ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MAI ANH
HỢP ĐỒNG TƢ VẤN PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MAI ANH
HỢP ĐỒNG TƢ VẤN PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN MINH TUẤN
HÀ NỘI – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
Nguyễn Mai Anh
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TƢ VẤN
PHÁP LÝ ...................................................................................................... 5
1.1.
Khái quát về hợp đồng dịch vụ ................................................................... 5
1.1.1. Khái niệm ....................................................................................................... 5
1.1.2. Đặc điểm .... ................................................................................................ 10
1.1.3. Dịch vụ công và dịch vụ tư .......................................................................... 12
1.1.4. Dịch vụ pháp lý miễn phí của các nước trên thế giới................................... 19
1.2.
Khái niệm về hợp đồng tƣ vấn pháp lý .................................................... 25
1.2.1. Khái niệm ..................................................................................................... 25
1.2.2. Đặc điểm ...................................................................................................... 27
1.3.
Triển khai quy định của pháp luật tới hợp đồng tƣ vấn pháp lý .......... 31
VẤN PHÁP LÝ ........................................................................................... 62
3.1.
Tranh chấp về hợp đồng tƣ vấn pháp lý .................................................. 62
3.1.1. Nguyên nhân tranh chấp............................................................................... 62
3.1.2. Những dạng tranh chấp chủ yếu ................................................................. 700
3.2.
Kiến nghị hoàn thiện pháp luật............................................................... 777
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 844
DANH MỤC TÀ I LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 855
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
Bộ luật dân sự
CHXHCNVN
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Cty
Công ty
ĐLS
UBND
Ủy ban nhân dân
VD
Ví dụ
VPLS
Văn phòng Luật sư
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta hiện nay, các quan hệ dân sự, thương mại, lao động … ngày một
tăng lên về số lượng, theo đó tính phức tạp của các quan hệ pháp luật nói trên đã
nảy sinh các tranh chấp giữa các chủ thể trong quan hệ. Như vậy, việc giải quyết
các tranh chấp của các quan hệ pháp luật trong xã hội cần phải kịp thời và phù hợp
với pháp luật.
Vai trò của Luật sư trong xã hội đã thực sự cần thiết và được coi trọng trong
việc tư vấn pháp luật và tranh tụng trước tòa án, nhằm bảo vệ lợi ích của thân chủ,
đồng thời cũng làm rõ nội dung của pháp luật khi được áp dụng để giải quyết các
tranh chấp. Mặt khác, nhân dân đã dần nhận thức được vai trò của Luật sư, có thể
giúp đỡ được họ thực hiện các phương thức, biện pháp bảo vệ được quyền, lợi ích
chính đáng của mình trong các quan hệ dân sự, thương mại, lao động ... Do vậy,
nghiên cứu về hợp đồng dân sự nói chung và hơn nữa nghiên cứu về Hợp đồng tư
vấn pháp lý nói riêng đã trở nên cần thiết trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.
Hợp đồng tư vấn pháp lý là một loại hợp đồng được coi là mới nhằm đáp
ứng nhu cầu của những chủ thể tham gia vào các quan hệ dân sự, thương mại, lao
+ Tìm những bất cập của một số qui định về hợp đồng dịch vụ trong BLDS
từ đó kiến nghị hướng hoàn thiện pháp luật.
- Nhiệm vụ
+ Phân tích, hoàn thiện những vấn đề lý luận về hợp đồng dịch vụ.
+ Phân tích, đánh giá nội dung qui định của pháp luật về hợp đồng dịch vụ
trong BLDS.
+ Tìm và bình luận một số vụ án điển hình liên quan đến hợp đồng dịch vụ tư
vấn pháp lý.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số loại dich vụ pháp luật thông dụng;
chủ thể sử dụng hợp đồng tư vấn pháp lý và bên cung ứng hợp đồng tư vấn pháp lý.
Nội dung, hình thức của hợp đồng dịch vụ pháp lý. Quá trình giao kết, thực hiện và
hậu quả pháp lý của hợp đồng dịch vụ pháp lý vô hiệu..
2
- Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về
hợp đồng tư vấn pháp lý theo pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó đối chiếu với thực
tiễn áp dụng các quy định đó trong thực tế, đặc biệt trong tiến trình hội nhập khu
vực và quốc tế. Từ đó, đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
về trách nhiệm của các chủ thể khi giao dịch, nâng cao nhận thức của các chủ thể
trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, góp phần vào sự phát triển
chung của đất nước.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận
Cơ sở lý luận xuyên suốt đề tài này là vận dụng phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, những quan điểm chính trị của
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng tư vấn pháp lý.
Chương 2: Những vấn đề cơ bản của hợp đồng tư vấn pháp lý.
Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng dịch vụ tư vấn pháp lý.
4
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
HỢP ĐỒNG TƢ VẤN PHÁP LÝ
1.1. Khái quát về hợp đồng dịch vụ
1.1.1. Khái niệm
Hợp đồng trong từ điển tiếng Việt là (giao kèo, khế ước hay giấy ký kết)
giữa hai hay nhiều đối tác khác nhau trong các mối quan hệ khác nhau trong xã hội,
nhằm trao đổi thông tin thiết lập cam kết với nhau để thực hiện hoặc không thực
hiện một công việc nhất định.
“Các bộ cổ luật đã từng tồn tại ở Việt Nam (như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật
Gia Long) không có quy định riêng về hợp đồng, Nghĩa là, trong các thời kỳ đó, ở
Việt Nam chưa có luật riêng về hợp đồng dân sự, mặc dù trong thực tế hình thành
rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể với nhau” [37, tr.331].
Năm 1991 Pháp lệnh hợp đồng ra đời, về mặt khách quan hợp đồng dân sự là
một bộ phận các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các
chủ thể với nhau. Về mặt chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà
trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau
làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định. Hợp đồng dân sự được định
nghĩa: “Hợp đồng dân sự là thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, mượn, tặng, cho
tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà
trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng” [21, Điều 1].
định riêng, thì ưu tiên áp dụng các quy định riêng đó. Vì vậy, phạm vi áp dụng các
quy định về hợp đồng dân sự trong BLDS được mở rộng, áp dụng chung cho các
loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, thương mại.
Theo quan điểm của học viên hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà
trong đó các bên tự trao đổ i ý chí với nhau nhằ m đi đế n thoả thuâ ̣n để cùng làm phát
sinh các quyề n và nghiã vu ̣ dân sự nhấ t đinh
̣ . Viê ̣c trao đổ i ý chí này của các bên là
tự nguyê ̣n và tự do nhưng vẫn phải theo quy đinh
̣ của pháp luâ ̣t . Theo đó, các bên sẽ
chuyể n giao tài sản hay thực hiê ̣n mô ̣t công viê ̣c cho bên kia theo thoả thuâ ̣n trong
6
hơ ̣p đồ ng ; hoă ̣c thoả thuâ ̣n giữa các bên về sự thay đổ i hay chấ m dứt
quyền và
nghĩa vụ đó.
BLDS năm 2005 cũng phân biệt rõ hợp đồng dân sự khác với giao dịch dân
sự như: “Giao dịch dân sự là hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [32, điều 121]. Còn “Hợp đồng dân sự
là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự” [32, điều 388]
Trong trường hơ ̣p pháp luâ ̣t không quy đinh
, hợp đồng dân sự có thể được
̣
giao kế t bằ ng lời nói , bằ ng văn bản hoă ̣c bằ ng hành vi cu ̣ thể . Còn đối với những
hợp đồng dân sự mà pháp luật đã quy đinh
̣ buô ̣c phải giao kế t theo mô ̣t hin
chủ thể (Bên thuê dịch vụ và bên cung ứng dịch vụ) về việc xác lập, thay đổi, chấm
7
dứt nghĩa vụ dân sự. Với hành vi pháp luật tương ứng cho mỗi bên đó là, bên cung
ứng dịch vụ thực hiện công việc theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ, còn bên thuê
dịch vụ trả cho bên cùng ứng một khoản thù lao nhất định; cả hai hành vi đó được
tiến hành theo sự thỏa thuận và thống nhất cao về mặt ý chí của các bên.
Hợp đồng dịch vụ ghi nhâ ̣n pha ̣m vi quyề n , nghĩa vụ của các bên chủ thể ,
công viê ̣c phải thực hiê ̣n , mang tính song vu ̣ và có tính chấ t đề n bù . BLDS năm
2005 cũng đinh
̣ nghiã : “Hợp đồ ng di ̣ch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên , theo đó
bên cung ứng di ̣ch vụ thực hiê ̣n công viê ̣c cho bên thuê di ̣ch vụ , còn bên thuê dịch
vụ phải trả tiền dịc h vụ cho bên cung ứng di ̣ch vụ ” [32, Điề u 518]. Hợp đồng dịch
vụ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch dân sự về hoạt động dịch vụ được
tiến hành một cách dễ dàng, và thúc đẩy được giao lưu dân sự trong xã hội, làm cho
đời sống xã hội Việt Nam ngày càng được nâng cao.
Dự thảo BLDS (sửa đổi) trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9, Quốc
hội khóa 13 sắp tới. Trong đó, có những vấn đề cơ bản, có ảnh hưởng đến các chế
định dân sự khác của BLDS về “Nghĩa vụ và hợp đồng” đã sửa đổi một số vấn đề
về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ, biện pháp bảo đảm nghĩa vụ, một số
hợp đồng thông dụng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy
nhiên, nội dung các điều khoản trong mục hợp đồng dịch vụ không sửa đổi. Chỉ
thay thứ tự chương, mục và điều (từ Chương XVIII, Mục 7, Điều 453 đến Điều 596
thay sang Chương XVI, Mục 8, Điều 537 đến 545).
BLDS Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với BLDS Pháp như trích dẫn
tham khảo BLDS Pháp về Quyền 3 Các phương thức xác lập quyền sở hữu, Thiên 3
Hợp đồng hay nghĩa vụ hợp đồng có quy định:
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó một hoặc nhiều
̀ h là Nguyên tắ c chung về luâ ̣t
hơ ̣p đồ ng Châu Âu
(Principles of European Contract Law - viế t tắ t
PECL). Trong các quy đinh
̣ chung về hơ ̣p đồ ng , liên minh Châu Âu đang
hướng tới xây dựng bảng tham chiế u về hơ ̣p đồ ng dich
̣ vu ̣ đóng vai trò
như “hô ̣p công cu ̣” nhằ m hỗ trơ ̣ cho các chủ thể trong quan hê ̣ hơ ̣p đồ ng
này trong quá trình xây dựng nội dung, giao kế t, thực hiê ̣n, chấ m dứt hơ ̣p
đồ ng cũng như trách nhiê ̣m của các bên khi có hành vi vi pha ̣m nghiã vu ̣ .
Hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắ c luâ ̣t Châu Âu đươ ̣c chia thành
chương [29, tr.278].
9
7
1.1.2. Đặc điểm
Là một loại hợp đồng có đầy đủ các điều kiện về nội dung có hiệu lực của
hợp đồng dân sự như: “Người tham gia giao kết có năng lực vi dân sự; mục đích,
nội dung không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao
kết hoàn toàn tự nguyện”. Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là một công việc cụ thể .
Bên cung ứng dich
̣ vu ̣ sẽ bằ ng công sức và trí tuê ̣ để hoàn thành công viê ̣c đã nhâ ̣n
và không được giao cho người khác làm thay , trừ trường hơ ̣p bên thuê dich
̣ vu ̣ đồ ng
ý. Ngoài ra, hợp đồng dịch vụ mang những đă ̣c điể m riêng như sau:
ứng dịch vụ đã thực hiện công việc và mang lại kết quả như đã thoả thuận .
Nguyên tắc chung của quan hệ pháp luật dân sự là nguyên tắc có đi có lại
đền bù ngang giá. Trong hợp đồng dịch vụ đặc điểm này được thể hiện ở việc bên
cung ứng dịch vụ thực hiện một công việc theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ với
mục đích nhận tiền công. Bên thuê dịch vụ muốn được đáp ứng nhu cầu của mình
thì phải trả một khoản tiền công cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận.
Trong trường hợp bên cung ứng dịch vụ thực hiện một công việc không nhận
tiền công thì giao kết đó gọi là TGPL miễn phí. Người thực hiện nếu gây thiệt hại
cho khách hàng phải chịu trách nhiệm bồi thường vật chất trước Cơ quan phân công
công tác (VD: Trung tâm TGPL Nhà nước), và chịu trách nhiệm khác theo pháp
luật quy định, Bên cung ứng dịch vụ miễn phí (VD: Trung tâm TGPL Nhà nước)
chịu trách nhiệm bồi thường cho khách hàng nếu gây thiệt hại cho khách hàng về
việc phân công Trợ giúp viên; Cộng tác viên thực hiện công việc TGPL được giao
gây thiệt hại cho khách hàng. Quy định về Quyền và nghĩa vụ của Trung tâm TGPL
Nhà nước: “Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong khi thực hiện trợ giúp
pháp lý” [34, Điều 15]. Trường hợp người thực hiện là Luật sư; tổ chức hành nghề
Luật sư đã mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp về hoạt động tư vấn thì bên bảo
hiểm chịu trách nhiệm bồi thường.
- Thứ tư: Hợp đồng dịch vụ là hợp đồng song vụ
Hợp đồng song vụ là “hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau”
[32, Điều 406, khoản 1]. Đặc điểm song vụ của hợp đồng dịch vụ thể hiện trong
việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cho nhau giữa bên thuê dịch vụ và bên cung ứng
dịch vụ, quyền của bên này gắn liền với nghĩa vụ của bên kia. Việc bên nào phải
thực hiện nghĩa vụ trước sẽ căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng.
Đặc điểm này được thể hiện rõ nhất trong việc bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ
“trả tiền thù lao” cho bên cung ứng dịch vụ. Khi bên cung ứng dịch vụ đã thực
hiện một công việc theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ thì có quyền yêu cầu bên
thuê dịch vụ thanh toán tiền thù lao có giá trị tương đương với giá trị công việc đã
thực hiện hoặc đã thỏa thuận trong hợp đồng. Bên thuê dịch vụ khi đã nhận được
điể m và các thoả thuâ ̣n ho
ặc bên thuê dich
̣ vu ̣ không
, số lươ ̣ng , điạ
trả tiền công , hay không
nhâ ̣n kế t quả của công viê ̣c .
1.1.3. Dịch vụ công và dịch vụ tư
- Dịch vụ công: (Do Nhà nước quản lý)
Hiến pháp năm 1992, tại chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân có tiêu chí quyền bình đẳng tiếp cận công lý. Công cuộc cải cách
hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, hàng trăm ngàn người yếu thế có vướng mắc trong xã hội có vướng mắc pháp
luật được hưởng dịch vụ TGPL.
Ban Bí thư Trung ương Đảng đã quan tâm chỉ đạo:
... Cần phải mở rộng loại hình tư vấn pháp luật phổ thông, đáp
ứng nhu cầu rộng rãi, đa dạng của các tầng lớp nhân dân nhằm góp phần
nâng cao ý thức pháp luật và ứng xử pháp luật của công dân trong quan
hệ đời sống hàng ngày...; cần nghiên cứu lập hệ thống dịch vụ tư vấn
pháp lý không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo
pháp luật [42], đặt dấu ấn quan trọng cho quá trình chuyển biến mạnh mẽ
cho sự ra đời và phát triển của công tác TGPL.
Tại kỳ họp lần thứ 3 (1997), Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
12
13
trọng và chấp hành pháp luật, góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp
luật, bảo vệ công luật, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế
tranh chấp và vi phạm.
Về tổ chức thực hiện TGPL gồm có: Các tổ chức thực hiện trợ
giúp pháp lý là Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các tổ chức tham
gia trợ giúp pháp lý; Các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm: Tổ
chức hành nghề Luật sư; Tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị
- xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp (sau đây gọi chung là tổ chức tư vấn pháp luật) [34, Điều 3 ].
Người thực hiện dịch vụ tư vấn TGPL bao gồm: Trợ giúp viên pháp luật; Tư
vấn viên pháp luật; Luật gia; Luật sư - Cộng tác viên, vẫn được Nhà nước trả một
khoản thù lao nhất định bằng ngân sách Nhà nước. Chỉ có người dân được thuê dịch
vụ tư vấn pháp luật miễn phí mà thôi.
Tại Luật TGPL quy định: “1.TGPL là trách nhiệm của nhà nước”, “2. Nhà
nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện TGPL” [34, Điều 6].
Với quy định hiện hành, Luật sư không giữ vai trò nòng cốt trong hoạt động TGPL.
Điều 20, 22, 23 Luật TGPL nêu rõ: “Luật sư tham gia TGPL theo quy định của
pháp luật về Luật sư, tham gia TGPL với tư cách cộng tác viên của Trung tâm
TGPL nhà nước theo quy định của Luật này” [34]. Tuy nhiên, Luật sư và nghề Luật
sư là một nghề mang tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa cao, do đó, khi cung
cấp các dịch vụ pháp luật dù có phí hay miễn phí đều phải đảm bảo chất lượng.
Việc TGPL miễn phí mà đảm bảo chất lượng sẽ thể hiện tính nhân văn của hoạt
động cung cấp dịch vụ pháp luật và tính ưu việt của chế độ và nhà nước ta. Thể hiện
được vai trò của nhà nước trong việc quan tâm tới các đối tượng yếu thế, khó khăn
trong xã hội. Qua đó, cũng sẽ góp phần vào việc giữ gìn an ninh, ổn định và thúc
đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
của cơ quan tiến hành tố tụng); 65.263 vụ án dân sự; 5486 vụ án kinh tế;
5,575 vụ án hành chính; 724 vụ án lao động; 272.365 vụ tƣ vấn trong
các vụ việc khác; 9133 đại diện ngoài tố tụng; 89.491 dịch vụ pháp lý
khác; 37.827 vụ việc TGPL miễn phí [27, tr.11].
Tuy nhiên, nhìn lại công tác TGPL, kết quả công tác thực hiện TGPL của
Luật sư còn ở mức độ hết sức khiêm tốn bởi số lượng Luật sư được cấp thẻ cộng tác
15
viên TGPL cho đến nay khoảng 1.136/9.890 Luật sư (đây là một con số quá ít). Số
Luật sư này đăng ký với Sở Tư pháp và được cấp thẻ, họ tham gia TGPL theo sự
phân công ở các Trung tâm TGPL. Thực chất khi thực hiện công tác này, các Luật
sư vẫn được nhận một phần thù lao do nhà nước chi trả qua hệ thống Trung tâm
TGPL. Về chất lượng vụ việc, các Luật sư nghiêm túc thực hiện TGPL, theo Hợp
đồng và Quyết định của Trung tâm TGPL Nhà nước.
Ngoài ra, các đối tượng được hưởng dịch vụ TGPL giữa Bộ luật hình sự
(K2 Điều 57) và Luật trợ giúp pháp có nhiều bất cập, không đồng nhất dù chung
mục đích được hiểu là dịch vụ TGPL công như: “Dịch vụ pháp luật do Luật sư chỉ
định thực hiện cho các bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức án cao
nhất là tử hình; Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, có nhược điểm về thể
chất và tinh thần”.
- Dịch vụ tƣ: (Do Tổ chức Xã hội - Nghề nghiệp và Tổ chức Chính trị - Xã
Hội - Nghề nghiệp thực hiện có thu phí).
+ Dịch vụ không thu phí của Luật sư:
Nghĩa vụ thực hiện dịch vụ TGPL của Luật sư đã được cụ thể hóa theo quy
định tại điểm d khoản 2 Điều 21 Luật Luật sư (được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư số 20/2012/QH13 ngày 20/11/2012, có
hiệu lực thực hiện từ ngày 01/7/2013), thực hiện TGPL miễn phí theo quy tắc 4, Bộ
Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam số 68/QĐ-HĐLSTQ
Phương châm của Luật sư TGPL là một sứ mệnh thiêng liêng, nhất là TGPL
cho người nghèo, các đối tượng yếu thế, thiệt thòi trong xã hội. Đó luôn luôn sẽ là
sứ mệnh, chức năng không bao giờ hết việc, phải thất nghiệp.
+ Dịch vụ có thu phí
Ở Việt Nam trước năm 1987, tư vấn pháp lý chưa là nghề nghiệp, ít người
biết đến. Thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ
nghĩa và tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật, tư vấn pháp lý được nâng
cấp thành dịch vụ không thể thiếu của xã hội. Đất nước có nền kinh tế phát triển thì
nhu cầu về sử dụng dịch vụ pháp lý ngày càng tăng, từ đó dẫn tới doanh thu từ hoạt
động dịch vụ này cũng tăng tương ứng. Dịch vụ pháp lý có triển vọng trở thành một
lĩnh vực có doanh thu cao so với các ngành dịch vụ khác.
17
Luật sư; Tổ chức hành nghề Luật sư; Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc Tổ
chức Xã hội - Nghề nghiệp; Tổ chức Chính trị - Xã hội – Nghề nghiệp hoạt động
theo Luật Luật sư; Luật sư đổi bổ sung một số điều của Luật Luật sư; Nghị định số
77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 Nghị định về tư vấn pháp luật; Nghị định số
05/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của
các Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm, TGPL, Luật sư, tư vấn pháp luật đều
có quyền thỏa thuận hợp đồng tư vấn pháp lý theo quy định theo Điều 4 BLDS năm
2005 về Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận:
Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa
vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi
phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong quan hệ
dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm
đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào. Cam kết, thoả thuận hợp pháp
có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân,
pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng [32, Điều 4].