Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ tại tỉnh vĩnh phúc - Pdf 34

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam trong thời gian qua đã khẳng
định vị trí và vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân với đặc thù năng
động, linh hoạt và thích ứng nhanh với các thay đổi của thị trường. Các doanh
nghiệp này cũng đã tạo số lượng việc làm đáng kể góp phần giải quyết các
vấn đề xã hội và xoá đói - giảm nghèo. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng tạo
các mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp nhỏ
và vừa (DNNVV) trong và ngoài nước để tham gia hiệu quả vào các chuỗi giá
trị ngành hàng và các chuỗi giá trị toàn cầu. Hiện nay, trong nền kinh tế các
nước trên Thế giới các DNNVV thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các
doanh nghiệp.
Lĩnh vực DV nói chung bao gồm những lĩnh vực hết sức nhạy cảm và
có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế. Việc đẩy mạnh và mở cửa
về lĩnh vực này cần được xem xét một cách toàn diện để có thể xác định và
tiến hành những bước đi và giải pháp phù hợp. Nhằm một mặt góp phần cùng
tỉnh thành và cả nước thực hiện thành công tiến trình mở cửa, mặt khác cùng
góp phần đảm bảo giữ vững độc lập dân tộc, định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta.
Lĩnh vực DV tuy không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất nhưng
vụ góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa, thúc đẩy
thương mại hàng hóa phát triển. Buôn bán quốc tế, đặc biệt là buôn bán hàng
hóa sẽ lưu hành như thế nào nếu không có dịch vụ vận tải? dịch vụ thanh
toán? Chính sự ra đời và phát triển của dịch vụ vận tải như vận tải đường bộ,
đường không, đường biển đã góp phần khắc phục được trở ngại về địa lý, đẩy
nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, thúc đẩy nhu cầu mua bán, trao đổi hàng
hóa từ Quốc gia này đến quốc gia khác, từ khu vực này đến khu vực khác...
Các dịch vụ ngân hàng cũng cho phép khâu thanh toán được diễn ra một cách




3
giảm nghèo, ổn định an ninh trật tự xã hội, tạo điều kiện thuận lợi khai thác
thế mạnh là tỉnh phát triển nhanh, có nhiều lợi thế phát triển công nghiệp phụ
trợ, dịch vụ du lịch,…
Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, tận dụng những cơ hội và
vượt qua thách thức đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và cơ cấu
lại nền kinh tế của tỉnh, DNNVV trong lĩnh vực DV tỉnh Vĩnh Phúc cần được
phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng; nhằm khẳng định vị trí, vai
trò và phát huy mọi nguồn nội lực của tỉnh, giảm dần sự phụ thuộc vào khu
vực (FDI) góp phần quan trọng vào phát triển bền vững của tỉnh. Để đóng góp
phần nào của mình vào việc tìm kiếm những giải pháp tích cực hỗ trợ phát
triển các DNNVV trong lĩnh vực DV nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp phát
triển, góp phần thực hiện tỉnh Vĩnh Phúc trở thành tỉnh CNH-HĐH.
Từ thực tiễn trên, đề tài “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong
lĩnh vực dịch vụ tại tỉnh Vĩnh Phúc” để tìm ra nguyên nhân và đề xuất
những giải pháp phát triển DNNVV trong lĩnh vực DV ở địa phương.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Góp phần hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển
DNNVV và phát triển DNNVV trong lĩnh vực DV tại tỉnh Vĩnh Phúc.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích, làm rõ tiềm năng, lợi thế, thực trạng phát triển DNNVV
trong lĩnh vực DV về số lượng, chất lượng, loại hình, cơ cấu ngành nghề.
Đồng thời xác định rõ những thế mạnh và yếu kém của DNNVV trong lĩnh
vực DV so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, so sánh với cả
nước và các tỉnh lân cận. Từ đó, chỉ ra những khó khăn, hạn chế, thách thức
và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm trong việc phát triển DNNVV trong
lĩnh vực DV trong những năm qua.



5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Lý luận chung về doanh nghiệp
* Các quan điểm về doanh nghiệp
- Quan điểm nhà tổ chức: doanh nghiệp là một tổng thể các phương
tiện, máy móc thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm đạt một mục đích.
- Quan điểm lợi nhuận: doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất, thông
qua đó, trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố
sản xuất khác nhau, nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị
trường và thu khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm.
- Quan điểm chức năng: doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh
doanh nhằm thực hiện một, một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình
đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm
mục đích sinh lợi.
- Quan điểm lý thuyết hệ thống: doanh nghiệp là một bộ phận hợp
thành trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác
động tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà nhà
nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của
xã hội.
Từ các quan điểm trên, nói một cách khái quát “Doanh nghiệp là một
đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức, nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa hóa lợi
nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng
của người tiêu dung”.
* Những đặc điểm họat động của doanh nghiệp nói chung

Lĩnh vực dịch vụ nói chung bao gồm những lĩnh vực hết sức nhạy cảm
và có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế. Việc đẩy mạnh và mở
cửa về lĩnh vực này cần được xem xét một cách toàn diện để có thể xác định
và tiến hành những bước đi và giải pháp phù hợp.
Hoạt động của dịch vụ có vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các DNNVV tham gia hoạt động
kinh doanh trong lĩnh vực này cũng đã đóng một vai trò quan trọng trong việc
đóng góp vào tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước:
- Các DNNVV trong lĩnh vực DV góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu
thông, phân phối hàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát triển trong
phạm vi quốc gia cũng như quốc tế.
- Các DNNVV trong lĩnh vực DV tạo điều kiện để thúc đẩy sản xuất
hàng hóa phát triển. Các chủ thể kinh doanh mua bán được sản phẩm, góp
phần tạo ra quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và như vậy các dịch
vụ sẽ lưu thông, các dịch vụ được thông suốt. Có thể nói, nếu không có các
doanh nghiệp dịch vụ thì sản xuất hàng hóa khó có thể phát triển được.
- Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, các DNNVV trong lĩnh vực
DV đã trở thành yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất là bởi vì nhu cầu
về dịch vụ xuất phát từ chính các nhà sản xuất khi họ nhận thấy rằng, để có
thể tồn tại trong sự cạnh tranh khốc liệt ở cả thị trường nội địa và thị trường
nước ngoài, phải đưa nhiều hơn các yếu tố dịch vụ vào trong quá trình sản
xuất để hạ giá thành và nâng cao chất lượng như dịch vụ khoa học, kỹ thuật
công nghệ.
- Thông qua mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, khả năng tiêu
dùng, nâng cao mức tiêu thụ và hưởng thụ của cá nhân và doanh nghiệp cũng
tăng lên góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường lao động và phân
công lao động trong xã hội.


8

nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn
kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 378.000 USD - theo tỷ giá giữa
VND và USD tại thời điểm ban hành công văn). Tiêu chí này đặt ra nhằm xây
dựng một bức tranh chung về các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam phục
vụ cho việc hoạch định chính sác.
-Theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát
triển DN nhỏ và vừa thì “DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã
đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.
- Nghị định 56/2009 của chính phủ cho rằng: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia
thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn
vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của
doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu
tiên), cụ thể như bảng 1.1:
Bảng 1.1. Tiêu chí phân loại DNNVV theo nghị định 56/2009/NĐ-CP
Quy mô
Khu vực

1. Nông, lâm nghiệp
và thủy sản
2. Công nghiệp và
xây dựng
3. Thương mại và
dịch vụ

DN siêu
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
nhỏ

50 - 100

Với những mục đích khác nhau và vào những thời điểm khác nhau nên
việc đưa ra những tiêu thức để phân loại, xác định DNNVV của các tổ chức,
cơ quan nhà nước và các cá nhân cũng khác nhau và cũng chỉ mang tính ước


10
lệ. bản thân các tiêu chí đó chưa đủ để xác định thế nào là DN vừa và nhỏ ở
Việt Nam hiện nay. Như vậy, theo nghị định 56/2009/NĐ-CP khu vực
DNNVV trong lĩnh DV ở Việt Nam bao gồm:
+ Các DNNN trong lĩnh vực DV có qui mô vừa và nhỏ được thành lập
và đăng ký theo luật DNNN năm 2005
+ Các công ty CP, công ty TNHH, DNTN và HTX được thành lập và
hoạt động theo luật DN, luật HTX đáp ứng được hai hoặc một trong hai tiêu
thức mà nghị định 56/2009/NĐ-CP đưa ra.
+ Các DN có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập và hoạt động theo
luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đáp ứng được hai hoặc một trong hai tiêu
thức mà nghị định 56/2009/NĐ-CP đưa ra.
1.1.3.2. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực DV
Việc đưa ra một khái niệm chuẩn xác về DNNVV trong lĩnh vực DV có
ý nghĩa rất quan trọng và lớn lao để xác định đóng đối tượng cần hỗ trợ. Nếu
vi phạm việc đối tượng được hỗ trợ quá rộng sẽ không đủ sức bao quát và tác
dụng hỗ trợ sẽ giảm đáng kể. Việc hỗ trợ tất cả có nghĩa là không hỗ trợ ai.
Còn nếu phạm vi đối tượng được hỗ trợ quá hẹp sẽ không có ý nghĩa và ít có
tác dụng trong nền kinh tế và do đó không thể kịp thời hỗ trợ cần thiết các
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chính vì thế hầu hết các nước đều rất chú trọng
nghiên cứu tiêu thức phân loại DNNVV trong lĩnh vực DV. Tuy nhiên không
có tiêu thức thống nhất để phân loại DNNVV trong lĩnh vực DV cho tất cả
các nước việc điều kiện kinh tế xã hội ở mỗi nước khác nhau và ngay trong

càng cao thì trị số các tiêu trí càng tăng lên. Do vậy với các nước phát triển,
đang phát triển, chậm phát triển thì chỉ số về số lượng lao động vốn để phân
loại doanh nghiệp là rất khác nhau. chẳng hạn ở Nhật Bản, doanh nghiệp có
300 lao động và 1 triệu USD tiền vốn là doanh nghiệp vừa và nhỏ còn doanh
nghiệp có qui mô như vậy ở Thái Lan lại là doanh nghiệp lớn.
Cùng với trình độ phát triển kinh tế của một nước thì tính chất, ngành
nghề cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới việc phân loại DNNVV trong lĩnh vực
DV. Do đặc điểm của ngành nghề có những ngành sử dụng nhiều lao động


12
(như xây dựng), có ngành sử dụng nhiều vốn (như ngân hàng, tín dụng). Do đó
cần tính đến tính chất này để có sự so sánh đối chứng trong phân loại DNNVV
trong lĩnh vực DV giữa các ngành khác nhau. Trên thực tế ở nhiều nước, người
ta thường phân chia thành hai đến ba nhóm ngành với các tiêu chí phân loai khác
nhau. chẳng hạn các ngành xấy dựng chỉ số thường cao hơn.
Việc căn cứ tiêu chí phân loại DNNVV trong lĩnh vực DV còn tuỳ
thuộc vào vùng lãnh thổ. Do trình độ phát triển giữa các vùng khác nhau nên
số lượng và qui mô doanh ngiệp cũng khác nhau. Chẳng hạn một doanh
nghiệp ở thành phố được coi là nhỏ nhưng ở vùng núi và nông thôn nó lại là
lớn, không chỉ phụ thuộc vào những yếu tố kể trên mà việc phân loại doanh
nghiệp vừa và nhỏ còn phụ thuộc vào tính lịch sử. Một doanh nghiệp trước đây
được coi là lớn nhưng qua thời gian hiện tại và tương lai nó chỉ được coi là vừa
thậm chí là nhỏ. ở Đài Loan năm 1997 trong ngành xây dựng doanh nghiệp có
quy mô dưới 130000 USD (5 triệu đô la Đài Loan) là DNNVV trong lĩnh vực
DV trong khi năm 1989 tiêu chí này là 1,4 triệu USD (40 triệu đô la Đài Loan).
Và cuối cùng việc phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải chú ý tới mục
đích phân loại. Chẳng hạn khái niệm là DNNVV trong lĩnh vực DV trong với
mục đích phân loại để hỗ trợ các doanh nghiệp mới ra đời sẽ khác với là
DNNVV trong lĩnh vực DV trong được phân loại với mục đích là giảm thuế với

hướng phát triển là DNNVV trong lĩnh vực DV trong và hỗ trợ các doanh
nghiệp này phát triển.
Nhằm định hướng hỗ trợ cho các là DNNVV trong lĩnh vực DV trong
phát triển ở một số địa phương, các cơ quan chức năng đó đưa ra các tiêu
phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ở thành phố Hồ Chí Minh những doanh
nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỷ đồng, lao động trên 100 người và doanh thu
hàng tháng dưới 10 tỷ đồng là các doanh nghiệp vừa còn dưới giới hạn trên là
các doanh nghiệp nhỏ. Ở tỉnh Vĩnh Phúc những doanh nghiệp có doanh thu
dưới 100 tỷ đồng một năm là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Một số nhà
nghiên cứu cho rằng cần phân định doanh nghiệp vừa và nhỏ theo lĩnh vực
sản xuất và dịch vụ. Trong lĩnh vực sản xuất doanh nghiệp có số vốn dưới 1
tỷ đồng, số lao động dưới 100 người là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp có từ
1 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng và số lao động từ 100 người đến 500 người là doanh


14
nghiệp vừa. trong thương mại và DV doanh nghiệp có số vốn dưới 500 triệu
đồng và dưới 50 lao động là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp có số vốn từ
500 triệu đến 5 tỷ đồng và có từ 50 đến 250 lao động là doanh nghiệp vừa.
Trên thế giới việc phân loại là DNNVV trong lĩnh vực DV trong cũng
như các tiêu chí phân loại phụ thuộc vào nhiều yếu tố phự hợp với trình độ
phát triển điều kiện và mục đích phân loại của mỗi nước và nhiều điểm khác
nhau tuy vậy vẫn có một số điểm chung giống nhau. Chẳng hạn việc phân loại
là DNNVV trong lĩnh vực DV trong của các nước nhằm hỗ trợ các doanh
nghiệp này phát triển đó thực hiện các mục đích như (huy động mọi tiềm
năng vào sản xuất, đáp ứng nhu cầu phong phú và đa dạng của xã hội góp
phần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của mỗi nước, giảm tỷ lệ thất
nghiệp, tạo thêm viêc làm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đa dạng hoá và tăng
thu nhập trong dân cư, giảm bớt dòng người đổ ra thành phố tăng sự năng
động hiệu quả của nền kinh tế giảm đến mức tối đa rủi ro trong kinh doanh, số

động đối với doanh nghiệp buôn bán hay 50 lao động (đối với doanh nghiệp
bán lẻ và DV) vốn đầu tư dưới 300000USD (đối với doanh nghiệp buôn bán)
và 100.000 USD đối với doanh nghiệp bán lẻ và dịch vụ.
Liên minh châu âu: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp có dưới
250 lao động, doanh số không quá 40000EUR, hoặc tổng số vốn hàng năm
không quá 27 triệu EUR có cổ phần không quá 25% ở một xí nghiệp lớn
ngoài ra có nhiều cách phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước khác
song ở đây tôi chỉ muốn đưa ra một vài vớ dụ về các cách phân loại doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước trên thế giới và khu vực.
Dưới đây là bảng tổng hợp tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ,
trong đó có DNNVV trong lĩnh vực DV trong ở một số nước trên thế giới.
Bảng 1.2. Tổng hợp tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ


16
ở một số nước trên thế giới
Nước

Loại doanh nghiệp

Số lao động
(Người)

Tổng số vốn

Danh thu/năm

Trong đó doanh nghiệp nhỏ



lý việc các tiêu chí này có tính phổ dụng tính bao quát và tính sát thực.
Tính phổ dụng thể hiện ở chỗ, tất cả các doanh nghiệp đều có số liệu về
hai tiêu thức này, tính bao quát của các tiêu chí này đựoc thể hiện ở chố có thể
xác định hai tiêu chí này ở mọi cấp độ: Toàn bộ nền kinh tế, ngành, doanh
nghiệp. tính sát thực thể hiện ở chỗ trong điều kiện của Việt Nam đây là hai
tiêu chí có thể các định tương đối chính xác trị số của chúng.
Tuy vậy hai tiêu chí này chỉ mới thể hiện được quy mô đầu vào mà
chưa phản ánh được kết quả tổng hợp thông qua kết quả kinh doanh của các
doanh nghiệp. nếu căn cứ vào các tiêu chí khác để phân loại như: Doanh thu,
vốn pháp định, vốn cố định, vốn lưu động, lợi nhuận đều hạn chế việc rất khó
xác định hoặc số liệu khác chuẩn xác. Tiêu chí doanh thu (hoặc giá trị gia
tăng có nhiều ý nghĩa việc nó phản ánh quy mô doanh nghiệp qua kết quả
hoạt động của nó (gắn với hiệu quả) nhưng trong điều kiện của Việt Nam tiêu
chí này rất khó xác định và khó có số liệu chuẩn xác (chẳng hạn do việc giấu
doanh thu để trốn thuế hoặc do trình độ hạch toán của doanh nghiệp còn thấp các
tiêu chí khác như vốn pháp định, vốn cố định hay số dư vốn lưu động không
phản ánh đầy đủ và thực chất quy mô của doanh nghiệp trong các ngành khác
nhau, chẳng hạn vốn pháp định thường khác xa vốn thực tế và chỉ mang tính
hình thức. vốn cố định có sự khác biệt lớn trong các ngành sản xuất thương mại.
vốn lưu động cũng khác biệt rất lớn giữa các lĩnh vực ngành nghề.
Về lĩnh vực ngành, cần phân biệt hai lĩnh vực chính là sản xuất công
nghiệp, thương mại và dịch vụ. Cần chú ý là việc phân loại theo hai nhóm
ngành như vậy vẫn còn chung chung chưa phản ánh hết đặc thự ngành nghề.
chẳng hạn trong các ngành sản xuất công nghiệp thì tính chất và mức độ sử
dụng vốn lao động và doanh thu làm căn cứ để phân loại doanh nghiệp vừa và
nhỏ là rất khác nhau. Để đạt tới mức độ chuẩn xác hơn cần phân loại theo
ngành hẹp hơn trên đặc tính sử dụng lao động, vốn của các ngành và đặc điểm
của kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Như vậy quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ được xác định hợp lý nhất




19
thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương.
- Phát triển DNNVV trong lĩnh vực DV là chiến lược lâu dài, đồng thời
cũng là nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, là một trong những trụ cột của nền
kinh tế; giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của tỉnh; tạo cơ
sở, nền tảng của quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá.
- Tạo bước đột phá về chính sách và giải pháp cải thiện môi trường đầu
tư, môi trường kinh doanh thuận lợi để DNNVV trong lĩnh vực DV triển bình
đẳng và cạnh tranh lành mạnh trước pháp luật trên cơ sở phù hợp với quy
hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, trong các lĩnh vực, ngành nghề
có khả năng khai thác tiềm năng và lợi thế của tỉnh, gắn với chương trình xây
dựng nông thôn mới, mục tiêu phát triển dịch vụ - du lịch, phát triển khoa học
và công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp
cũng như toàn nền kinh tế.
- Khuyến khích thành lập các doanh nghiệp mới, đồng thời tạo điều kiện
để các doanh nghiệp hiện có phát triển về quy mô và năng lực; nâng cao chất
lượng sản phẩm và tính cạnh tranh. Tích cực đưa công nghệ mới vào sản xuất,
quản lý của doanh nghiệp; xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp.
- Sự phát triển của DNNVV trong lĩnh vực DV làm cho nền kinh tế trở
nên năng động, với quy mô nhỏ nên dễ dàng điều chỉnh khi có sự thay đổi cho
phù hợp với sự phát triển của doanh nghiệp. Phát triển DNNVV trong lĩnh
vực DV chính là giúp cho ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ phát triển,
góp phần chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp
thành một sản phẩm hoàn chỉnh.
Ngoài ra phát triển DNNVV trong lĩnh vực DV còn là động lực giúp
cho địa phương cải thiện tình hình kinh tế, nếu như doanh nghiệp lớn thường
dặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và


Các DNNVV trong lĩnh vực DV cần có lượng vốn đủ lớn để đầu tư công nghệ,


21
đổi mới thiết bị máy móc tiên tiến phù hợp vào sản xuất kinh doanh, nhằm thay
thế lao động thủ công, nâng cao năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm để đáp
ứng nhu cầu trong nước và thế giới. Như vậy, nhân tố vốn và sử dụng vốn có
hiệu quả là yếu tố quyết định ra đời và phát triển của DNNVV trong lĩnh vực
DV ở Việt Nam.
- Về trang thiết bị, công nghệ: Vốn kinh doanh và công nghệ luôn đi
liền với nhau, doanh nghiệp nào thiếu vốn thì công nghệ sử dụng cũng lạc hậu
và ngược lại. Công nghệ sẽ tác động trực tiếp tới năng suất, chất lượng sản
phẩm, giúp cho DN nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Trong
những năm vừa qua, do sức ép của thị trường và cơ chế quản lý kinh tế, các
DNNVV trong lĩnh vực DV đã có những đổi mới công nghệ nhất định như:
dùng điện vào sản xuất, mua máy móc thiết bị hiện đại từ các nước phát
triển...Tuy vậy vẫn còn nhiều DN sử dụng công nghệ lạc hậu nên năng suất
lao động và chất lượng sản phẩm thấp.
- Trình độ quản lý của chủ DN: Chủ DN là người trực tiếp điều hành
mọi hoạt động của DN. Do vậy, chủ DN là một trong những yếu tố cơ bản
nhất tạo nên sự thành công hay thất bại của DN. Những người chủ DN có
năng lực, trình độ sẽ có các biện pháp và chiến lược kinh doanh để sản phẩm
của họ có thể sản xuất với chi phí thấp, bán theo giá thị trường để từ đó thu
được lợi nhuận lớn nhất. Bên cạnh đó, chủ DN cũng cần là người có sự linh
hoạt và khôn khéo trong quản lý người lao động, luôn biết cách động viên,
khuyến khích kịp thời đối với những người lao động hoàn thành tốt công việc
đồng thời cũng có những biện pháp xử phạt nghiêm khắc đối với những lao
động ý thức kém.
- Khả năng tiếp cận thông tin và hệ thống thông tin: Hệ thống thông
tin và khả năng tiếp cận thông tin, nhất là những thông tin về thị trường, giá

gia công với các hộ dân cư. Số liệu điều tra về trình độ của người lao động
trong các DNNVV trên cả nước cho thấy: chỉ có 15% lao động có trình độ đại


23
học trong đó chỉ tập trung vào DNNN, công ty TNHH và công ty cổ phần.
+ Thu nhập của người lao động trong các DNNVV vẫn còn ở mức thấp và
không ổn định. Mặc dù mức thu nhập này cao hơn so với làm nông nghiệp nhưng
vẫn thấp hơn so vơi các doanh nghiệp lớn. Ngoài ra lao động vẫn chưa được
hưởng các chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nghỉ chế độ, ….
(2) Các nhân tố bên ngoài
Các nhân tố bên ngoài tác động đến sự phát triển của DNNVV trong
lĩnh vực DV đó là các nhân tố thuộc về Chính sách và pháp luật của Nhà
nước. Mỗi quốc gia đều có chính sách, khuôn khổ luật pháp riêng và rõ ràng
cho DNNVV trong lĩnh vực DV, có cơ quản lý Nhà nước chuyên soạn thảo
Chính sách đối với DNNVV trong lĩnh vực DV. Trong những năm qua, thông
qua các tổ chức quốc tế, các cơ quan quản lý Nhà nước, các DN và các tổ
chức hỗ trợ DN của Việt Nam đã có dịp tiếp cận, học hỏi kinh nghiệm phát
triển DNNVV trong lĩnh vực DV với các nước trong khu vực, trao đổi nhu
cầu hợp tác, đào tạo cán bộ, cũng như các kỹ năng tư vấn hỗ trợ DNNVV
trong lĩnh vực DV. Tuy nhiên, hiện tại Việt Nam chưa có khung chính sách thích
hợp cho loại hình DNNVV trong lĩnh vực DV. Một số cơ quan quản lý, cơ quan
hỗ trợ DN và một số địa phương đã tự ban hành tiêu chí để xác định DNNVV
trong lĩnh vực DV tuỳ theo mục đích hoạt động của các tổ chức và cơ quan đó.
Đến năm 2001, Chính phủ mới ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP năm 2001
định nghĩa về DNNVV (và định nghĩa lại vào tháng 6 năm 2009) làm cơ sở để
phân loại, nghiên cứu và đề xuất cơ chế chính sách vĩ mô liên quan đến
DNNVV. Tuy nhiên, đã xuất hiện một số hạn chế chủ yếu sau đây:
- Chính sách hỗ trợ DNNVV: Ngày 30/06/2009 nhà nước đã ban hành
nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp các DNNVV, trong đó có DNNVV

DN ngoài quốc doanh còn rất thấp. Hiện nay các thủ tục vay tín dụng của các
ngân hàng nhìn chung còn khá phức tạp. Việc thiếu các quy định về đăng ký
tài sản cá nhân là một trong những nguyên nhân gây khó khăn trong việc thế
chấp, cầm đồ khi vay mượn. Ngoài ra các thủ tục thế chấp này vẫn có nhiều


25
điểm chưa hợp lý như quy định về công chứng, đánh giá tài sản... Một thực tế
là các ngân hàng thương mại không muốn cho các DNNVV trong lĩnh vực
DV vay vì khối lượng vốn vay nhỏ, độ tin cậy thấp, các ngân hàng không đủ
cán bộ tín dụng để quản lý các khoản vay nhỏ này. Ngoài ra, các DNNVV
thường gặp khó khăn trong việc thế chấp tài sản, lập dự án để vay vốn... Do
vậy, đa số các DNNVV trong lĩnh vực DV thường phải huy động vốn trong
khu vực tài chính phi chính thức với lãi suất cao, gây bất lợi cho hoạt động
kinh doanh.
- Chính sách khoa học - công nghệ: Các DNNVV trong lĩnh vực DV
gặp phải những khó khăn liên quan đến thông tin như: không hiểu kỹ về đối
tác, nhất là các đối tác nước ngoài; không biết xuất xứ của công nghệ của
nước ngoài cũng như các thông tin để đánh giá sự phù hợp của công nghệ đối
với DN. Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực nói chung và kỹ năng của
người lao động nói riêng cũng là yếu tố quan trọng để có thể tiếp thu được
công nghệ chuyển giao. Chính sách của Việt Nam hiện nay mới chỉ dừng lại ở
những phương hướng, chưa có chính sách hay chương trình thật cụ thể cho
việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Mối liên hệ giữa DN lớn,
DNNVV và DNNVV trong lĩnh vực DV , giữa các DNNVV với nhau trong
chuyển giao công nghệ còn yếu. Ngoài ra, các Chính sách vĩ mô về công nghệ
vẫn còn mâu thuẫn với nhau. Ví dụ: Nhà nước luôn khẳng định khuyến khích
các DN đổi mới công nghệ nhưng chế độ khấu hao tài sản đối với các DN lại
không phù hợp. Các chính sách thuế, ưu đãi về vốn cũng chưa thực sự khuyến
khích việc nghiên cứu và triển khai áp dụng công nghệ mới và chuyển giao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status