BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
Phạm Phương Đông
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài cây tinh dầu
và đánh giá giá trị của một số loài đại diện tại Vườn Quốc gia Cát Bà,
thành phố Hải Phòng
LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGÀNH SINH HỌC
HÀ NỘI, THÁNG 10 NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
Phạm Phương Đông
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài cây tinh dầu
và đánh giá giá trị của một số loài đại diện tại Vườn Quốc gia Cát Bà,
thành phố Hải Phòng
Chuyên ngành: Thực vật học
Hải Phòng, ngày
tháng 10 năm 2018
TÁC GIẢ
Phạm Phương Đông
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các kết quả
nêu trong luận văn là trung thực, các số liệu tham khảo đều có nguồn trích dẫn
rõ ràng, các hình ảnh được sử dụng trong luận văn là hình của riêng tôi được
thực hiện trong quá trình thực hiện đề tài, chưa từng được ai công bố trong các
công trình nghiên cứu khác.
Hải Phòng, tháng 10 năm 2018
TÁC GIẢ
Phạm Phương Đông
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU............................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của Đề tài ................................................................................ 1
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................................. 29
3.1. Thành phần loài cây tinh dầu tại VQG Cát Bà ......................................... 29
3.2. Đa dạng cây tinh dầu tại VQG Cát Bà...................................................... 31
3.2.1. So sánh cây tinh dầu tại VQG Cát Bà so với Việt Nam .................... 31
3.2.2. Đa dạng ở bậc dưới ngành.................................................................. 32
3.2.3. Đa dạng về dạng sống cây tinh dầu tại Vườn Quốc gia Cát Bà......... 37
3.2.4. Đa dạng về công dụng của các loài cây tinh dầu ............................... 38
3.3. Các loài cây tinh dầu có nguồn gen quý hiếm bị đe dọa .......................... 41
3.4. Thành phần hóa học trong tinh dầu của một số loài cây tại Vườn Quốc gia
Cát Bà............................................................................................................... 42
3.4.1. Thành phần hóa học trong tinh dầu loài sài hồ- Pluchea pteropoda . 42
3.4.2. Thành phần hóa học trong tinh dầu loài Dạ hợp (Magnolia coco).... 43
3.4.3. Thành phần hóa học trong tinh dầu loài Nguyệt quế (Murraya
paniculata).................................................................................................... 45
3.4.4. Thành phần hóa học trong tinh dầu loài Hàm ếch rừng (Piper bonii)46
3.4.5. Thành phần hóa học trong tinh dầu loài Lãnh công rợt (Fissistigma
pallens) ......................................................................................................... 47
3.4.6. Thành phần hóa học trong tinh dầu loài Na biển (Annona glabra) ... 48
3.4.7. Thành phần hóa học trong tinh dầu loài Bưởi bung (Acronychia
pedunculata)................................................................................................. 51
3.5. Các giải pháp đề xuất nhằm bảo tồn đa dạng cây tinh dầu tại Vườn Quốc
gia Cát Bà......................................................................................................... 53
3.5.1. Nguyên nhân suy giảm đa dạng cây tinh dầu tại Vườn Quốc gia Cát
Bà.................................................................................................................. 54
3.5.2. Các giải pháp bảo tồn đa dạng cây tại Vườn Quốc gia Cát Bà.......... 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................. 57
1. Kết luận........................................................................................................ 57
2. Kiến nghị...................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... 59
PHỤ LỤC
KBTTN
Khu bảo tồn thiên nhiên
NĐ
Nghị định
UBND
Uỷ ban nhân dân
WWF
World Wide Fund For Nature (Quỹ quốc tế bảo vệ thiên
nhiên)
DANH MỤC BẢNG
- Bảng 3.1. Sự phân bố các taxon của cây tinh dầu ở VQG Cát Bà;
- Bảng 3.2. So sánh hệ cây tinh dầu của Cát Bà với hệ cây tinh dầu Việt Nam;
- Bảng 3.3. Mười họ đa dạng nhất của cây có chứa tinh dầu tại Vườn Quốc gia
Cát Bà, Hải Phòng;
- Bảng 3.4. Sự phân bố số lượng loài cây tinh dầu trong các họ;
- Bảng 3.5. So sánh các họ có nhiều loài cây tinh dầu ở Cát Bà (1) với số loài
cây ở Cát Bà;
- Bảng 3.6. Thống kế các chi có nhiều loài chứa tinh dầu nhất;
- Bảng 3.7. Dạng cây của các cây tinh dầu tại Vườn Quốc gia Cát Bà;
- Bảng 3.8. Số lượng loài có nhiều công dụng
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Tài nguyên thực vật là nguồn tài nguyên vô giá mà thiên nhiên đã ban
tặng cho con người, trong đó có nguồn tài nguyên về cây tinh dầu. Từ xa xưa
cho đến nay con người chúng ta không ngừng tìm tòi, nghiên cứu sử dụng nguồn
tài nguyên cây tinh dầu để làm ra các sản phẩm phục vụ cho chính con người.
Cùng với những kinh nghiệm chiết xuất tinh dầu cổ truyền của các dân tộc anh
em, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đưa ngành chiết xuất tinh dầu theo
hướng công nghiệp và sản xuất có tính chuyên sâu nhằm tạo ra các sản phẩm
chất lượng và năng suất cao đã cho thấy giá trị của nó đời sống của con người.
Các thành phần loài cây tinh dầu được phân bố rộng và khá đa dạng. Tại
Việt Nam, theo Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001) [21], số loài cây tinh dầu trong
hệ thực vật nước ta gồm có khoảng 657 loài thuộc 357 chi và 115 họ (chiếm
khoảng 6,3% tổng số loài, 15,8% tổng số chi và 37,8% số họ thực vật bậc cao có
mạch).
Tuy nhiên hiện nay, sự đa dạng sinh học nói chung, đa dạng về cây tinh
dầu nói riêng đang bị tổn thương và suy thoái nghiêm trọng, nguyên nhân sâu xa
là do sự gia tăng dân số và sự đói nghèo. Một nguyên nhân không kém phần
quan trọng, do nhận thức chưa đúng đắn về nguồn tài nguyên cây rừng, người ta
chỉ hiểu đơn giản là cung cấp gỗ mà ít chú ý tới giá trị các sản phẩm khác. Chính
vì vậy, đã dẫn đến quá trình khai thác quá mức, sử dụng lãng phí và làm suy
giảm một cách nhanh chóng nguồn tài nguyên cây tinh dầu quý giá này. Hơn thế
nữa, một thực tế khi hoàn cảnh sống được nâng cao thì việc sử dụng các loại
tinh dầu càng được đẩy mạnh việc cung không đáp ứng được nhu cầu, đồng thời
không có biện pháp trồng thay thế sẽ dẫn đến hệ lụy làm giảm nguồn tài nguyên
này.
Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, trong những năm gần đây
tại Vườn quốc gia cát Bà - Thành phố Hải Phòng tình trạng khai thác tài nguyên
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng cây tinh dầu tại Vườn Quốc
gia Cát Bà, thành phố Hải Phòng.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn
- Ý nghĩa khoa học
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương
Đông
Page 2
Kết quả của đề tài góp phần bổ sung và hoàn chỉnh dữ liệu về nguồn tài
nguyên cây tinh dầu tại Vườn quốc gia Cát Bà, Hải Phòng.
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học bước đầu phục vụ cho các ngành ứng
dụng và sản xuất như Nông- Lâm nghiệp, Dược học, Tài nguyên thực vật...
4. Những điểm mới của luận văn
- Đây là công trình nghiên cứu về đa dạng thành phần loài cây tinh dầu
đầu tiên tại Vườn Quốc gia Cát Bà, bao gồm 281 loài thuộc 145 chi, 35 họ,
thuộc 2 ngành bao gồm: Ngành thông (Pinophyta) và ngành Mộc lan
(Magnoliophyta);
- Xây dựng danh lục, đánh giá đa dạng các bậc taxon, đánh giá đa dạng về
dạng sống, giá trị sử dụng, đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển đa
dạng cây tinh dầu;
- Thống kê những loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng trong sách đỏ
Việt Nam năm 2007, IUCN 2012, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP.
- Phân tích và đánh giá giá trị tinh dầu từ một số loài cây tinh dầu tại
Vườn Quốc gia Cát Bà, thành phố Hải Phòng.
5. Bố cục luận văn
Luận văn gồm 58 trang, được chia thành các phần: Mở đầu (03 trang),
Tổng quan nghiên cứu (20 trang), Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên
người. Từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, tinh dầu được dùng nhiều để làm mỹ phẩm,
làm thuốc và dùng trong công nghiệp với phạm vi rộng hơn. Tuy nhiên, nghiên
cứu về tinh dầu, cấu tạo và tính chất các cấu tử của tinh dầu mới tiến hành cách
đây khoảng một trăm năm. Năm 1847, Buterov đã nghiên cứu thành phần tinh
dầu Long não, tách được camphor ra khỏi tinh dầu Long não, đặt nền móng cho
nghiên cứu hóa học tinh dầu [18]. Từ thế kỷ 20 đến những năm đầu của thế kỷ
21, cùng với sự tiến bộ của nhân loại và sự phát triển của khoa học kỹ thuật,
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương
Đông
Page 4
ngành công nghiệp sản xuất tinh dầu đã dần phát triển, tinh dầu trở thành một
sản phẩm không thể thiếu trong đời sống con người.
Tai các quốc gia đang phát triển và chưa phát triến, có tới 80% dân số tỏ ra
tín nhiệm với việc chăm sóc sức khoẻ bằng y học cổ truyền, mà trong đó cây
tinh dầu dùng làm thuốc được sự tin dùng khá nhiều. Hiện chưa có con số thống
kê nào về tổng khối lượng nguyên liệu các loài cây thuốc có chứa tinh dầu đươc
sư dung hang năm là bao nhiêu. Chỉ ươc đoán rằng, đó sẽ là một khối lượng rất
lớn. Chi riêng ở Trung Quốc, nhu cầu sư dung cây thuốc có chứa tinh dầu vào
khoảng 1.600.000 tấn/năm, với tỷ lệ gia tăng hang năm khoảng 9%. Tỷ lệ này ở
châu Âu và Bắc Mỹ khoảng 10%/năm [21].
Về thành phần hoá học: Khái niệm tinh dầu để chỉ các chất lỏng không
tan trong nước, hoặc hòa tan rất ít, chứa các hợp chất hữu cơ tan lẫn vào nhau,
dễ bay hơi và có mùi đặc trưng. Tinh dầu là tổ hợp các chất tự nhiên khoảng từ
20 đến hàng trăm đơn chất trong mỗi loài. Chúng được mô tả bởi 2 hay 3 chất
chính chiếm hàm lượng cao (20-70%) khi so sánh với những thành phần khác
hiện diện trong tổng số. Ví dụ: carvacrol (30%) và thymol (27%) là thành phần
chính của tinh dầu loài Origanum compactum, linalool (68%) trong thành phần
thực tiễn [39].
Trong vòng 30 năm trở lại đây, công nghệ chế biến tinh dầu đã có nhiều
thành tựu. Khởi nguồn từ phương pháp đơn giản nhất là chưng cất nước, ép cơ
học, đến nay các phương pháp thu tinh dầu đã khá đa dạng: Hấp phụ, trích ly
bằng dung môi, Trích ly bằng CO2 siêu tới hạn, chiết siêu âm,... Garikapati cùng
cộng sự đã tiến hành so sánh về hàm lượng và thành phần các cấu tử trong tinh
dầu Oải hương (Lavandula angustifolia) thu được bằng các phương pháp chiết
xuất khác nhau, cho thấy rằng việc chưng cất nước (WD) tạo ra sản lượng cao
nhất (1,2%), tiếp theo là chưng cất hơi nước (WSD) (1,12%), chiết xuất dung
môi (SE) (0,8%) và chiết xuất CO2 siêu tới hạn (SCE) (0,5%). Linalyl axetat và
các este có vai trò quan trọng nhất quyết định chất lượng hương vị hoa oải
hương, được ghi nhận là cao hơn trong sản phẩm dễ bay hơi của SCE (51,8%),
tiếp theo là SE và WSD (31,4%) và WD (26,8%). Ngược lại, linalool được tìm
thấy nhiều nhất trong phân lượng dễ bay hơi do WD sản xuất (30,9%) theo sau
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương
Đông
Page 6
là
SCE
(23%),
WSD
(20,5%)
(Hesham H.A. Rassem, 2016) cho những sản phẩm tự nhiên này (International
Trade Center) [35]. Một số nước đã tập trung vào canh tác và sản xuất các tinh
dầu thế mạnh tạo thương hiệu riêng cho quốc gia như tinh dầu Hoa hồng của
Bulgary, tinh dầu Sả của Ấn độ, tinh dầu Lavender của Pháp. Thị trường chính
của tinh dầu thế giới là Hoa kỳ, tiếp theo là Nhật Bản và Châu Âu. Hoa Kỳ chủ
yếu sử dụng tinh dầu cho các công ty giải khát, đồ uống. Nhật Bản chiếm 10%
nhu cầu của thế giới. Thị trường Canada bị thống trị bởi nước hoa và công
nghiệp hương liệu cung cấp từ Hoa Kỳ. Pháp chiếm lĩnh thị trường nước hoa thế
giới, và Thụy Sỹ là một trong những nước đứng đầu sử dụng tinh dầu ở lĩnh vực
dược học. Anh và Ấn Độ được biết đến với thế mạnh về các loại hương liệu.
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương
Đông
Page 7
Các nước có sản lượng trồng cấy tinh dầu lớn trên thế giới hiện nay là: Brazil,
Trung Quốc, Ai cập, Ấn Độ, Mehico, Guatemala và Indonexia [31].
Sản phẩm tinh dầu của nhóm Cam chanh (lemon, lime, bergamot,..), được
tiêu thụ lớn nhất trên toàn cầu, phục vụ cho công nghiệp đồ uống, sản xuất bánh
kẹo. Tiếp đến là Bạc hà cay (peppermint) sử dụng cho sản xuất kẹo, kẹo cao su,
nước súc miệng và thuốc lá. Đứng thứ 3 về sản lượng tiêu thụ là Oải hương
(lavender), Oải hương được sử dụng nhiều trong công nghiệp hoá mỹ phẩm, như
nước hoa, kem bôi da, dầu gội sữa tắm, bởi những công dụng như hương thơm
quyến rũ, có khả năng giảm stress, kháng khuẩn, được coi là mùi hương cổ điển
tại Châu Âu .v.v... (CBI’s, 2007). Con số thống kê sản lượng tinh dầu hàng năm
trên thế giới là 120.000 tấn tinh dầu, đạt giá trị 4 tỷ đô la Mỹ. Trong đó, nhóm
cam chanh mỗi năm được sản xuất khoảng 30.000 tấn, Bạc hà 16.000 tấn, bạc hà
cay (peppermint) 4.000 tấn, Sả chanh 3.000 tấn, Oải hương 420 tấn [31].
Dương cam cúc/Cúc la mã (Chamomile - Matricaria chamomilla L.) một
phải kể đến là Liên Xô, Mỹ và Châu Âu.
Như vậy, sản xuất tinh dầu trở thành một ngành công nghiệp trên thế giới.
Theo xu thế hiện đại, tinh dầu không chỉ còn là mùi hương cho nước hoa, hay
hương vị các món ăn, kích thích sự tiêu hoá; thay vào đó tinh dầu trong cuộc
sống ngày này dùng nhiều cho ngành công nghiệp dược phẩm đem lại hiệu quả
trong điều trị bệnh: liệu pháp điều trị và chống trầm cảm, chữa bệnh ngoài da,
phòng các bệnh suy giảm trí nhớ, đường huyết, nguồn nguyên liệu sinh tổng hợp
các chất có hoạt tính, v.v...
1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.2.1. Đa dạng cây có chứa tinh dầu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, hiện nay theo Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001), số loài cây
tinh dầu trong hệ cây nước ta gồm có khoảng 657 loài thuộc 357 chi và 115 họ
(chiếm khoảng 6.3% tổng số loài, 15.8% tổng số chi và 37.8% số họ cây bậc cao
có mạch). Những họ có số loài chứa tinh dầu nhiều nhất gồm: Họ Sim
(Myrtaceae), họ Bạc hà (Lamiaceae), họ Hoa tán (Apiaceae), họ Cúc
(Asteraceae), họ Cam (Rutaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Thông
(Pinaceae), họ Hoa hồng (Rosaceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ Hoàng đàn
(Cupressaceae),..[21]
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương
Đông
Page 9
Việt Nam nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm rất thích hợp cho việc
phát triển các loại cây tinh dầu, nhiều loại cây tinh dầu đã góp phần quan trọng
vào việc cải thiện đời sống kinh tế, tạo ra nhiều sản phẩm dùng trong nước cho
các ngành công nghiệp tiêu dùng và xuất khẩu, nhất là phục vụ cho ngành Y tế
để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người.
Hiện tại trên cả nước đã hình thành một số vùng, khu vực trồng dược liệu
– 1987 là 50 – 70 tấn, những năm 1995 – 1998 trung bình là 225 tấn.
Sau một thời gian dài cây tinh dầu gần như mất chỗ đứng, việc nghiên cứu
cây tinh dầu vì thế cũng ít được quan tâm. Đến năm 1992, Phạm Văn Khiển đã
lần đầu tiên nghiên cứu một cách chi tiết tinh dầu Long não ở Việt Nam. Qua
nghiên cứu xác định được 24 hợp chất trong mẫu tinh dầu gỗ Long não, 11 hợp
chất trong một mẫu tinh dầu lá có thành phần chính là Linalool, 17 hợp chất
trong một mẫu tinh dầu lá có thành phần chính là Phellandren, 49 hợp chất trong
mẫu tinh dầu quả Long não, xác định được thành phần chính trong tinh dầu lá là
camphor, cineol, các sesquitecpen, linalool và phellandren, trong tinh dầu gỗ là
hỗn hợp camphor & cineol. Dựa vào thành phần chính trong tinh dầu lá, tác giả
đã chia các mẫu tinh dẫu thành 5 nhóm, và 6 thứ (có thể gọi là các type hóa học)
theo tinh dầu của lá, hoa quả khi phân loại. Đây là một đóng góp mới, vì trên thế
giới người ta chủ yếu phân loại cây Long não dựa trên thành phần hóa học tinh
dầu (Chemotaxonomy) của lá hay tinh dầu gỗ thân vì thế có thể bỏ qua 01 thứ
của loài Long não theo bậc phân loại [21].
Năm 1995, Nguyễn Xuân Dũng tiến hành Nghiên cứu góp phần phân loại
bằng hóa học cây thuốc và tinh dầu, các cây trong chi Riềng, Long não, Cúc,
Hoa môi, Sim, Cam của 12 chi và 60 loài, lần đầu tiên xác lập được các cấu tử
chìa khóa của các loài đã có tên cây, kết quả này góp phần sáng tỏ thêm cho việc
phân loại trên hình thái của chúng [10].
Năm 2014, Bùi Văn Hướng và nhóm nghiên cứu đã bước đầu tiến hành
nghiên cứu tinh dầu lá của loài giổi chanh (Michelia citrata) nguồn gốc tự nhiên
tại Quản Bạ, Hà Giang. Theo đó, xác định được hàm lượng tinh dầu trong lá đạt
được 0,38% (theo nguyên liệu khô tuyệt đối). Bằng phương pháp sắc ký khí
khối phổ (GC-MS) đã tách và bước đầu xác định được 27 hợp chất chiếm
92,89% tổng khối lượng tinh dầu. Các thành phần có tỷ lệ lớn trong tinh dầu từ
lá loài Giổi chanh là Linalool (11,79%), Citronellal (11,51%), α-Citral
(13,51%), β-Citral (10,91%), Citronellol (9,63%). Dựa trên khảo sát hóa học,
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương
Đông
albicans
ATCC
48274,
Rhodotorula
glutinis
ATCC
16740,
Schizosaccharomyces pombe ATCC 60232, Saccharomyces cerevisiae ATCC
2365 và Yarrowia lypolitica 16617 (Gianni Sacchetti et al., 2005) [17].
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương
Đông
Page 12
Hoàng Thị Kim Vân (Năm 2016) và nhóm nghiên cứu của Viện Hoá sinh
biển đã triển khai nghiên cứu hoạt tính trong tinh dầu Sả chanh trồng tại Phú
Thọ. Nghiên cứu chỉ ra Tinh dầu củ Sả chanh có tác dụng hạn chế tăng đường
huyết, giúp phòng chống bệnh tiểu đường hiệu quả, do thể hiện hoạt tính quét
gốc tự do DPPH và ức chế enzym anpha-glucosidase ở nồng độ 500µg/ml, tinh
dầu ở lá Sả không thể hiện hoạt tính này. Thăm dò hoạt tính sinh học trên dòng
1.3. Lược sử nghiên cứu cây tinh dầu tại Vườn Quốc gia Cát Bà
Vườn Quốc gia Cát Bà được thành lập năm 1984 nhằm mục đích bảo tồn
đa dạng sinh học và hệ sinh thái rừng tiêu biểu của Việt Nam. Từ đó đến nay
khu rừng VQG này đã có nhiều nhà khoa học đến nghiên cứu về khu hệ cây
VQG Cát Bà. Đáng kể nhất phải kể đến các đợt khảo sát của Lê Mộng Chân &
Lê Thị Huyền (2000), Nguyễn Kim Đào (2004), Lê Mạnh Tuấn (2005), Đoàn
Văn Cẩn (2011), Nguyễn Văn Huy (2012). Năm 2013, Trung tâm Tài nguyên và
Môi trường Lâm nghiệp tiếp tục phối hợp với Ban quản lý VQG Cát Bà tổ chức
cuộc khảo sát đa dạng sinh học ở khu vực này nhằm xây dựng dự án quy hoạch
VQG Cát Bà giai đoạn 2013 đến 2020. Những nghiên cứu đã ghi nhận được tại
VQG Cát Bà có 1.585 loài thuộc 187 họ (theo điều tra báo cáo quy hoạch VQG
Cát Bà giai đoạn 2013 đến 2020, được thực hiện năm 2013 của Trung tâm Tài
nguyên và Môi trường Lâm nghiệp). Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu
một các có hệ thống về cây tinh dầu tại VQG Cát Bà [22,25].
1.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.4.1. Điều kiện tự nhiên
1.4.1.1. Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Cát Bà nằm trên địa giới hành chính thuộc 6 xã và một thị
Trấn: xã Gia Luận, Phù Long, Hiền Hào, Xuân Đám, Trân Châu, Việt Hải và thị
trấn Cát Bà, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 60km theo đường
chim bay, có toạ độ địa lý: Từ 20044’ – 20055’ vĩ độ Bắc và từ 106054’ –
107010’ kinh độ Đông;
- Phía Bắc và Đông Bắc giáp vịnh Hạ Long được ngăn cách bởi Lạch
Ngăn và Lạch Đầu Xuôi của Quảng Ninh.
- Phía Tây và Tây Nam là cửa sông Bạch Đằng, sông Cấm và biển Hải
Phòng - Đồ Sơn.
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương
Đông
Page 14
nếp Caledoni đánh dấu sự kết thúc chế độ địa máng biển sâu Karstzia vào
cuối kỷ Silua.
Các khối đá vôi này có tuổi trung bình là các bon muộn - pecmi (250 280 triệu năm). Cấu tạo dạng khối, đôi khi phân tẩm khá mỏng, màu xám hay
xám trắng nằm xen kẽ với đá vôi silic. Chúng có đầy đủ những dạng của một
miền Karst ngập nước biển, do tác động của nước mặt và nước ngầm đã tạo ra
một hệ thống các hang động ở các độ cao khác nhau (4m, 15m và 25 - 30m).
Do các hoạt động của sóng biển đã tạo ra các ngấn sóng vỗ ở tất cả các chân
đảo đá vôi vùng Cát Bà và các mái hiên mài mòn dạng dài và hẹp bao quanh
chân, có nơi gập ngấn sóng kép ở mức 3,5 - 4m và 1,0 - 1,5m. Ở các vùng
kín, sóng biển còn tạo ra các tích tụ cát rất sạch, bao quanh các đảo nhỏ. Đó
là các bãi tắm mini rất lý tưởng cho dịch vụ du lịch tắm biển.
Về phía Bắc và Tây Bắc đảo Cát Bà còn có một diện tích khá lớn các
thành tạo đệ tứ không phân chia tạo nên dạng đồng bằng ven biển, chúng
được hình thành do quá trình phù sa sông biển. Lớp trầm tích phủ lên trên khá
dày (>2m), dưới sâu hơn là phù sa hạt thô (độ sâu 5 - 10m) chủ yếu là sỏi
cuội và cát... Sát biển hơn (nơi hàng ngày chịu ảnh hưởng của thuỷ triều) có
sú, vẹt, đước, trang, mắm, bần... mọc dầy đặc phủ kín hầu hết diện tích này.
Thổ nhưỡng: Với nền đá mẹ hầu hết là đá vôi cùng với các điều kiện địa
hình
Luận văn tốt nghiệp – Phạm Phương
Đông
Page 16