BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
---------------------------
NGUYỄN QUỐC CƯỜNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÍNH ĐA DẠNG
LOÀI THỰC VẬT CỦA MỘT SỐ TRẠNG THÁI RỪNG
TẠI VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
---------------------------
NGUYỄN QUỐC CƯỜNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÍNH ĐA DẠNG
LOÀI THỰC VẬT CỦA MỘT SỐ TRẠNG THÁI RỪNG
TẠI VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Quốc Cường
ii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Trang
Lời cảm ơn .....................................................................................................i
Mục lục ..........................................................................................................ii
Danh
mục
các
từ
viết
tắt
.........................................................................................................................Er
ror! Bookmark not defined.
2.4.1. Phương pháp điều tra sơ thám và chọn địa điểm lập ÔTC ...............19
2.4.2. Phương pháp điều tra thu thập số liệu ngoại nghiệp .............................20
2.4.3. Phương pháp xử lý & tính toán nội nghiệp .............................................23
Chương 3: TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU ....27
3.1. Lược sử hình thành và phát triển của Vườn quốc gia Vũ Quang .... 27
3.2. Điều kiện tự nhiên .................................................................................. 27
3.2.1. Vị trí địa lí ..................................................................................................27
3.2.2. Địa hình địa mạo ......................................................................................28
3.2.3. Địa chất và thổ nhưỡng. ..................................................................29
3.2.4. Khí hậu và thuỷ văn ...........................................................................30
3.2.5. Đặc điểm tài nguyên rừng .......................................................................34
3.3. Điều kiện kinh tế xã hội ........................................................................ 34
3.3.1. Dân số, dân tộc và phân bố dân cư .........................................................34
3.3.2. Cơ sở y tế, đội ngũ y bác sỹ ......................................................................35
3.3.3. Giáo dục ....................................................................................................36
3.3.4. Cơ sở hạ tầng, đường giao thông ............................................................36
3.3.5. Đánh giá chung về kinh tế xã hội trong khu vực ....................................37
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................40
4.1. Đặc điểm cấu trúc các trạng thái rừng khu vực nghiên cứu ............ 40
4.1.1. Hiện trạng rừng khu vực nghiên cứu ......................................................40
4.1.2. Đặc điểm cấu trúc tổ thành loài thực vật ................................................45
iv
4.1.3. Đặc điểm cấu trúc tuổi và tầng thứ .......................................................49
4.1.3. Đặc điểm tổ tái sinh rừng .........................................................................58
4.2. Tính đa dạng thực vật ........................................................................... 67
4.2.1. Đặc điểm tính đa dạng thực vật tại VQG Vũ Quang theo nhóm
chức năng ........................................................................................................ 67
KBT
Khu bảo tồn
3
LSNG
Lâm sản ngoài gỗ
4
ÔTC
Ô tiêu chuẩn
5
ODB
Ô dạng bản
6
ĐDSH
Đa dạng sinh học
7
Trang
2.1
Phiếu điều tra tầng cây cao
21
2.2
Phiếu điều tra cây tái sinh
22
2.3
Phiếu điều tra tầng cây bụi thảm tươi
23
3.1
Dân số, dân tộc ở vùng đệm VQG Vũ Quang
35
3.2
Tình trạng nghèo đói ở vùng đệm VQG Vũ Quang
55
57
4.7
Tổ thành loài cây tái sinh của các trạng thái rừng IIA, IIB
58
4.8
Tổ thành loài cây tái sinh của trạng thái IIIA1, IIIA2
60
4.9
Mật độ cây tái sinh của các trạng thái rừng
63
4.10
Chất lượng cây tái sinh của các trạng thái rừng
64
4.11
Tổng hợp mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao
vii
DANH MỤC HÌNH
TT
Tên hình
Trang
3.1
Biểu đồ độ ẩm và nhiệt độ
32
3.2
Biểu đồ lượng mưa và lượng bốc hơi hàng tháng
33
4.1
4.2
Biểu đồ phân bố phần trăm số cây theo cấp kính bằng hàm
Khoảng cách
Biểu đồ nắn phân bố % số cây theo cấp chiều cao bằng Weibull
cao có mạch, chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của
toàn thế giới .
Con số thống kê trên đã cho thấy sự giàu có, đa dạng của giới thực vật
ở nước ta, đồng thời chỉ rõ vị trí, tầm quan trọng của nó đối với con người.
Rừng nhiệt đới chiếm 40% tổng diện tích rừng lục địa, nhưng do khai
thác, chặt phá và làm nương rẫy…, tức can thiệp của con người không hợp lý
đã khiến cho rừng nhiệt đới bị mất đi hàng năm khoảng từ 0,6 đến 2,0 %. Xét
trên phạm vi toàn cầu, do diện tích rừng nhiệt đới bị khai thác rất lớn nên đã
khiến cho tính đa dạng sinh vật giảm thiểu, khí hậu biến đổi, môi trường suy
thoái, xói mòn rửa trôi đất và nước, đất đai bị thoái hóa, tài nguyên cạn kiệt
dần và xuất hiện một loạt vấn đề sinh thái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến điều
kiện sinh sống của con người và sự phát triển bền vững của xã hội….Trong
những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này và đã thu
được nhiều thành quả rất đáng trân trọng. Nhưng để bảo vệ, lợi dụng, phục
hồi và phát triển bền vững rừng tự nhiên nhiệt đới, đồng thời để giải quyết
những vấn đề sinh thái trọng đại mang tính toàn cầu thì rất cần thiết và cấp
bách phải tiến hành triển khai những nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc và chức
2
năng QXTVR nhiệt đới, trong đó có nội dung nghiên cứu để duy trì tính đa
dạng thực vật rừng nhiệt đới ở mức tương đối cao là vấn đề trọng điểm.
Những năm gần đây, có nhiều nghiên cứu đã quan tâm đến việc duy trì tính đa
dạng thực vật, nhưng do mặt bằng nghiên cứu, phương pháp và thời gian
nghiên cứu còn hạn chế ở một số mặt cho nên chưa giải quyết được trọn vẹn
những vấn đề về động thái và các quá trình sinh thái, từ đó ảnh hưởng đến
việc bảo vệ tổ thành loài và tính đa dạng loài thực vật trong các quần xã thực
vật rừng.
Do rừng tự nhiên nhiệt đới là HST phong phú về loài và có bố cục phức
1.1.1.1.Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được
các tác giả Baur G.N (1962), Catinot (1965), Odum (1971)… tiến hành.
Baur G.N (1962) đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói
chung và cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó
đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh
áp dụng cho rừng mưa tự nhiên.
Từ đó tác giả đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các
nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi và
các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa.
Catinot (1965); Plaudy J đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các
phẫu đồ rừng, nghiên cứu cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại về
dạng sống, tầng phiến…của quần xã thực vật rừng.
Odum (1971) đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái bên cơ sở thuật
ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P, năm 1935. Khái niệm hệ sinh
thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan
4
điểm sinh thái học.
1.1.1.2. Mô tả hình thái của cấu trúc rừng
Hiện tượng thành tầng là một trong những đặc trưng cơ bản về cấu trúc
hình thái của quần thể thực vật và là cơ sở để tạo nên cấu trúc tầng thứ.
Theo Richards P.W (1952) đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt
đới về mặt hình thái. Theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là
tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân cây gỗ và tác giả đã phân biệt tổ thành
thực vật của rừng mưa thành hai loại là rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây
phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản. Trong những điều
kiện đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài cây. Rừng mưa
Odum E.P. (1971) nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600m ở
Puecto – Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng
biệt nào cả.
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra
những nhận xét mang tính định tính, chưa thực sự phản ánh được sự phân
tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới.
1.1.1.3. Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng
Khi chuyển đổi từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lượng
cấu trúc rừng, nhiều tác giả đã sử dụng các công thức và các hàm toán học để
mô hình hóa cấu trúc rừng, xác định mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc
rừng.
Một số tác giả quan tâm nghiên cứu cấu trúc theo hướng định lượng và
dùng các mô hình toán để mô phỏng các qui luật cấu trúc. Rollet. (1971) đã
mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi qui, phân
bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất.
a, Về phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1,3)
Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính là quy luật kết cấu cơ bản
của lâm phần và được nhiều tác giả quan tâm, kiểu cấu trúc này thường được
6
biểu diễn dưới các dạng hàm toán học với nhiều dạng phân bố khác nhau.
Một số tác giả quan tâm nghiên cứu cấu trúc theo hướng định lượng và
dùng các mô hình toán để mô phỏng các qui luật cấu trúc. Rollet. (1971) đã
mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi qui, phân
bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất.
Để mô tả phân bố N/D1.3 rừng tự nhiên, Meyer (1934) và Prodan (1949)
đã sử dụng phương trình:
Yi = *exp(- *xi)
cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít
được nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa
thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã
ít nhiều bị biến đổi. Van steenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ
biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu
bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng.
Trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta nhận thấy tầng cây và tầng cây
bụi qua quá trình sinh trưởng, thu nhận ánh sáng, các chất dinh dưỡng sẽ ảnh
hưởng đến cây tái sinh. Những lâm phần thưa bị khai thác nhiều, tạo ra nhiều
khoảng trống lớn, tạo điều kiện cho cây bụi, thảm tươi phát triển mạnh. Trong
điều kiện đó chúng là nhân tố cản trở sự phát triển và khả năng sinh tồn của
các cây tái sinh. Nếu lâm phần kín, đất khô, nghèo dinh dưỡng cây bụi thảm
tươi phát triển chậm tạo điều kiện cho cây tái sinh vươn lên (Xannikow 1967;
Vipper 1973) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm (1992)).
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng
cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927), với diện tích ô
đo đếm thông thường từ 1 đến 4 m2. Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi
trong điều tra nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình
tái sinh rừng. Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard
(1950) đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích
thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở
các trạng thái rừng khác nhau .
8
1.1.3. Nghiên cứu về tính đa dạng loài trong các trạng thái rừng
(1) Nhận thức về đa dạng sinh học
Trái đất ngày càng nóng lên, băng tan, thiên tai lũ lụt xuất hiện với mật
Đa dạng về hệ sinh thái
Đa dạng về cảnh quan
(2) Tính đa dạng loài thực vật:
Loài là do cơ thể sinh vật tiến hóa mà thành, do nó chiếm được 1 không
gian nhất định, quần thể có sẵn số lượng cá thể nhất định trong thực tế hoặc bị
thay đổi khi cách ly.
Tính đa dạng loài là hình thức biểu hiện của tính đa dạng sinh vật chung,
nó là độ lượng về tính phức tạp của cấu trúc và chức năng quần xã, nó bao gồm
có mấy hàm ý như sau:
Tính đa dạng loài của 1 khu vực địa lý nhất định là tính đa dạng loài
nghiên cứu trong phạm vi khu vực đó; Là tổng số loài trong khu vực nhất định,
chủ yếu theo góc độ phân loại học, hệ thống học và địa lý học đối với việc
nghiên cứu tình hình loài động, thực vật trong 1 khu vực nhất định. Cũng còn
được gọi là tính đa dạng loài khu vực.
Tính đa dạng loài động thực vật của quần xã hay HSTR- Là nghiên cứu
cấu trúc theo chiều nằm ngang – theo góc độ sinh thái học; Ở đây chú trọng ý
nghĩa sinh thái học của tính đa dạng loài; Là chỉ trình độ đồng đều về sự phân bố
các loài trên phương diện sinh thái học. Thường được nghiên cứu trên một bộ
phận diện tích của quần xã hoặc trên các OTC, ôdb...Tính đa dạng loài cũng còn
được gọi là tính đa dạng sinh thái hoặc tính đa dạng quần xã.
Từ năm 1943, Wilianms đã đề xuất khái niệm về “Tính đa dạng loài
vật“ và Fisher đề xuất khái niệm về chỉ số tính đa dạng loài, cho đến nay cũng đã
không ngừng được hoàn thiện thêm về phương pháp xác định tính đa dạng loài
của quần xã. Đối với phương pháp xác định không chỉ có phương pháp
Magurran – được đánh giá là tương đối tỷ mỉ và chính xác, mà còn có phương
10
pháp của Whaitaker - Xác định tính đa dạng loài của quần xã hoặc tính đa dạng
Hiện nay vấn đề ĐDSH và bảo tồn ĐDSH đã trở thành một chiến lược
toàn cầu, có nhiều tổ chức ra đời để giúp đỡ, hướng dẫn và tổ chức đánh giá, bảo
tồn, phát triển đa dạng sinh học trên phạm vi toàn thế giới: Hiệp hội tổ chức
Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), chương trình môi trường liên hợp quốc
(UNEP), Quỹ bảo tồn và bảo vệ thiên nhiên (WWF)…Nhu cầu cơ bản và sự
sống còn của chúng ta phụ thuộc vào tài nguyên của trái đất, nếu nguồn tài
nguyên đó giảm sút thì cuộc sống của nhân loại sẽ bị đe doạ. Để tránh hiểm họa
đó chúng ta phải tôn trọng tài nguyên của trái đất, mọi sự phát triển đều phải
theo hướng phát triển bền vững. Theo hội nghị thưởng đỉnh bàn về vấn đề môi
trường và đa dạng sinh học tổ chức tại Rio de Janerio (Brazil - 1992), 150 nước
đã ký công ước về đa dạng và bảo vệ chúng. Năm 1990 WWF đã xuất bản quấn
sách nói về tầm quan trọng của ĐDSH, IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến
lược bảo tồn thế giới…tất cả các quấn sách đó đều nhằm hướng dẫn và đề ra các
phương pháp bảo tồn ĐDSH, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và nền tảng
trong tương lai (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn).
Ở vùng nhiệt đới, có lẽ Schimper (1918) là người đầu tiên đưa ra hệ
thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới. Trong hệ thống này Schimper
đã phân chia thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và
quần hệ vùng núi. Trong quần hệ khí hậu lại được phân chia thành 4 kiểu:
Rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừng gai; ngoài ra còn có thêm 2 kiểu là:
Thảo nguyên nhiệt đới và hoang mạc nhiệt đới (theo Thái Văn Trừng).
Rubel, Ilinski, Burt, Aubreville...chỉ căn cứ vào độ tán che trên mặt đất
của tầng ưu thế sinh thái để phân biệt các kiểu quần thể thưa thành: Rừng thưa
và trảng chuông (dẫn theo Thái Văn Trừng 1978).
Theo WWF(1989), đã định nghĩa về ĐDSH: “Đa dạng sinh học là sự
phồn thịnh của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi
12
vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng cây bụi (B), và tầng cỏ quyết
(C). Thái Văn Trừng đã bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit
– Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam.
Đào Công Khanh (1996) đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu
trúc rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn, Hà Tĩnh làm cơ sở đề xuất một
số biện pháp lâm sinh phục hồi khai thác và nuôi dưỡng rừng.
Vũ Đình Phương, Đào Công Khanh thử nghiệm phương pháp nghiên
cứu một số quy luật cấu trúc, sinh trưởng phục vụ điều chế rừng lá rộng, hỗn
loại thường xanh ở Kon Hà Nừng – Gia Lai cho rằng đa số loài cây có cấu
trúc đường kính và chiều cao giống với cấu trúc tương ứng của lâm phần,
đồng thời cấu trúc của loài cũng có những biến động.
Về nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng được nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu. Với rừng tự nhiên hỗn giao khác tuổi, từ kết quả nghiên cứu của
Đồng Sỹ Hiền (1974) cho thấy, dạng tổng quát của phân bố N/D1.3 là phân bố
giảm, nhưng do quá trình khai thác chọn thô không theo quy tắc nên đường
thực nghiệm thường có dạng hình răng cưa và ông đã chọn hàm Meyer để mô
phỏng cấu trúc đường kính cây rừng. Nguyễn Hải Tuất (1982,1986) sử dụng
phân bố khoảng cách mô tả phân bố thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay sát cỡ
đường kính bắt đầu đo. Bảo Huy (1993) cho rằng phân bố khoảng cách thích
hợp hơn các dạng phân bố khác. Lê Sáu (1996), Trần Cẩm Tú (1999), Trần
Văn Con (1991) lại cho rằng hàm Weibull thích hợp hơn cả.
Cũng với kết quả nghiên cứu của tác giả Đồng Sỹ Hiền (1974) cho thấy,
phân bố số cây theo chiều cao (N/H) ở các lâm phần tự nhiên hay trong từng
loài cây thường có nhiều đỉnh, phản ánh kết cấu phức tạp của rừng chặt chọn.
Bảo Huy (1993), Đào Công Khanh (1996), Lê Sáu (1996), Trần Cẩm Tú
(1999) đã nghiên cứu phân bố N/H để tìm tầng tích tụ tán cây. Các tác giả đã
đi đến nhận xét chung là phân bố N/H có dạng 1 đỉnh, nhiều đỉnh phụ răng
(1.4)
Cho từng loài ưu thế, Bằng lăng, Cẩm xe, Kháo, Chiêu liêu ở rừng rụng
lá và nửa rụng lá Bằng lăng khu vực Tây Nguyên và cho thấy phương trình
(1.3) thích hợp nhất.
Vũ Nhâm (1988) chọn phương trình h = a + blogd làm cơ sở xác lập
đường cong chiều cao cho lâm phần Thông đuôi ngựa khu vực đông bắc khi
phân chia sản phẩm.
Tóm lại có rất nhiều dạng phương trình biểu thị tương quan H/D, việc
lựa chọn phương trình nào phù hợp phụ thuộc vào từng đối tượng nghiên cứu,
15
thời gian nghiên cứu và phụ thuộc vào từng tác giả. Mối tương quan này là cơ
sở để xây dựng các biểu chuyên dung phục vụ cho công tác điều tra và kinh
doanh rừng.
Có thể thấy rằng trong thiên nhiên không có rừng chuẩn và ngày nay
trong quá trình dẫn dắt cũng khó đạt trạng thái chuẩn, nhưng việc chuẩn hóa
rừng theo một mô hình toán học là một sang tạo. Vì từ đó, có thể vạch ra những
định hướng cho quá trình xử lý rừng tích cực nhất, đem lại hiệu quả tối ưu.
1.2.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng
Rừng nhiệt đới Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt
đới nói chung, nhưng do phần lớn là rừng thứ sinh bị tác động của con người
nên những quy luật tái sinh đã bị xáo trộn nhiều. Đã có nhiều công trình
nghiên cứu về tái sinh rừng nhưng tổng kết thành qui luật tái sinh cho từng
loại rừng thì còn rất ít. Một số kết quả nghiên cứu về tái sinh rừng thường
được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo
hệ số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên hệ
chặt chẽ. Đa phần các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì hệ số tổ
thành tầng cây tái sinh cũng vậy.
Hiện tượng tái sinh lỗ trống ở rừng thứ sinh Hương Sơn, Hà Tĩnh đã
được Phạm Đình Tam (1987) đã có nhận xét: số lượng cây tái sinh xuất hiện
quá nhiều dưới những lỗ trống khác nhau, lỗ trống càng lớn cây tái sinh càng
nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán.
Trần Cẩm Tú (1998) nghiên cứu tái sinh tự nhiên sau khai thác chọn ở
Hương Sơn – Hà Tĩnh và đã rút ra kết luận: áp dụng phương thức xúc tiến tái
sinh tự nhiên có thể đảm bảo khôi phục vốn rừng, đảm bảo sử dụng tài
nguyên rừng một cách bền vững.
Trần Ngũ Phương (1970) khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa lá
rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con
người khai thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối