Phân bố bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi và kiến thức, thực hành của bà mẹ tại khoa hô hấp bệnh viện nhi hải dương năm 2015 - Pdf 34

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) [1956], qua báo cáo của nhiều
quốc gia thì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) là bệnh có tỉ lệ mắc và
tỷ lệ tử vong cao nhất ở trẻ dưới 5 tuổi, trong đó khoảng 90% trường hợp tử
vong là ở các nước đang phát triển [52]. Năm 1982 TCYTTG đã xây dựng
chương trình phòng chống NKHHCT ở trẻ em nhằm mục tiêu làm giảm tử
vong do bệnh này gây ra, trong đó chủ yếu là do viêm phổi (VP) [10], [92]. Nội
dung của chương trình là làm sao phát hiện trẻ bị NKHHCT sớm, ngay tại nhà
và để trẻ được đưa đến cơ sở y tế (CSYT) sớm, được chữa trị sớm. Cũng theo
chương trình này cán bộ y tế cũng được huấn luyện các kỹ năng phát hiện và
xử trí bệnh theo phác đồ. Việc truyền thông cho người chăm sóc trẻ là vô cùng
quan trọng [10], [95].
Những năm qua nhờ chương trình mà tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới năm
tuổi vì NKHHCT giảm đáng kể so với trước [82]. Mặc dù vậy, bệnh vẫn còn
là nguyên nhân chính gây tử vong cho trẻ dưới 5 tuổi trong đó hơn 90% là do
VP. Có nhiều yếu tố tác động đó là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày một
nghiêm trọng, nạn thiếu ăn, bệnh dịch khác đe dọa, tình trạng suy dinh dưỡng
nhất là suy dinh dưỡng bào thai vẫn còn xuất hiện ở nhiều nước, tình trạng
lạm dụng kháng sinh càng làm gia tăng sự kháng thuốc của phế cầu và H.
influenzae là hai vi khuẩn chủ yếu gây NKHHCT ở trẻ em [57].
Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc NKHHCT chiếm hàng đầu trong các bệnh trẻ
em dưới 5 tuổi, tần suất mắc NKHHCT trung bình hàng năm ở trẻ dưới 5 tuổi
là 4,1 lần/trẻ/năm. Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi đến khám và điều trị NKHHCT luôn
chiếm tỷ lệ cao nhất trong mô bệnh tật trẻ dưới 5 tuổi tại các cơ sở y tế, đồng
thời tử vong do NKHHCT luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số ca tử vong ở trẻ
dưới 5 tuổi. Các bệnh viện có khoảng 30 – 40 % số trẻ dưới 5 tuổi chết do


2


Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Tình hình mắc và tử vong do NKHHCT ở trẻ dưới 1 tuổi tại cộng
đồng
1.1.1. NKHHCT là gì?
NKHHCT là từ chỉ tất cả các trường hợp nhiễm khuẩn (do vi khuẩn
hoặc vi rút) ở đường hô hấp, từ mũi họng đến phế nang [9], [11], [12] [93],
[94]. Có khoảng 2/3 các trường hợp NKHHCT ở trẻ em là nhiễm khuẩn
đuờng hô hấp trên như: ho, cảm lạnh, viêm họng, viêm VA, viêm amidal,
viêm xoang, viêm tai giữa...Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới chiếm khoảng
1/3 nhưng thường nặng, dễ gây tử vong, bao gồm viêm thanh quản, viêm
thanh-khí phế quản, viêm tiểu phế quản và VP. VP ở trẻ nhỏ đặc biệt nguy
hiểm vì là nguyên nhân gây tử vong ở hơn 90% các trường hợp do NKHHCT
[94].
1.1.2. Tình hình mắc NKHHCT tại cộng đồng :
Tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, bệnh nhiễm khuẩn
chiếm 74% các trường hợp nhiễm khuẩn ở trẻ dưới 5 tuổi, trong đó NKHHCT
đứng hàng đầu, cao hơn tiêu chảy và các bệnh nhiễm khuẩn khác có thể
phòng ngừa bằng tiêm phòng vaccin [89].
Theo TCYTTG một năm một trẻ dưới 5 tuổi mắc 4-9 lượt NKHHCT bao
gồm cả nhiễm khuẩn trên và dưới. Theo Enarson (1998) [57] số lần
mắc/trẻ/năm ở trẻ em một số nước như sau :


4

Quốc gia

Số lượt mắc/trẻ/năm


dưới 5 tuổi

Ở Việt Nam, một số nghiên cứu NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi đã được
thực hiện [28], [29], [79]. Huỳnh Văn Nên và CS (1998) cho thấy trẻ dưới 1
tuổi bị mắc 3,3 lượt/trẻ/năm [27]. Huỳnh Văn Nên (1998) [28] và Lê Văn Nhi
(1995) [79] là 7,8 lượt/trẻ/năm (trẻ dưới 1 tuổi).
Chương trình NKHHCT thực hiện các nghiên cứu mắc bệnh và tử vong
ở trẻ dưới 5 tuổi của các hộ gia đình cũng cho thấy trong vòng 2 tuần vào năm
1994, 1995 và 2000 có 32%, 20,6% và 22,5% trẻ bị NKHHCT các thể, đứng
đầu trong các nguyên nhân mắc [16], [82].
Mặc dù NKHHCT có tỷ lệ mắc cao nhưng hơn 70% trường hợp là
không có VP, 25-30% các trường hợp VP (theo phân loại trong phác đồ của
TCYTTG) [52], [85]. Cũng theo Enarson [57] số lượt VP ở trẻ em một số
nước như sau :
Quốc gia

Số lượt mắc/trẻ/năm

Lứa tuổi

Ấn độ

0,13

dưới 5 tuổi

Nepal

1,0


dưới 5 tuổi


5

Việt Nam

3,3

trẻ dưới 5 tuổi

Nhìn chung lượt mắc NKHHCT ở trẻ em giữa các nước phát triển và
đang phát triển là tương tự nhau. Điểm khác biệt là lượt mắc NKHH dưới ở
các nước đang phát triển cao hơn các nước phát triển: 0,7 lượt/trẻ/năm so với
0,4 lượt/trẻ/năm (ở trẻ từ 1-4 tuổi) [57]. Có nhiều lý do giải thích điều này
nhưng điều quan trọng là căn nguyên gây VP cho trẻ em ở các nước đang phát
triển chủ yếu là do vi khuẩn [82]. A.Pio và CS cho biết có sự khác biệt về lượt
trẻ VP trên 1000 trẻ sống giữa các nước phát triển và đang phát triển [82]:
Dong Quan (Trung Quốc) là 74,6 lượt VP/1000 trẻ sống (dưới 5 tuổi); bang
Punjab (Ấn Độ) 94,1; Tari, Papua New Guinea 256,0; Chapell Hill, New
York là 36,0; Hoa Kỳ là 30,0.
1.1.3. Tình hình tử vong :
Cho tới nay NKHHCT vẫn là nguyên nhân gây tử vong cao nhất cho trẻ
dưới 5 tuổi, trong đó hơn 90% là ở các nước đang phát triển [51], [54], [75],
[82]. Dưới đây là bảng trình bày số liệu tử vong do NKHHCT tại một số nước
trên thế giới [82] :
Địa điểm nghiên cứu

Tử vong do


Tari, Papua New Guinea

13

36,0

Bangamoyo, Tanzania

14

30,0

Theo TCYTTG (1998), mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 3 triệu trẻ
em dưới 5 tuổi chết do NKHHCT, chiếm khoảng 30% của tất cả các nguyên


6

nhân tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi. Trong số đó 20% chết do VP, 5,0% chết
do VP phối hợp với bệnh sởi, 5,0% do VP phối hợp với sốt rét và ho gà [57],
[82].
Hơn một nửa số tử vong do VP ở trẻ dưới 5 tuổi trên toàn thế giới tập
trung chủ yếu ở 5 nước như : Ấn Độ (29%), Nigeria (8,0%), Bangladesh
(8,0%), Pakistan (5,0%) và Ethiopia (3,0%). Tử vong nhiều nhất là ở khu vực
châu Phi, đặc biệt là các nước cận sa mạc Shahara, sau đó là châu Á (không
bao gồm Trung Quốc), tiếp đến khu vực Mỹ La Tinh và Trung Quốc. Bắc Mỹ
và châu Âu có tỷ lệ tử vong thấp nhất [57], [82].
Hơn 90% số tử vong do NKHHCT là ở trẻ dưới 1 tuổi [6], [7]. Một số
nghiên cứu cho thấy khoảng 20,8% tử vong do VP xảy ra trong vòng 1 tháng

Ở trẻ dưới 5 tuổi, 70% các trường hợp nguyên nhân gây NKHHCT là do
vi-rút. Theo thứ tự hay gặp được xắp xếp như sau: Respiratory Syncytial
Virus (SRV-vi-rút hợp bào hô hấp); Influenzae Virus (vi-rút cúm);
Parainfluenzae Virus (vi-rút á cúm); vi –rút sởi; Adenovirus; Rhinovirus;
Enterovirus; Cornavirus [90].
Nghiên cứu tại Gambia, ở trẻ khoẻ mạnh, cho kết quả: tỷ lệ mang vi-rút ở
trẻ dưới 12 tháng là 25%, trẻ từ 17-23 tháng tuổi là 17%; trẻ 24-36 tháng là
33% và trẻ 36-60 tháng là 42%. Các loại vi-rút hay gặp gồm: Adenovirus 8,1%
(18/221); Vi-rút cúm týp A 5,8% (13/221); Á cúm 6,3% (14/221) và SRV 1,8%
[65].
Một nghiên cứu khác tại Zambia, trên hai lô bệnh nhân là trẻ suy dinh
dưỡng và khoẻ mạnh, cho thấy tỷ lệ trẻ khoẻ mạnh mang vi-rút là 40% và trẻ
suy dinh dưỡng là 35% (sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, p>0,05).
Các vi-rút phổ biến ở cả hai nhóm trẻ là Adenovirus, RSV, vi-rút cúm và á cúm
[76].


8

Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng thấy kết quả tương tự với các nghiên
cứu trên thế giới. Bằng phương pháp chẩn đoán huyết thanh, nghiên cứu tại
Viện Nhi Quốc gia cho biết tỷ lệ trẻ lành mang vi-rút là 34,5%, trong đó SRV
chiếm 40%, vi-rút cúm 30% và á cúm 30%. Nghiên cứu của Viện Dịch tễ Hà
Nội phối hợp với khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai cũng cho thấy 52% trẻ lành
mang vi-rút, trong đó RSV 28%, Adenovirus 10%, á cúm 6%, cúm A 4%,
cúm B 4%. Một nghiên cứu khác của Viện Vệ sinh Dịch tễ Hà Nội, với
phương pháp miễn dịch huỳnh quang, cho biết SRV là 18,5%, Adenovirus
2,85%, á cúm týp 3 là 2,85% và cúm A 1,42% [15].
1.2.1.2. Vi khuẩn
Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy một số vi khuẩn

1.2.2. Các yếu tố căn nguyên
Có nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến NKHHCT đã được nghiên cứu
và xác định [64], [87]. Đào Ngọc Phong và CS cho biết khoảng 22 yếu tố
nguy cơ ảnh hưởng đến NKHHCT [33]. Các yếu tố nguy cơ được xếp thành 3
nhóm:
1.2.2.1. Các yếu tố về môi trường:
ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nội thất (nơi cư trú ẩm thấp, thông khí
kém) gồm cả khói bếp, thuốc lá, thuốc lào, nơi cư trú chật hẹp, khí hậu lạnh...
[67].
1.2.2.2. Các yếu tố nội sinh hay cơ địa:
Trẻ nam hay mắc NKHHCT hơn trẻ gái, trẻ càng nhỏ hay mắc VP hơn
và dễ dẫn đến tử vong hơn, trẻ sinh ra có cân nặng thấp dưới 2500 gram, trẻ
không được nuôi bằng sữa mẹ, trẻ ăn sam sớm, suy dinh dưỡng, thiếu vitamin
A, có tiền sử nhiễm trùng như cúm, HIV, cư trú thường trực của một số vi
khuẩn gây bệnh ở vùng tỵ hầu đặc biệt là phế cầu, H. influenzae, tiêm chủng
không đầy đủ ... [30], [59], [63], [66], [69], [80].
1.2.2.3. Các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội và tập quán:


10

Thu nhập thấp, học vấn thấp hoặc mù chữ, thiếu hiểu biết về chăm sóc
trẻ, tập quán hoặc thói quen chăm sóc trẻ lạc hậu, bà mẹ lớn tuổi, khoảng cách
con dày, nhà đông con... [64], [82].
1.2.3. Chẩn đoán NKHHCT tại cộng đồng
1.2.3.1. Những dấu hiệu thường gặp khi trẻ mắc NKHHCT:
Sau đây là tỷ lệ (%) xuất hiện các dấu hiệu NKHHCT qua kết quả nghiên
cứu tại Việt Nam và Papua New Guinea.
Dấu hiệu


56,1

5. Sốt ≥ 380C

52,6

61,0

6. Khò khè (cò cử)

47,4

48,0

7. Cánh mũi phập phồng

32.6

26,7

8. Tím tái

32,4

36,0

9. Bỏ bú, bú kém

31,4


8,0

Những dấu hiệu trẻ mắc NKHHCT bao gồm: Ho, sốt hoặc hạ nhiệt độ,
chảy nước mũi, thở nhanh, khó thở, thở khò khè, rút lõm lồng ngực, cánh mũi
phập phồng, ran ẩm nhỏ hạt, tím tái, bỏ bú hoặc bú kém, co giật... Tuy nhiên


11

mức độ xuất hiện này khác nhau, phụ thuộc vào tình trạng bệnh nặng nhẹ, vào
lứa tuổi của trẻ.
Như vậy các dấu hiệu như ho, nhịp thở nhanh, rút lõm lồng ngực, ran ẩm
nhỏ hạt là những dấu hiệu có tỷ lệ gặp nhiều nhất khi trẻ mắc NKHHCT. Một
số dấu hiệu khác mặc dù xuất hiện nhiều, nhưng lại là biểu hiện tình trạng
bệnh nặng như tím tái, thở rên, ngủ li bì khó đánh thức, cơn ngừng thở, co
giật, hạ nhiệt độ. Theo Khu Khánh Dung, Tô Thanh Hương thì thở rên, hạ
nhiệt độ, li bì, bỏ bú là dấu hiệu biểu hiện VP nặng và hay gặp ở trẻ dưới 2
tháng [24].
1.2.3.2. Cơ sở khoa học của một số dấu hiệu cơ bản để chẩn đoán NKHHCT
tại cộng đồng.
TCYTTG đưa ra một số yêu cầu để xây dựng tiêu chuẩn chẩn đoán của
phác đồ xử trí trẻ mắc NKHHCT [85]:
* Những dấu hiệu dùng để làm cơ sở chẩn đoán phải có độ nhạy và độ đặc
hiệu cao. Đồng thời, phải dễ phát hiện mà không cần đòi hỏi phương tiện
chẩn đoán phức tạp, ngay cả một CBYT ở tuyến cơ sở với trình độ chuyên
môn thấp cũng có thế phát hiện được.
* Phương pháp chẩn đoán này phải được phổ cập rộng rãi, đặc biệt là cho
tuyến cơ sở.
Theo TCYTTG thì dấu hiệu thở nhanh, khó thở, rút lõm lồng ngực có độ
nhạy và độ đặc hiệu cao trong chẩn đoán VP và VP nặng tại cơ sở. Dấu hiệu

phút. Đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi, cần đếm 2 lần, vì ở lứa tuổi này nhịp thở
chưa ổn định, trẻ thường thở không đều, thở tăng lên khi gắng sức . Để đếm
nhịp thở chính xác, trẻ phải ở trạng thái yên tĩnh, tốt nhất là lúc ngủ [13].
Để chứng minh nhịp thở nhanh có phải là dấu hiệu có giá trị trong chẩn
đoán VP hay không, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện nhằm
đánh giá về độ nhạy và độ đặc hiệu của nhịp thở trong chẩn đoán VP. Bảng
dưới đây là tổng hợp kết quả nghiên cứu của về độ nhạy (giá trị %) của nhịp
thở trong chẩn đoán VP [59], [77].
Nơi nghiên cứu

≥ 50 lần/phút

≥ 40 lần/phút

2-11 tháng

1-4 tuổi

1-4 tuổi

Goroca (Papua New Guinea)

80

57

74

Vellore (Ấn Độ)



13

Bảng trên cho thấy với nhịp thở từ 50 lần/phút trở lên đối với nhóm trẻ
từ 2 tháng đến dưới 12 tháng tuổi và từ 40 lần trở lên với nhóm 1- dưới 5 tuổi
có độ nhạy chẩn đoán VP cao hơn 70%.
Tần số thở
≥ 50 lần/phút
≥ 40 lần/phút
Kết hợp

Nơi

Độ

Độ đặc

Giá trị tiên đoán

nghiên cứu

nhạy (%)

hiệu (%)

khẳng định (%)

Manila

65


81

77

64

Mbabane

77

80

55

* Từ 50 lần/phút với trẻ 2 đến dưới 12 tháng, từ 40 lần/phút với trẻ 1- dưới 5 tuổi.
Kết quả nghiên cứu này là ở Manila (Philippin) và Mbabane (Papua New
Guinea) [77]. Số liệu cho thấy, nếu tần số thở ≥ 50lần/phút cho mọi trẻ từ 2
tháng đến 4 tuổi thì độ nhạy chẩn đoán thấp, nhưng độ đặc hiệu chẩn đoán sẽ
cao, còn khi lấy nhịp thở ≥ 40 lần/phút thì kết quả ngược lại. Khi lấy nhịp thở
≥ 50 lần/phút cho trẻ từ 2 tháng đến 12 tháng và ≥ 40 lần/phút cho trẻ từ 1dưới 5 tuổi thì độ nhạy và độ đặc hiệu đều cao, đồng thời giá trị tiên đoán
khẳng định của 2 nghiên cứu đều hơn 50%.
Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Dũng (1995) ở trẻ từ 2 tháng đến dưới 12
tháng cho thấy nếu lấy ngưỡng nhịp thở từ 70 lần/phút trở lên thì độ nhạy
chẩn đoán là 38,7%, nhưng độ đặc hiệu là 90,6% và giá trị tiên đoán khẳng
định là 96,4%, giá trị tiên đoán phủ định là 18,5% [14].
Chhabra và CS ở Ấn Độ [53] cũng nghiên cứu tần số thở để chẩn đoán
VP. Kết quả cho thấy ở trẻ từ 2 tháng đến dưới 12 tháng tần số thở ở mức từ
50 lần/phút trở lên có độ nhạy và độ đặc hiệu trùng hợp ở mức độ cao, khoảng


33%

Boston (Hoa Kỳ)

125

0-17

57%

Baltimyre (Hoa Kỳ)

155

0-19

43%

Nairobia(Kenia)

150

0-5

66%

Tổng số

563


London (Anh quốc-1988)

24

24

Khá (0,33-0,44)


15

(Kappa =1 là phù hợp hoàn toàn không phải ngẫu nhiên)
Hadi (Bangladesh) cho biết nếu chẩn đoán VP bằng đếm nhịp thở thì
giữa các bác sỹ và nhân viên y tế tình nguyện có mức thống nhất cao hơn so
với nghe ran ẩm nhỏ hạt (chỉ số Kappa=0,67) [90]. Như thế việc chẩn đoán
VP bằng nghe ran ẩm không phải là dễ dàng, đặc biệt là đối với các cán bộ y
tế cơ sở.
Như vậy, bằng phương pháp đếm nhịp thở có thể chẩn đoán đúng
khoảng 80% trường hợp VP. Nhịp thở nhanh là một dấu hiệu lâm sàng độc
đáo mà không có một dấu hiệu lâm sàng nào kết hợp được cả độ nhạy và độ
đặc hiệu cao khi chẩn đoán VP. Rõ ràng, đếm nhịp thở là một kỹ thuật thực sự
phù hợp cho CBYT để chẩn đoán VP tại tuyến cơ sở [83].
1.2.3.2.2. Rút lõm lồng ngực
Rút lõm lồng ngực là phần phía dưới bờ sườn hoặc phần dưới xương ức
lõm vào mỗi khi trẻ hít vào. Nếu chỉ phần mềm giữa các xương sườn hoặc
vùng trên xương đòn rút lõm thì đó không phải là rút lõm lồng ngực.
Do phổi bị viêm làm các phế nang bị tổn thương, tăng xuất tiết bít hẹp
các phế quản, phế nang và các tiểu phế quản, đồng thời làm mất tính mềm
mại của phổi, nên khả năng dãn nở của phổi bị hạn chế. Tất cả những điều đó
làm giảm diện tích trao đổi khí của phế nang, trẻ luôn trong tình trạng thiếu

Dựa vào dấu hiệu thở nhanh và rút lõm lồng ngực, NKHHCT được phân
làm 4 mức độ: không viêm phổi-ho hoặc cảm lạnh, viêm phổi, viêm phổi
nặng và bệnh rất nặng. Đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi, chỉ có 3 mức độ là
không viêm phổi, viêm phổi nặng và viêm phổi rất nặng hay bệnh nguy kịch.
Sở dĩ trẻ dưới 2 tháng không có viêm phổi vì khi bị VP bệnh thường diễn biến
nhanh, phức tạp, dễ dẫn đến tử vong. Vì thế trẻ dưới 2 tháng tuổi đã VP là VP
nặng. Tuyến y tế cơ sở không có khả năng xử trí, mà phải chuyển đến bệnh
viện điều trị. Tóm lại, với trẻ dưới 2 tháng tuổi tại tuyến y tế cơ sở chỉ có 2
khả năng xử trí: (1) chăm sóc, theo dõi tại nhà khi chẩn đoán là không viêm


17

phổi; (2) chuyển đến bệnh viện khi chẩn đoán là viêm phổi nặng và bệnh rất
nặng. Sau đây là phân loại NKHHCT của TCYTTG [91].
Ho, sốt đơn thuần

KHÔNG VIÊM PHỔI

Ho, sốt kèm thở nhanh (trẻ từ 2-dưới 12

VIÊM PHỔI

tháng)
Ho, sốt, thở nhanh và rút lõm lồng ngực

VIÊM PHỔI NẶNG

Khi trẻ có một trong các dấu hiệu sau :
. Bỏ bú hoặc bú kém (< 2 th tuổi)

NKHHCT [12].
Phác đồ xử trí trẻ ho hoặc khó thở áp dụng tại tuyến y tế cơ sở là phù
hợp và đã mang lại hiệu quả rõ rệt, có thể hạn chế được 70% tử vong do VP
[85], [91]. Bên cạnh đó còn làm giảm việc dùng kháng sinh không hợp lý để
điều trị cho trẻ NKHHCT, nâng cao khả năng nhận biết các dấu hiệu và chăm
sóc trẻ mắc NKHHCT cho các bà mẹ [38], [79], [80].
TCYTTG đã tổng kết và phân tích 7 nghiên cứu về áp dụng Phác đồ xử
trí trẻ ho hoặc khó thở ở các nước Bangladesh, Ấn Độ, Nepal, Pakistan và
Tanzania, cho thấy tử vong do VP đã giảm 55,0%, qua đó góp phần làm giảm
20,0% tử vong chung của trẻ dưới 5 tuổi [57].
Kết quả 19 cuộc điều tra hoạt động y tế cơ sở ở 18 nước trong giai đoạn
4 năm (1992-1994) cho thấy hiệu quả rõ rệt của việc áp dụng Phác đồ tại
tuyến cơ sở: số CBYT xử trí trẻ NKHHCT đúng theo phác đồ tăng 31.0%; số
CBYT hướng dẫn đúng cho bà mẹ cách phát hiện dấu hiệu và chăm sóc trẻ
tăng 41,3%;giảm 31,0% số trường hợp kê đơn kháng sinh không hợp lý [57].
Đã từ lâu, penicillin G được sử dụng điều trị các bệnh nhiễm trùng, trong
đó có NKHHCT, nhưng mức độ kháng lại kháng sinh này của 2 vi khuẩn chủ
yếu là phế cầu và H. influenzae vẫn còn ở mức thấp [6], [14], [78]. Nhiều
nghiên cứu về lâm sàng đã chứng tỏ hiệu quả của kháng sinh này trong điều
trị VP ở trẻ em. Nguyễn Tiến Dũng đã dùng benzyl penicillin điều trị cho trẻ
từ 2 tháng đến 1 tuổi bị VP đạt tỷ lệ khỏi 78.1%. Những trường hợp viêm
phổi nặng ở trẻ 2 tháng đến 1 tuổi áp dụng phác đồ benzyl penicillin phối hợp
với Gentamycin hoặc dùng Chloramphenicol đơn thuần cũng đạt hiệu quả


19

khỏi bệnh là 61.9% và 73.7%. Còn đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi bị viêm phổi
nặng áp dụng công thức Benzyl penicillin phối hợp với Gentamycin khỏi
bệnh là 84.4% [14], [34], [38].

xử trí đúng NKHHCT của CBYT tuyến cơ sở nơi có Chương trình cao hơn 3
lần so với nơi chưa triển khai Chương trình, 91,42% so với 37,5%. Tỷ lệ bà
mẹ ở nơi có Chương trình nhận biết được dấu hiệu thở nhanh và rút lõm lồng
ngực cao hơn nhiều lần so với bà mẹ ở nơi chưa có Chương trình: 78,01% và
21,98% so với 34,18% và 3,63% [44], [45].
Một trong những biện pháp can thiệp của Chương trình nhằm làm giảm
tử vong do VP là huấn luyện cho CBYT tuyến cơ sở cách xử trí trẻ ho hoặc
khó thở theo phác đồ. Đánh giá hiệu quả can thiệp bằng biện pháp này, Hoàng
Thị Hiệp đã cho thấy tỷ lệ CBYT tuyến cơ sở chẩn đoán sai đã giảm đáng kể;
sử dụng kháng sinh không hợp lý giảm từ 84,3% xuống còn 44,4%; số trẻ
viêm phổi nặng đã được chẩn đoán đúng và chuyển lên bệnh viện tuyến trên
kịp thời, qua đó đã làm giảm tử vong do VP [22].
1.2.7. Vai trò của người mẹ trong chăm sóc trẻ
1.2.7.1.Vai trò của người mẹ trong chăm sóc trẻ
Dù cuộc đấu tranh vì sự bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ đã đạt được
nhiều tiến bộ trong 30 năm qua, nhưng một trong những nhiệm vụ quan trọng
nhất của người phụ nữ trong gia đình là chăm sóc và nuôi dạy con cái. Đó là
lẽ tự nhiên và do phong tục, tập quán [1]. Tại Việt Nam, cũng như mọi quốc
gia châu Á khác, việc chăm sóc con cái chủ yếu do người mẹ đảm nhiệm [40],
[41], [42].
Các công việc về chăm sóc con cái bao gồm việc nuôi dưỡng trẻ ( cho
ăn, uống), chăm sóc sức khoẻ cả lúc trẻ khoẻ mạnh lẫn lúc ốm đau, mua sắm
đồ dùng cho trẻ, dạy dỗ trẻ... [3]. Một nghiên cứu của Nguyễn Linh Khiếu ở
vùng nông thôn cho thấy, 90,8% do cả bố và mẹ, chỉ 1,0% do một mình bố.


21

Trong khi, công việc nội trợ do một mình người mẹ là 86,2%, do cả hai vợ
chồng là 2,1%, do một mình bố là 3,2% [25].

đưa trẻ đến cơ sở y tế khi bệnh đã nặng, thì khả năng cứu sống trẻ cũng rất
thấp [68]. Vì vậy , trong nhiều năm qua, một chiến lược mà TCYTTG cũng
như chương trình NKHHCT ở Việt Nam đề ra là nâng cao khả năng phát hiện
dấu hiệu NKHHCT cho bà mẹ, giúp họ đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời. Một số
nghiên cứu đã cho thấy nếu bà mẹ biết phát hiện dấu hiệu VP và đưa trẻ đến
cơ sở y tế kịp thời, đồng thời trẻ được xử trí đúng sẽ ảnh hưởng tốt đến sức
khoẻ của trẻ. Bà mẹ biết cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu, đồng
thời biết cho trẻ ăn bổ xung đúng, đủ chất dinh dưỡng sẽ phòng ngừa được
10% tử vong do NKHHCT và tiêu chảy [96].
Hiện nay ở các nước đang phát triển, vẫn còn nhiều bà mẹ không biết
nhận biết dấu hiệu NKHHCT, cũng như không biết chăm sóc đúng cho trẻ
mắc NKHHCT [97], [99]. Một nghiên cứu ở El Alto, Bolivia cho thấy 57,0%
bà mẹ được phỏng vấn không biết dấu hiệu NKHHCT, 99,0% trẻ mắc
NKHHCT không được chăm sóc đúng, 42,0% số tử vong do NKHHCT và
tiêu chảy không được chăm sóc đúng, 42,0% số tử vong do NKHHCT và tiêu
chảy không được đưa đến cơ sở y tế kịp thời [96]. Tình trạng lạm dụng kháng
sinh để chữa ho, sốt đơn thuần rất phổ biến [96]. TCYTTG ước tính mỗi năm
trên toàn thế giới tiêu tốn khoảng 8 tỷ USD chỉ để chữa triệu chứng ho và sốt,
trong đó một phần là do bà mẹ và gia đình tự ý mua kháng sinh chữa ho cho
trẻ [58]. Một tổng kết của TCYTTG về điểu tra hoạt động của tuyến y tế cơ sở
ở 19 nước trên thế giới (1997) cho thấy chỉ khoảng 35,0% bà mẹ biết dấu hiệu
thở nhanh, khó thở; 57,6% bà mẹ tự mua thuốc chữa cho trẻ, nếu không đỡ
mới đưa đến cơ sở y tế [58]. Tại Việt Nam, qua các cuộc điều tra hộ gia đình
và điều tra về kiến thức và thực hành của bà mẹ về NKHHCT cũng cho thấy


23

chỉ có khoảng 40,0% bà mẹ biết dấu hiệu thở nhanh hoặc khó thở, khoảng
27,0% bà mẹ tự ý dùng kháng sinh để chữa ho cho trẻ [23].

tại cộng đồng của họ, để họ tự nguyện tham gia giải quyết các tồn tại đó. Mỗi
người biết tự chăm sóc sức khoẻ cho bản thân là biện pháp phòng bệnh tích
cực nhất [94]. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ của TTGDSK là đặc biệt quan
trọng.
Chăm sóc sức khoẻ trẻ em là loại chăm sóc đặc biệt bởi những lý do
sau: (1) Trẻ em không biết và không tự quyết định về chăm sóc sức khoẻ cho
chính mình, mà phải phụ thuộc vào người ngoài; (2) Khi trẻ mắc bệnh, bệnh
thường diễn biến nhanh, phức tạp, dễ dẫn đến tử vong, cho nên trẻ cần được
đưa đến cơ sở y tế kịp thời [97]. Cơ sở y tế dù có hiện đại, nhưng khi trẻ mắc
bệnh mà không đuợc phát hiện, không được đưa đến y tế kịp thời thì cơ sở y
tế đó cũng không phát huy được tác dụng.
Với đặc thù đó, vai trò của người chăm sóc trẻ, mà chủ yếu là bà mẹ, là rất
quan trọng. Để bà mẹ có thể chăm sóc tốt sức khoẻ cho trẻ, cần có nhiều yếu tố,
nhưng TTGDSK là một yếu tố rất quan trọng [68]. Nhờ TTGDSK, bà mẹ sẽ biết
cách chăm sóc trẻ cả lúc khoẻ lẫn và lúc đau ốm, biết cách phát hiện các dấu
hiệu khi trẻ mắc bệnh, biết đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời, tránh được tử vong
[60].
Truyền thông nói chung không chỉ tác động đến một cá nhân, mà có tác
động đến toàn thể cộng đồng [81]. TTGDSK huy động các cấp chính quyền
tạo điều kiện về hành lang pháp lý, về nhân lực, hỗ trợ kinh phí và có thể trực
tiếp tham gia vào công tác chăm sức khoẻ [81]. Để đạt được mục tiêu về
Chiến lược Sức khoẻ ở Việt Nam, giai đoạn 2001-2010, TTGDSK được Bộ Y
tế coi như một giải pháp chính để huy động cộng đồng, mọi tầng lớp nhân
dân, các tổ chức quần chúng tự nguyện cùng tham gia, đóng góp sức lực vào
việc bảo vệ sức khoẻ cho bản thân mình và cộng đồng [5].


25

Kinh nghiệm trên thế giới, cũng như ở Việt Nam cho thấy nhờ làm tốt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status