Đề tài Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách - Pdf 34

Đề tài: Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và
một số gợi ý giải pháp chính sách

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bất bình đẳng giới trong lao động hiện nay có tác động xấu đối với
sự phát triển của xã hội, một mặt nó vừa là một trong những căn nguyên
gây ra tình trạng nghèo đói; mặt khác nó là yếu tố cản trở lớn đối với quá
trình phát triển. Những xã hội có sự bất bình đẳng lao động lớn và kéo dài
thƣờng tạo ra những hệ lụy không nhỏ đó là: nghèo đói, bệnh tật và những
nỗi cực khổ khác và đặc biệt gây ra sự không hiểu quả trong việc sử dụng
các nguồn lực trong xã hội. Tại những nƣớc phát triển, có mức độ bất bình
đẳng lao động thấp hơn đồng nghĩa với việc nó tác động tốt hơn đối với sự
phát triển xã hội, giúp kinh tế phát triển, mang lại hiểu quả hơn trong việc
sử dụng các nguồn lực của xã hội, giảm mức độ nghèo đói và phát huy tốt
hơn các giá trị tiềm năng con ngƣời trong việc phát triển kinh tế - xã hội.
Tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động – việc làm của Việt nam
hiện nay cũng không nằm ngoài những nguyên nhân trên. Tuy nhiên sự bất
bình đẳng giới trong lao động của Việt nam khá đặc thù, chủ yếu xuất phát
từ các quan niệm và định kiến tồn tại trong xã hội và các quan điểm truyền
thống. Đó là những quan niệm và định kiến xã hội phong kiến tồn tại từ
hàng ngàn năm trƣớc về địa vị, giá trị của giới nữ trong gia đình và ngoài
xã hội mà không dễ dàng thay đổi. Theo đó, nam giới có quyền tham gia
các công việc ngoài xã hội, thực hiện chức năng sản xuất, ghánh vác trách
nhiệm và quản lý xã hội, còn phụ nữ trông nom việc nhà con cái. Nam giới
có toàn quyền chỉ huy định đoạt mọi việc lớn trong gia đình, nữ giới thừa
hành phục vụ chồng con. Ngƣời phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới,
không có bất kỳ quyền định định đoạt gì kể cả đối với bản thân. Điều đó

1


đến lao động nữ (LĐN) ở Việt Nam vẫn đang bộc lộ nhiều bất cập. Trên
2


Đề tài: Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và
một số gợi ý giải pháp chính sách
thực tế, một bộ phận LĐN nói chung vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi về tiền
lƣơng, điều kiện làm việc, cơ hội đào tạo, thăng tiến. Do những hạn chế về
trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp nên phụ nữ thƣờng gặp khó khăn
trong lựa chọn nghề nghiệp, thu nhập và cơ hội thăng tiến. Mức thu nhập
bình quân thấp hơn nhiều so với nam giới cùng làm một công việc với trình
độ nhƣ nhau. Ngoài ra, phụ nữ còn ghánh nặng công việc gia đình, sinh đẻ
và chăm sóc con cái nên ít cơ hội cạnh tranh trên thị trƣờng lao động,
không có thời gian trau dồi kiến thức, kỹ năng nâng cao trình đôn học vấn,
chuyên môn. Để có cơ hội thăng tiến chị em phải cố gắng gấp 3-4 lần nam
giới. Nhiều nhà tuyển dụng có tâm lý coi thƣờng phụ nữ, ngại tuyển dụng
phụ nữ, bởi họ cho rằng phụ nữ năng lực có hạn, hơn nữa phải mang thai,
sinh đẻ, nuôi con… mất nhiều thời gian. Điều này ảnh hƣởng không nhỏ
đến sự phát triển của phụ nữ nói riêng mà còn ảnh hƣởng đến sự phát triển
chung của toàn xã hội về kinh tế - văn hóa - chính trị.
Công tác xã hội trong lĩnh vực giới và phát triển là một lĩnh vực mới
và có tầm ảnh hƣởng lớn. Hiện nay, CTXH mới bắt đầu hình thành và phát
triển ở Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu và vận dụng phƣơng pháp CTXH
nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động và nâng cao vị thế của ngƣời
phụ nữ là rất quan trọng và cần thiết. Nhân viên CTXH làm việc trong lĩnh
vực này đòi hỏi nắm vững những cơ sở lý luận về giới và phát triển để từ
đó xây dụng biện pháp can thiệp, trợ giúp nhằm giải quyết vấn đề.
Qua quá trình thực tế tại huyện Mỹ Đức, đƣợc tiếp xúc với ngƣời
dân, nghiên cứu một số biện pháp mà địa phƣơng đã thực hiện để thúc đẩy
bình đẳng giới trong lao động và nâng cao vị thế của phụ nữ thì vẫn chƣa

niệm Bình đẳng giới, Bất bình đẳng giới. Từ đó đi sâu làm rõ nguyên nhân
dẫn đến tình hình BBĐG ở nƣớc ta hiện nay nhằm đƣa ra những giải pháp
góp phần làm giảm tình trạng này ở Việt Nam.
Hội thảo về “ vai trò của công đoàn thúc đẩy BĐG” do Ban nữ công
Tổng LĐLĐ Việt Nam thực hiện vừa đƣợc tổ chức tại TP.HCM. Mục đích
hội thảo nhận diện đầy đủ BBĐG trong doanh nghiệp để tham gia xây dựng
chính sách pháp luật đối với lao động nữ và kiểm tra, giám sát việc thực

4


Đề tài: Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và
một số gợi ý giải pháp chính sách
hiện. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận
thức về BĐG
Luận văn: Thực trạng thi hành luật BBĐG ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay. Mục đích của luận văn là xây dựng pháp luật vê BĐG góp
phần tháo gỡ những khó khăn, vƣớng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy
định của pháp luật về BĐG ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay
Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong phân
công thực hiện công việc nội trợ giữa vợ - chồng của Th.s Trƣơng Thu
Trang đi sâu nghiên cứu thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng
trong công việc nội trợ
Nhìn chung các nghiên cứu này mới chỉ tập trung nghiên cứu yếu tố
thu nhập, hoặc phân công lao động chỉ trong phạm vi gia đình mà chƣa đề
cập đến phân công lao động trong các lĩnh vực sản xuất, nghề
nghiệp…không đánh giá đƣợc hết các yếu tố tác động đến sự bất bình đẳng
giới trong lao động nói chung trong bối cảnh kinh tế hội nhập và tự do hóa
thƣơng mại. Cho đến nay vẫn chƣa có tài liệu nào nghiên cứu cụ thể đầy đủ
về vấn đề bất bình đẳng giới trong lao động tại Huyện Mỹ Đức. Hơn nữa,

phƣơng pháp Công tác xã hội nhóm.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu đề tài với nhiệm vụ chủ yếu nhƣ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề BBĐ trong
lao động.
- Tìm hiểu, phân tích đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hƣởng và các
giải pháp can thiệp trƣớc vấn đề BBĐG trong lao động tại huyện Mỹ Đức.
- Vận dụng phƣơng pháp Công tác xã hội nhóm trong việc cải thiện
tình trang BBĐG trong lao động cho phụ nữ tại Huyện và đề xuất một số
giải pháp cho vấn đề này dƣới góc nhìn của nhân viên Công tác xã hội.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Thực trạng bất BĐG trong lao động ở huyện Mỹ Đức còn nhiều bất
cập và ngày càng gia tăng. Nếu có những biện pháp hỗ trợ của nhân viên
Công tác xã hội sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng này để xây dựng một xã
hội công bằng – dân chủ - văn minh.

6


Đề tài: Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và
một số gợi ý giải pháp chính sách
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập thông tin
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng trong việc thu thập những số liệu
liên quan đến việc nam giới và nữ giới tham gia các lĩnh vực, ngành nghề
lao động theo từng năm, phân công lao động theo giới, mức độ hƣởng thụ
thành quả lao động. Dựa vào những số liệu điều tra đã thu thập đƣợc, nhân
viên Công tác xã hội sẽ tiến hành tổng hợp, phân tích một cách khoa học để
từ đó xác định đúng tình trạng BBĐG hiện nay tại địa phƣơng.
6.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- ứng dụng, kiểm chứng và củng cố các phƣơng pháp trong nghiên
cứu khoa học xã hội vào đề tài để làm rõ đƣợc vấn đề nghiên cứu.
- Hoàn thiện lý luận về phƣơng pháp Công tác xã hội nhóm với vấn
đề BBĐG trong lao động.
- Tạo cơ sở thực hành Công tác xã hội nhóm với vấn đề BBĐG trong
lao động.
7.2 Về mặt thực tiễn
- Giúp nhân viên Công tác xã hội có cái nhìn đầy đủ về thực trạng
BBĐG trong lao động và có thái độ đúng đắn với vấn đề này, để từ đó có
những trợ giúp đầy đủ và đạt hiểu quả.
- Giúp cho mọi ngƣời hiểu và tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ có
cơ hội phát triển cũng nhƣ đạt đƣợc sự bình đẳng giới trong lao động.
- Tạo điều kiện để phụ nữ có cơ hôi phát triển và khẳng định bản
thân và nhận đƣợc thành quả lao động xứng đáng.
8. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Trong đó phần nội dung gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chƣơng 2: Thực trạng bất bình đẳng giới trong lao động qua
nghiên cứu tại huyện Mỹ Đức.
Chƣơng 3: Tiến trình, nội dung và những đề xuất giải pháp,
khuyến nghị về vận dụng phƣơng pháp Công tác xã hội nhóm nhằm

8


Đề tài: Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và
một số gợi ý giải pháp chính sách
giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động cho phụ nữ
tại huyện Mỹ Đức- Hà Nội.

- Giới tính: Trong luật bình đẳng giới ( số 73/2006/QH11 ngày
29/11/2006 ) có ghi: Giới tính là môt khái niệm ra đời từ môn sinh vật học
chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học. Sự khác biệt này chủ yếu
liên quan đến quá trình tái sản xuất con ngƣời, di truyền nòi giống.
1.1.2 Khái niệm định kiến giới
Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực
về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.

10


Đề tài: Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và
một số gợi ý giải pháp chính sách
Định kiến giới là suy nghĩ mà mọi ngƣời có về những gì mà phụ nữ
và nam giới có khả năng và loại hoạt động mà họ có thể làm. [ 29; 46 ]
Định kiến giới là tập hợp các đặc điểm mà một nhóm ngƣời, cộng
đồng cụ thể coi là thuộc tính của phụ nữ hoặc nam giớ.
Ví dụ: Công việc nội trợ là của phụ nữ chứ không phải của đàn ông.
Thông thƣờng các định kiến giới thƣờng không phản ánh đúng khả năng
thực tế của từng giới mà thƣờng giới hạn những gì mà xã hội cho phép
hoặc mong đợi các cá nhân thực hiện.
1.1.3 Phân biệt đối xử về giới
Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận
hoặc không coi trọng vai trò, vị trí và năng lực của nam và nữ, gây bất bình
đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
1.1.4 Khái niệm Bình đẳng giới
Khái niệm Bình đẳng giới: Có những khái niệm khác nhau về bình
đẳng giới.
Điều 5, Luật bình đẳng giới có ghi: Bình đẳng giới là việc nam, nữ
có vị trí, vai trò ngang nhau, đƣợc tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng

và bạo lực trên cơ sở giới tính nhƣ cho rằng phụ nữ không có quyền tự
quyết hoặc ít có quyền tự quyết hơn so với nam giới do đó nó đặt ngƣời
phụ nữ vào vị trí phụ thuộc, phục tùng…
- Bất bình đẳng giới trong lao động
Bất bình đẳng giới đƣợc hiểu là sự phân biệt trên cơ sở giới tính mà
sự phân biệt này ảnh hƣởng đến sự tham gia, đóng góp và thụ hƣởng các
nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển của con ngƣời. Xét riêng trong
lĩnh vực lao động thì sự bất bình đẳng giới thể hiện ở sự phân biệt trong
việc tiếp cận các cơ hội, sự phân biệt đối xử trong công việc và nghề
nghiệp cũng nhƣ sự phân biệt trong việc thừa hƣởng các thành quả lao
động giữa lao động nam và lao động nữ. [ 11; 55 ]
1.2 Phƣơng pháp Công tác xã hội nhóm
1.2.1 Khái niệm Công tác xã hội nhóm
Có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận về Công tác xã hội nhóm, nhƣng
có thể định nghĩa một cách chung nhất nhƣ sau: Công tác xã hội nhóm là

12


Đề tài: Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và
một số gợi ý giải pháp chính sách
một phương pháp của Công tác xã hội nhằm tạo dựng và phát huy sự
tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa các thành viên, giúp củng
cố, tăng cường chức năng xã hội và khả năng giải quyết vấn đề, thỏa mãn
nhu cầu của nhóm. Thông qua sinh hoạt nhóm mỗi cá nhân hòa nhập, phát
huy tiềm năng, thay đổi thái độ, hành vi và khả năng đương đầu với nan đề
của cuộc sống, tự lực và hợp tác giải quyết vấn đề đặt ra vì mục tiêu cải
thiện hoàn cảnh một cách tích cực. [12; 15 ]
1.2.2 Mục đích của Công tác xã hội nhóm
Công tác xã hội nhóm nhằm tạo ra bối cảnh trong đó các cá nhân hỗ

Mỗi cá nhân khi tham gia vào nhóm, sau một thời gian hoặc thông
qua những hoạt động cụ thể sẽ cảm thấy an toàn, tự tin hơn vào khả năng
đƣơng đầu với vấn đề của cuộc sống. Nhóm hỗ trợ cá nhân sức mạnh để có
khả năng ứng phó, giải quyết những khó khăn trƣớc hoàn cảnh xã hội.
Chẳng hạn, một nhóm ngƣời khuyết tật sản xuất sản phẩm nhƣng không
tìm đƣợc đầu ra tiêu thụ; một ngƣời không dám nghĩ đến việc sản xuất kinh
doanh vì sợ không đủ vốn hoặc phải đối đầu với sự cạnh tranh, sự chèn ép
của ngƣời khác… Đặt ra vấn đề cùng nhau giải quyết, khắc phục hay tháo
gỡ khó khăn, dựa trên sự tham gia và tƣơng tác nhóm sẽ giúp các thành
viên tìm ra những giải pháp thích hợp. Mỗi cá nhân cộng hƣởng sức mạnh,
do đó đƣợc tăng cƣờng sức mạnh đối phó với nan đề.
+ Tác động làm thay đổi hành vi và hoàn cảnh của cá nhân
Nhóm có tác động giúp cá nhân thay đổi những hành vi cá biệt và
phát triển nhân cách thông qua các yếu tố kiểm soát xã hội ( Ví dụ: tác
động thay đổi thái độ, hành vi của các nhóm vi phạm chuẩn mực đạo đức
xã hội, nhóm đối tƣợng vi phạm pháp luật… ) xã hội hóa ( nhóm trẻ trong
cơ sở tập trung học tập, rèn luyện kỹ năng sống để tái hòa nhập cộng
đồng… ) hành vi tƣơng tác ( nhóm huấn luyện để tự khẳng định)… Trong
quá trình sinh hoạt nhóm, sự trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm hoặc thông qua
sự tự bộc bạch bản thân sẽ giúp cho những ngƣời tham gia nhận ra vấn đề
của chính mình. Sự khích lệ giúp đỡ lẫn nhau là nguồn nội lực quan trọng
của nhóm, nhờ việc đóng vai trò giúp đỡ ngƣời khác mà có thể tháo gỡ hay
thoát ra đƣợc khó khăn của chính mình.
+ Các mục tiêu khác như giải trí, cung cấp thông tin, thay đổi, cải
thiện môi trường sống và làm việc:
14


Đề tài: Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và
một số gợi ý giải pháp chính sách



Đề tài: Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và
một số gợi ý giải pháp chính sách
tồn tại, phát triển của nhóm. Sự tham gia ý kiến, sáng kiến đƣợc khích lệ sẽ
là động lực để cho nhóm viên thêm tự tin thể hiện năng lực bản thân. Giá
trị này tạo sự tôn trọng đánh giá đúng đóng góp của các thành viên nhóm sẽ
làm gắn kết hơn các thành viên.
+ Quyền tự do tham gia
Đây là một giá trị bảo đảm sự tham gia nhóm một cách bền vững của
nhóm viên. Bởi lẽ, với những nhóm khác trong đời sống xã hội, rất có thể
có sự phân cấp quyền lực và tồn tại sự cao thấp trong quan hệ. Với nhóm
trong Công tác xã hội nhóm, những ranh giới này trở nên gần gũi và không
phải là điều quan trọng, mọi ngƣời tham gia nhóm cảm thấy đƣợc tự do,
bình đẳng, bao gồm cả về vị trí trong nhóm cũng nhƣ về việc bày tỏ suy
nghĩ, thực hiện hành động.
1.2.4 Tiến trình Công tác xã hội nhóm
Tiến trình Công tác xã hội nhóm là quá trình bao gồm các bƣớc hoạt
động thể hiên sự tƣơng tác giữa các thành viên trong nhóm với nhau và với
nhân viên xã hội nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra. Thực chất tiến trình
Công tác xã hội nhóm là trình tự các bƣớc, các nội dung hoạt động đƣợc
xác lập trong kế hoạch hỗ trợ đối với một nhóm xã hội cụ thể của nhân viên
xã hội dựa trên các yêu cầu về chuyên môn Công tác xã hội
+ Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm
Giai đoạn chuẩn bị và xúc tiến thành lập nhóm bao gồm các công
việc chủ yếu:
Chọn nhóm viên và chuẩn bị môi trƣờng hoạt động của nhóm
Xác định mục đích hỗ trợ và mục tiêu hoạt động của nhóm
Đánh giá các nguồn lực – tiềm năng và sự hỗ trợ bên ngoài –
phân tích lực trƣờng tác động.

Tuy nhiên, có thể xuất hiện những bất đồng giữa các nhóm viên, thậm chí
có những khuynh hƣớng suy nghĩ, hành động trái ngƣợc nhau. Nhiệm vụ
chính của nhân viên xã hội ở giai đoạn này là tạo môi trƣờng và định
hƣớng hoạt động, giúp nhóm viên giải quyết các xung đột, vƣợt qua rào
cản, khó khăn và thực hiện điều phối, tăng cƣờng năng động nhóm, thúc
đẩy các tổ chức, cộng đồng đáp ứng những nhu cầu cho sự nỗ lực thực hiện
đề ra mục tiêu của nhóm.
17


Đề tài: Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và
một số gợi ý giải pháp chính sách
Trong giai đoạn trọng tâm, ở những nhóm khác nhau với mục đích,
mục tiêu, vấn đề, nhu cầu và các thành viên khác nhau có thể có những
khác biệt nhất định về nội dung, phƣơng thức hoạt động
- Giai đoạn lượng giá kết thúc hoạt động
Nội dung lƣợng giá bao gồm: đánh giá hiệu quả của toàn bộ tiến
trình hoạt động nhóm so với kế hoạch, mục tiêu, nguồn lực thực hiện ( chi
phí, đầu tƣ tham gia ); sự tiến bộ, trƣởng thành và phát triển của các
thành viên nhóm về nhận thức, thái độ, hành vi, khả năng nhận diện,
xác định vấn đề, nguyên nhân tình trạng, khó khăn, thuận lợi, sự tƣơng
tắc trong hành động, đƣơng đầu với hoàn cảnh, ra quyết định, thực hiện
nhiệm vụ, phát huy vai trò cá nhân và những kỹ năng có đƣợc từ quá
trình tham gia nhóm…
Phƣơng pháp lƣợng giá đƣợc thực hiện thông qua các hình thức, các
kênh, các phƣơng tiện khác nhau nhƣ: Lƣợng giá qua phiếu ghi tự đánh giá
( bằng bảng hỏi hoặc trắc nghiệm về hiểu biết kiến thức, khả năng thực
hành kỹ năng ) của các thành viên; Lƣợng giá qua các thông số đã đƣợc
đánh giá nhanh đối với từng hoạt động trong các giai đoạn, đặc biệt là giai
đoạn trọng tâm; Lƣợng giá qua quan sát thự tế về sự tham gia, sự thể hiện

họ không có thu nhập. Nếu họ muốn tham gia vào lao động xã hội, kiếm
sống một cách độc lập thì họ không có điều kiện làm tròn nhiệm vụ đối với
gia đình. Vì vậy, khi đã kết hôn, công việc duy nhất của họ là thực hiện
chức năng sinh đẻ, lo công việc gia đình, còn nam giới kiếm tiền nuôi sống
gia đình.
Sự bất bình đẳng nam nữ trong gia đình dƣới chế độ TBCN do chính
nền sản xuất tƣ bản và các quan hệ tài sản do xã hội ấy tạo ra. Vì vậy,
muốn xóa bỏ gia đình tƣ sản, muốn giải phóng phụ nữ, đem lại quyền bình
đẳng nam nữ, quyền tự do kết hôn dựa trên tình yêu, theo Ăngghen phải “
xóa bỏ nền sản xuất TBCN và các quan hệ tài sản do nền sản xuất ấy tạo
ra, gạt bỏ tất cả những lý do kinh tế” ra khỏi quan hệ hôn nhân và phải xây
dựng xã hội mới – xã hội XHCN – một xã hội không còn áp bức bóc lột.
- Quan điểm giới của V.I.Lênin

19


Đề tài: Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và
một số gợi ý giải pháp chính sách
Theo Lênin, dƣới sự thống trị của chế độ tƣ bản, trong các gia đình
vô sản phụ nữ là ngƣời chịu đau khổ nhất “ họ sẵn sàng làm việc, nhận số
tiền công hết sức rẻ mạt để kiếm thêm một mẩu bánh mỳ cho gia đình,
nhưng họ bị trói buộc áp bức từ mọi phía, bị cột trặt vào gia đình. Phụ nữ
vô sản không thể ngồi yên mà phải đứng lên cầm vũ khí cùng chồng con
thủ tiêu ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản, tiến hành công cuộc xây
dựng CNXH” ( C.Mac, Ăngghen, Lênin, 1959 )
Cách mạng tháng mƣời Nga thành công là tiền đề cho một chế độ
hôn nhân mới, bình đẳng. Chính quyền Xô Viết không những thực hiện
quyền bình đẳng của phụ nữ ngoài xã hội, mà ngay cả trong gia đình,
những đặc quyền nam giới, sự nô dịch của nam giới đối với vợ và con gái

nỗi khổ của phụ nữ dƣới chế độ cũ bị rằng buộc khắt khe với bao tập tục
lạc hậu đã làm cho phụ nữ dốt nát, cực khổ, tối tăm. Tâm lý trọng nam
khinh nữ của Nho giáo đã cột chặt ngƣời phụ nữ vào gia đình. Hiểu và
thông cảm sâu sắc đối với phụ nữ, Hồ Chí Minh đã viết: “ Dưới chế độ
phong kiến và thực dân, phụ nữ bị áp bức tàn tệ. Ngoài xã hội, phụ nữ bị
xem khinh như nô lệ. Ở gia đình thì họ bị kìm hãm trong xiềng xích tam
tòng”.Vì vậy, cần phải giải phóng phụ nữ thoát khỏi những xiềng xích trói
buộc họ, đó chính là nội dung của cách mạng XHCN. “ Nếu không giải
phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải
phóng phụ nữ thì xây dựng CNXH chỉ là một nửa”. Hồ Chí Minh đã chỉ
đạo các cấp ngành nghiêm túc kiểm tra, đôn đốc, theo dõi việc thi hành
Luật hôn nhân và gia đình. Hồ Chí Minh thƣờng xuyên nhắc nhở các tổ
chức Đảng, chính quyền, đoàn thể phải làm tốt công tác vận động phụ nữ,
thực hiện nam nữ bình quyền.
1.3.3 Thuyết nữ quyền phương Tây và quan điểm giới
Thuyết nữ quyền phƣơng Tây ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XIX.
Đây là một cách tiếp cận lý thuyết đƣợc dùng ở nhiều nghành khoa học xã
hội và lấy phụ nữ làm trung tâm, nhằm mô tả mục tiêu, phân tích đời sống
gia đình cũng nhƣ xã hội theo quan điểm phụ nữ. Nó nêu lên tính chất nam
trị trong gia đình và ngoài xã hội và nhận diện những trợ ngại chính đối với
bình đẳng cho phụ nữ.

21


Đề tài: Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và
một số gợi ý giải pháp chính sách
1.4 Quan điểm, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về vấn đề bình
đẳng giới
1.4.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới

cơ hội bình đẳng cho phụ nữ trong lĩnh vực lao động việc làm, có thể đƣa
ra một số ví dụ sau đây:
*Trong một số văn bản luật
Luật sửa đổi, bổ xung một số điều của Bộ Luật Lao động năm 2002
tiếp tục khẳng định những nguyên tắc về bình đẳng giới trong lao động
đƣợc đề cập trong Hiến pháp. Những nội dung sửa đổi, bổ sung liên quan
đến chính sách đối với lao động nữ bao gồm một số vấn đề bảo hiểm xã
hội, tiền lƣơng, bảo hộ lao động. Trong đó, điều 111 chƣơng X – Những
quy định riêng đối với lao động nữ có bổ sung: “ người sử dụng lao động
không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng đối với phụ nữ vì
lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ
trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động”.
Luật bình đẳng giới, điều 13 ( bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động
) cũng quy định những điều cụ thể về bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới
khi tham gia lực lƣợng lao động.
* Một số văn bản liên quan đến lao động nữ:
Những năm qua, bên cạnh các văn bản luật, Chính phủ đã ban hành
nhiều văn bản liên quan đến lao động nói chung và lao động nữ nói riêng,
thể hiện quan điểm về bình đẳng giới trong lao động. Nhƣ một số văn bản
sau đây:
- Nghị quyết 51/2001/QH 10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khóa X, kỳ
họp thứ 10 đã quy định luật bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động nhƣ sau:
+ Nam, nữ đƣợc bình quyền về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng,
đƣợc đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thƣởng,
bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác.
+ Nam, nữ đƣợc bình đẳng về tiêu chuẩn độ tuổi khi đề bạt, bổ
nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề.
23





Đề tài: Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và
một số gợi ý giải pháp chính sách
- Điều 8. Các hành vi vi phạm chính sách hành chính về bình đẳng
giới trong lĩnh vực lao động trong Nghị định quy định xử lý vi phạm hành
chính về Bình đẳng giới của Chính phủ ngày 10/06/2009
+ Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi
phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến
chênh lệch về thu nhập hoặc chênh lệch về mức tiền lƣơng, tiền công của
những ngƣời lao động có cùng trình độ, năng lực vì lý do giới tính.
+ Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một
trong các hành vi sau đây:
a ) áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam
và lao động nữ với cùng một công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả
năng thực hiện nhƣ nhau, trừ trƣờng hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình
đẳng giới hoặc đối với các nghề nghiệp đặc thù theo quy định của pháp luật.
b ) Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động nam hoặc
lao động nữ vì lý do giới tính, trừ trƣờng hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy
bình đẳng giới; sa thải hoặc cho thôi việc ngƣời lao động vì lý do giới tính
hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ.
1.5 Những biểu hiện của Bất bình đẳng giới trong lao động tại
Việt Nam hiện nay
Vai trò của lao động trong xã hội
Lao động một mặt là bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố
đầu vào không thể thiếu đƣợc trong quá trình phát triển sản xuất. Đứng
trƣớc những biến động không có lợi của nền kinh tế thế giới hiện nay, Việt
Nam là một trong những nƣớc Chấu Á có nền kinh tế ít biến động nhất.
Tuy nhiên sự phát triển kinh tế suy cho cùng đó là tăng trƣởng kinh tế để
nâng cao vật chất, tinh thần cho con ngƣời. Lao động là một trong những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status