
Xác định được thành phần loài ốc cạn (Mollusca: Gastropoda) ở xã Việt
Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
Tìm hiểu được đặc điểm phân bố của ốc cạn ở các sinh cảnh (các loại sinh
cảnh rừng, các loại độ cao - địa hình).
6
từ 300 - 600 m, xã Việt Lâm có đường Quốc lộ 2 chạy qua hai thôn: Thôn Vạt và
thôn Việt Thành có đường liên xã đi xã Quảng Ngần, xã Cao Bồ [20].
1.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Thời tiết xã Việt Lâm được chia làm 2 mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô, mùa
mưa kéo dài từ tháng 4 trong năm đến hết tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3
năm sau. Lượng mưa trung bình từ 1.200mm – 2.200mm/năm có năm lên đến
3.000mm/năm, do địa hình và thời tiết phức tạp nên dễ gây ra lũ quét, bão lốc, mưa
đá và gây ngập úng tại một số thôn bản đe dọa nghiêm trọng đến tài sản tính mạng
của nhân dân trong xã [20].
1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng
1.1.2.1. Dân số
- Tổng số hộ 1.107 hộ với 4.611 khẩu
- Số hộ nghèo: 57 hộ
- Số hộ gia đình có chủ hộ là nữ: 23 hộ
8
8
- Độ tuổi lao động: 2.583 người; trong đó: Nam 1.383 người, Nữ 1.200 người.
- Xã có 9 dân tộc anh em: Dân tộc Tày chiếm trên 70% dân số. Dân tộc Kinh
chiếm 20%. Còn lại là các dân tộc Hán, Nùng, Phà Thẻn, Giấy, Thái, Mông [20].
1.1.2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
+ Sản xuất nông nghiệp
- Về trồng trọt: Trong sản xuất lương thực, đã thực hiện thâm canh, tăng vụ,
chuyển dịch cơ cấu giống theo hướng năng suất, chất lượng. Các hộ dân đã tự giác
và tích cực đầu tư thâm canh, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhất
là mở rộng gieo trồng giống lúa lai, ngô lai,... nên sản xuất lương thực, rau, màu
tăng cả diện tích, năng suất và sản lượng. Một số cây trồng hàng hóa được đưa vào
sản xuất đem lại hiệu quả rõ rệt như: Thảo quả, rau trái vụ, hoa tươi,...
Vạt hoạt động vào chủ nhật hàng tuần đã thu hút được nhiều hộ kinh doanh, đáp
ứng đươc nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn và tăng thêm các
khoản thu phí cho ngân sách xã [20].
1.2. Khái quát tình hình nghiên cứu ốc cạn
1.2.1. Ở ngoài nước
Trên thế giới việc nghiên cứu ốc cạn về khía cạnh phân loại học, đặc điểm
sinh học, phân bố và sinh sản đã được tiến hành khá sớm và rộng rãi ở nhiều quốc
gia thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Úc và một số nước châu Á như: Nhật Bản,
Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan,…
Aristotle (384- 322 trước công nguyên) là một nhà khoa học người Hy Lạp
đã có nghiên cứu sớm nhất về ốc cạn, tiếp sau đó là nhà khoa học nổi tiếng
Linnaeus trong ấn phẩm “Hệ thống tự nhiên”, xuất bản lần đầu tiên năm 1735 đã
đưa ra được hệ thống phân loại sinh vật chuẩn xác hơn. Đây là giai đoạn khởi đầu
của nghiên cứu cơ bản về sinh vật nói chung và về ốc trên cạn nói riêng vì thế số
lượng nhà nghiên cứu còn ít, trong phạm vi nghiên cứu hẹp, chủ yếu thực hiện trong
các nhà bảo tàng và một số quốc gia Châu Âu. Bằng việc sắp xếp hệ thống tên cho
các bậc phân loại, Linnaeus (1758) [32] đã định tên cho ngành Thân mềm
(Mollusca), Cuvier (1795) [26] đã xác định tên cho lớp Chân bụng (Gastropoda).
Trong thế kỷ XVIII, kết quả nghiên cứu về ốc cạn chỉ mới dừng lại trong phạm vi
xây dựng hệ thống phân loại tới ngành và lớp là chủ yếu, các nghiên cứu sâu hơn về
giải phẫu học và phân loại tới giống, loài hầu như chưa làm được.
Thời kỳ phát triển mạnh của ngành khoa học nghiên cứu cơ bản về sinh vật
nói chung và ốc cạn nói riêng là từ đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XXI. Hầu hết
các phát hiện trong giai đoạn này có số lượng lớn, được công bố bởi nhiều nhà khoa
10
10
học, tiến hành trên phạm vi rộng khắp thế giới. Các nhà khoa học tiêu biểu thuộc
11
giống, xếp trong 21 họ [50]. Nghiên cứu có tính tổng quan về ốc cạn của Đài Loan
được Hsieh Bo Chuan, Hwang Chung Chi và Wu Shu Ping công bố năm 2006 [30],
với 182 loài và phân loài, thuộc 29 họ, 7 bộ, 2 phân lớp. Trong số các họ xác định
được, Clausiliidae (54 loài) và Cyclophoridae (21 loài) là những họ phong phú nhất.
Ở Thái Lan các dẫn liệu về ốc cạn được công bố bởi Solem (1965) [45], Panha
(2009) [42] với 421 loài và phân loài, thuộc 133 giống, 30 họ. Năm 2009, nghiên cứu
có tính tổng quan về khu hệ ốc cạn của Thái Lan được công bố bởi Panha và ctv,
công trình này ghi nhận có 800 loài, thuộc 133 giống, sắp xếp vào 30 họ.
Hiện nay, Thân mềm Chân bụng đang là đối tượng được khai thác rất nhiều ở
các nước trên thế giới. Pháp là một trong những quốc gia nuôi ốc sên từ những năm
80 của thế kỉ XX. Điều này vừa mang lại những giá trị kinh tế rất lớn cho Pháp vừa
có tác dụng trong việc bảo tồn nguồn gen của ốc sên. Sản lượng ốc sên của Pháp lên
tới 40.000 tấn năm. Tuy nhiên các cơ sở chế biến của Pháp vẫn phải nhập khẩu ốc
sên từ các nước khác như: Hi Lạp, Indonesia, Thổ Nhĩ Kì, Cộng hòa Séc,… Từ
những năm 1988, Pháp đã nhập khẩu khoảng 7,427 tấn ốc sên, trung bình 33,42
Francs/kg, như vậy giá trị nhập khẩu tương đương 248,2 triệu Francs và xuất khẩu
khoảng 1.891 tấn trung bình 52,43 Francs kg tương đương 99,145 triệu Francs, Van
Benthem Jutting, W.S. S. (1954) [46].
1.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam cùng với ốc nước ngọt, ốc cạn cũng đã được điều tra nghiên cứu
từ giữa thế kỉ XIX. Các dẫn liệu đầu tiên về ốc cạn ở Việt Nam đã có trong các công
trình khảo sát về ốc cạn vùng Đông Dương của Souleyet trong thời gian từ 1841 –
1842, trong đó đã ghi nhận một số loài ốc cạn ở miền Trung Việt Nam (tìm thấy ở
Đà Nẵng) như: Streptaxis aberratus Souleyet, S. deflexus Souleyet, Eulota
touranenis Souleyet... dẫn theo Đặng Ngọc Thanh (2008) [19].
Trong thời gian nửa đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu ốc cạn cũng như các
Bảng 1.1. Tổng hợp số loài ốc cạn ở Việt Nam đã thống kê được
Giai đoạn công bố
1840 –1900
13
Số loài đã
Số loài bổ sung
công bố
448
Nguồn số liệu
448
Fischer et Dautzenberg, 1904
1901 –1975
103
82
Gude, 1909; Jaeckel, 1950;
Saurin, 1955,1960; Szekerles,
1969; Varga, 1963
Sau 1975
259
nghiên cứu, Cyclophoridae đa dạng nhất với 10 loài (chiếm 22,22%) và 8 giống
(21,62%). Xét về số lượng cá thể, họ Ariophantidae chiếm ưu thế với 1224 cá thể
(chiếm 26,09%). So với các khu vực nghiên cứu khác, đề tài có số loài chung với
hang Thẳm Bó cao nhất (10 loài), tiếp đến là Khu bảo tồn thiên nhiên Copia (9 loài),
cuối cùng là khu vực Tây Trang – Điện Biên (8 loài). Ốc cạn phân bố ở các sinh cảnh
có sự khác biệt. Sinh cảnh rừng trên núi đá vôi chiếm ưu thế nhất với 37 loài, 32
giống, 15 họ. Tiếp đến là sinh cảnh đất trồng trên nền rừng 31 loài, 21 giống, 15 họ.
Sau cùng là hang đá vôi với 25 loài, 21 giống, 11 họ.
1.3. Giới thiệu tổng quan về ốc cạn
1.3.1. Đặc điểm phân loại
Các loài ốc cạn được phát hiện có thể xác định ngay dựa vào các đặc điểm
hình thái của vỏ, các dấu hiệu được sử dụng nhiều trong mô tả, sự xoắn của vỏ
ốc là tính chất phức tạp trong vỏ ốc. Sự tiến hóa hay thoái hóa của dạng ống đã
tạo nên vỏ xoắn quen gọi là vòng xoắn. Các vòng xoắn chụm lại ở giữa trục
14
14
(axis), trục này chạy xuyên suốt trung tâm gọi là trụ giữa (central pillar) của vỏ.
Vòng xoắn có thể rộng nhanh hay chậm và được tách ra thành đường liên tục gọi
là đường xoắn (suture). Một vài loài vỏ mỏng có đường thứ sinh hay một đường
rộng (broad), thêm vào một dãy mờ đục (opaque) bên cạnh đường xoắn như
đường xoắn kép. Hầu như trong các mẫu vỏ, vòng xoắn rộng nhất là vòng xoắn
cuối (last whorl). Đỉnh của vòng xoắn (apex), đối diện với đáy (base). Phần mở
ra bên ngoài của vỏ gọi là miệng vỏ (aperture) (Nguyễn Thị Nhàn, 2011 [9]; Đỗ
Văn Nhượng và Ngô Thị Minh, 2011 [14]).
• Vỏ ốc
Vỏ ốc là một ống rỗng dài chứa cơ thể ốc, cuộn vòng quanh một trục tạo nên
ôvan, phía bên của vòng xoắn lồi hơn. Dạng ôvan dài (elongate - ovate). Dạng xoắn
ốc dẹt (depressed - heliciform) có vỏ ngắn nhưng rộng. Dạng xoắn ốc (heliciform)
có chiều cao và chiều rộng xấp xỉ nhau. Dạng xoắn ốc nón (conic - heliciform) cũng
giống dạng heliciform nhưng có các vòng xoắn hình côn nhiều hơn (Đỗ Văn
Nhượng và cs, 2011 [15]; Đỗ Văn Nhượng và Ngô Thị Minh, 2011 [14]; Đặng
Ngọc Thanh, 2008 [19]).
• Đỉnh vỏ
Đỉnh vỏ là điểm khởi đầu của các vòng, là nơi hình thành các vòng xoắn đầu
tiên của vỏ (còn gọi là vòng xoắn phôi), các vòng xoắn này thường rất nhỏ và nhắn.
Đỉnh vỏ có thể nhọn, tù hoặc tầy.
• Kích thước vỏ
Kích thước vỏ là đặc điểm dùng nhiều trong mô tả và nhận dạng các taxon
bậc, loài, giống. Các số đo quan trọng về kích thước của vỏ ốc cạn gồm: chiều cao
16
16
hay chiều dài (tính từ đỉnh vỏ đến vành miệng, không tính bờ vành môi), chiều rộng
(khoảng cách rộng ngang lớn nhất), chiều cao tháp ốc, chiều cao và chiều rộng
miệng vỏ. Dựa vào kích thước vỏ có thể phân chia ốc cạn thành: nhóm kích bé
(dưới 20 mm) và nhím kích thước lớn (trên 20 mm).
• Các vòng xoắn
Các vòng xoắn bao gồm các vòng xoắn tính từ đỉnh vỏ tới vòng xoắn cuối
cùng, trừ lỗ, miệng. Các vòng xoắn có thể là thuận hay ngược chiều kim đồng hồ,
có nhiều loài ốc xoắn ngược và có nhiều loài có cả hai kiểu xoắn; tròn đều, phồng
rốn so với chiều rộng vỏ cũng là đặc điểm rất có giá trị chẩn loại. Lỗ rốn được hình
thành do trụ ốc rỗng và mở ra ngoài gần miệng vỏ, có khi trụ ốc không rỗng vì thế
vỏ không có lỗ rốn. Trong định loại và nhận dạng, có thể phân biệt 3 dạng lỗ rốn:
dạng đóng, dạng vết lõm và dạng mở (rộng hoặc hẹp). Ngoài ra, tỷ lệ giữa kích
thước lỗ rốn so với chiều rộng vỏ là đặc điểm rất có giá trị chẩn loại.
Hình 1.2. Hình dạng các kiểu lỗ rốn
Đỗ Văn Nhượng và Ngô Thị Minh (2011) [15]
1.3.2. Đặc điểm sinh học và sinh thái học
Trên thế giới hiện nay, đặc điểm sinh học và sinh thái học của ốc cạn ngày
cành được chú ý nghiên cứu, đặc biệt là những loài có giá trị thực tiễn và những loài
thường xuyên gây hại. Các loài ốc cạn phân bố rộng ở nhiều dạng địa hình và sinh
cảnh khác nhau. Trên môi trường cạn, ốc và sên trân thường ưa sống ở những nơi
ẩm ướt, giàu mùn bã thực vật, rêu và tảo. Kích thước cơ thể của ốc cạn dao động
trong khoảng tương đối lớn, từ một hoặc vài mm (ở họ Vertiginidae, Euconulidae)
hàng chục cm (Camaena, Achatina, Amphidromus) (Thái Trần Bái, 2004 [2];
Nguyễn Văn Đĩnh, 2005 [6]). Phần lớn các loài ốc cạn trong lớp Mang trước thường
đơn tính, trong khi ở phân lớp Có phổi thì lưỡng tính. Đối với các loài ốc can đơn
tính, có ít sự sai khác về hình thái ngoài giữa con đực và con cái, tỷ lệ đực cái trong
quần thể cũng thường ít giao động (Thái Trần Bái, 2004 [2]; Nguyễn Xuân Đồng và
cộng sự, 2005 [7]).
Trong số các môi trường sống, rừng tự nhiên rừng trên núi đá granit, đá vôi
có nhiều yếu tố thuận lợi cho ốc cạn sinh sống, tầng thảm mục dày, độ ẩm cao, có
18
18
nhiều khe đá ẩm ướt, hàm lượng canxi cao giúp hình thành lớp vỏ. Vào mùa mưa,
các hoạt động kiếm ăn, sinh sản diễn ra mạnh hơn. Trong khi đó với mùa lạnh và
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Cách tiếp cận
Cách tiếp cận của đề tài là sử dụng số liệu thực nghiệm được điều tra trên ô
mẫu định vị có điều kiện sinh thái và điều kiện thảm thực vật khác nhau để phát
hiện và phân tích các mối liên hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh đặc điểm phân bố của
ốc cạn với những nhân tố có ảnh hưởng chủ yếu.
2.2.2. Phương pháp kế thừa
Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây làm cơ sở cho việc so sánh, phân
tích và phục vụ cho việc viết tổng quan tài liệu.
Kế thừa các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở xã Việt Lâm,
huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
2.2.3.1. Vật liệu, vật dụng
Túi ni lông (PE) có kích thước 80 x 50 cm; túi ni lông zip kích thước 20 x 10
cm; xô nhựa 20 lít; khung mẫu 1m x 1m, sàng rây mẫu các loại có kích thước thay
đổi từ 10 mm đến 1,0 mm (1,0, 5,0 và 10 mm); xẻng xúc đất; kẹp gắp; nhãn, bút chì;
máy định vị (GPS), kính lúp cầm tay, kính lúp để bàn; thước kẹp đo kích thước; cồn
tuyệt đối; máy ảnh kỹ thuật số, hộp nhựa nhỏ có nắp kín để lưu trữ mẫu. Hóa chất
o
dùng trong nghiên cứu gồm dung dịch cồn tuyệt đối, cồn 90 để lưu trữ mẫu [48].
20
20
2.2.3.2. Vị trí lấy mẫu
Hình 2.1. Vị trí các ô tiêu chuẩn để thu thập mẫu
thường rộng hơn so với mẫu định lượng với mục đích bổ sung thành phần loài cho
mẫu định lượng. Vì vậy, khi thu mẫu phải thu tất cả các mẫu (kể cả mẫu đã chết chỉ
còn lại vỏ) để không bỏ sót thành phần loài. Mẫu được thu trên mặt đất, trong tầng
thảm mục, lớp đất mặt, trên thân hoặc lá cây. Các bước được tiến hành thu mẫu theo
hướng dẫn của Vermeulen và Maassen (2003) [47], cụ thể như sau:
Đối với mẫu có kích thước lớn có thể nhặt bằng tay hoặc dùng panh kẹp để
thu mẫu. Đối với các mẫu nhỏ dùng sàng có mắt lưới cỡ 3 mm, 5 mm, 8 mm bằng
kim loại để sàng các lá mục, bên dưới sàng được hứng bằng tấm nilong sáng màu.
Nếu có ốc nhỏ bám dưới lá mục, khi sàng mẫu sẽ rơi xuống và có thể dùng kính lúp
cầm tay hoặc nhìn bằng mắt nhặt mẫu. Đối với các mẫu ốc nhỏ lẫn trong đất hoặc
mùn ở các kẽ đá hoặc trong hang, có thể sử dụng phương pháp cho đất hoặc thảm
mục vào chậu nước để mẫu nổi lên và vớt lấy mẫu.
22
22
Tất cả các mẫu thu định tính đều được bảo quản trong các túi vải hoặc túi
nilong riêng, có ghi ký hiệu cẩn thận theo từng sinh cảnh và các lưu ý cần thiết khác
(nếu có).
- Thu mẫu định lượng
Thu mẫu định lượng là thu toàn bộ mẫu hiện diện trong diện tích mặt đất có
mẫu. Sau khi xác định được vị trí cần thu mẫu, dùng thước dây lập 01 ô tiêu chuẩn
có diện tích là 100 m2. Giá trị của mẫu định lượng cho biết mật độ, sự phong phú về
số lượng hoặc sự đa dạng về thành phần loài của khu vực nghiên cứu (Vermeulen và
Maassen, 2003) [47]. Mỗi ô tiêu chuẩn tiến hành lập 5 ô dạng bản với diện tích 1 m 2
(1 x 1 m). Tiến hành thu tất cả các mẫu có trong ô đó, nếu có lẫn thảm mục thì phải
dùng sàng để loại bỏ những vụn lá và tiến hành thu mẫu như phương pháp thu định
tính. Số lượng ô tùy vào tình hình cụ thể của các mẫu thu thập sơ bộ bước đầu, để
tồn ốc cạn ở KVNC. Thông tin phỏng vấn theo hai dạng là thu thập thông tin qua
điện thoại và phỏng vấn trực tiếp.
Tham khảo tài liệu đã công bố về giá trị sử dụng làm thực phẩm, làm thuốc
và tình trạng hiện tại của chúng. Ngoài ra, tiến hành thu thập mẫu vật theo các tuyến
điều tra đại diện gồm các kiểu sinh cảnh chính, các kiểu địa hình thuộc các vùng
phân bố khác nhau về địa lý và độ cao.
2.2.5. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
- Phương pháp xử lý mẫu
Đối với mẫu vật chết (vỏ ốc) tiến hành rửa sạch, phơi hoặc sấy và bảo quản
khô trong các túi nilong hoặc hộp nhựa đựng mẫu.
Đối với mẫu ốc cạn còn sống bao gồm cả sên trần và ốc trên cạn được ngâm
vào nước trong một đêm (khoảng 12 - 24 giờ) hoặc metanol loãng để cho ốc chết từ
từ, duỗi hết các phầu đầu, chân và các tua cảm giác, sau đó tiến hành định hình và
bảo quản trong dung dịch cồn 900
- Phương pháp phân tích và định loại
Hầu hết các loài ốc cạn có thể định loại dựa vào các đặc điểm hình thái của
vỏ như: Kích thước, hình dạng, màu sắc, số vòng xoắn, rãnh xoắn, đỉnh vỏ, miệng
24
24
vỏ... được thể hiện qua các số đo hay tỷ lệ của chúng. Ngoài ra, một vài đặc điểm có
giá trị tham khảo để định loại như sự phân bố, các khía, hoa văn trên vỏ ốc.
Hình 2.3. Đặc điểm cấu tạo ngoài của vỏ ốc cạn
- Phân tích, tổng hợp số liệu và tổng hợp kết quả
Thông tin về phân bố của loài được căn cứ vào tần suất xuất hiện và mức độ
phong phú của loài trên các tuyến và điểm điều tra. Sử dụng các phần mềm ứng
dụng để tính toán và xử lý số liệu, sơ đồ, bản đồ, biểu đồ để mô phỏng phân bố của