1
HọC VIệN CHíNH TRị - HàNH CHíNH QUốC GIA Hồ CHí MINH
-------------------------------
nguyễn văn thắng
CÔNG TáC Phát triển đảng viên
trong các Doanh nghiệp ngoài Nhà
nớc
ở tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay
LUậN VĂN THạC Sĩ KHOA HọC CHíNH TRị
Hà Nội 2009
2
MôC LôC
Trang
3
Mở đầU
Chơng 1: Công tác phát triển đảng viên trong các doanh
nghiệp ngoài nhà nớc ở tỉnh Phú Thọ hiện nay những vấn đề lý luận và thực tiễn
1.1- khái quát về các doanh nghiệp ngoài nhà nớc ở tỉnh Phú Thọ
1.2-Vai trò, ý nghĩa công tác phát triển đảng viên và đặc điểm về tổ chức
đảng, đảng viên, quần chúng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nớc ở
90
93
96
120
124
4
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, đất nớc ta đang thực hiện đờng lối đổi mới, mở rộng quan hệ
hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế. Chủ trơng của Đảng là phát triển mạnh
các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh trên cơ sở ba
chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, t nhân); hình thành nhiều hình thức sở hữu và
nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nớc, kinh tế tập thể, kinh tế t nhân (cá
thể, tiểu chủ, t bản t nhân), kinh tế t bản nhà nớc, kinh tế có vốn đầu t nớc
ngoài. Tất cả các thành phần kinh tế trên đều hoạt động theo pháp luật và là bộ
phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa, bình đẳng trớc pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạch tranh
lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nớc
cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh
tế quốc dân; kinh tế t nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực
của nền kinh tế.
ở các thành phần kinh tế nêu trên thì kinh tế t nhân, kinh tế t bản nhà nớc, kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài là những loại hình kinh tế mới thực sự xuất
hiện và phát triển nh là những thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân
trong thời kỳ đổi mới đất nớc, hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là những thực thể
kinh tế sống động và luôn có sự nhạy cảm cao trong sự phát triển của mọi nền
kinh tế, trong đó có các doanh nghiệp ngoài nhà nớc. Các loại hình doanh
nghiệp ngoài nhà nớc bao gồm: doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu
sống xã hội, chủ động tìm cách phát huy những mặt tích cực, đồng thời hạn
chế tiêu cực, kịp thời uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, hớng mọi hoạt động
của các thành phần kinh tế nói chung, trong đó có các doanh nghiệp ngoài nhà
nớc nói riêng thực hiện đúng chủ trơng, đờng lối của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nớc, trớc hết cần phải đi sâu nghiên cứu một cách tỷ mỷ, thận
trọng đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nớc để hiểu biết thật
đầy đủ và toàn diện về tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp ngoài nhà nớc; phân tích rõ vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng, đảng viên, nhất là thực
trạng công tác phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nớc. Từ
đó đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm tăng cờng công tác phát triển
đảng viên, xây dựng và củng cố các tổ chức cơ sở đảng, nâng cao năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lợng đội ngũ cán bộ,
đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nớc.
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng cao cả của Đảng, vì mục
tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bớc đi
lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhất quán chủ trơng phát triển kinh tế là nhiệm
vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Trong xây dựng Đảng,
6
phải coi trọng trên cả ba mặt: chính trị, t tởng và tổ chức, thực hiện tốt giữa
xây dựng và thờng xuyên chỉnh đốn Đảng.
Kể từ khi Đảng đợc thành lập cho đến nay, trong cả lý luận và thực tiễn
Đảng ta luôn coi trọng xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao năng
lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng gắn với nâng cao chất lợng
đảng viên, coi đây là một trong những nhiệm vụ cơ bản, thờng xuyên trong
công tác xây dựng Đảng.
Những năm gần đây, Trung ơng Đảng luôn có sự quan tâm đặc biệt tới
nâng cao chất lợng các tổ chức cơ sở đảng và chất lợng đội ngũ đảng viên, chú
trọng đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên cả về số lợng và chất lợng ở tất
cả các loại hình tổ chức cơ sở đảng. Việc phát triển đảng viên đã đợc tăng cờng chỉ đạo chặt chẽ, nhất là những vùng trọng yếu, vùng sâu, vùng xa, những
từng bớc đợc khẳng định tốt, góp phần quan trọng giúp hội đồng quản trị,
giám đốc doanh nghiệp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh
của doanh nghiệp.
Bên cạch những kết quả đã đạt đợc, công tác phát triển đảng viên ở các
doanh nghiệp ngoài nhà nớc ở tỉnh Phú Thọ thời gian qua vẫn còn bộc lộ
nhiều khuyết điểm, hạn chế cần phải khắc phục; số lợng các doanh nghiệp
ngoài nhà nớc phát triển đợc đảng viên và thành lập đợc tổ chức đảng nhìn
chung cha tơng xứng với tốc độ phát triển của doanh nghiệp; cha đáp ứng
yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, việc nâng cao chất lợng, hiệu quả công tác
phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp ngoài nhà nớc ở tỉnh Phú Thọ
hiện nay là vấn đề rất cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Doanh nghiệp ngoài nhà nớc nói chung, công tác xây dựng tổ chức
đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nớc nói riêng luôn đợc Đảng, Nhà nớc, các cấp uỷ, cơ quan làm công tác tổ chức, các nhà nghiên cứu, các doanh
nhân... thờng xuyên quan tâm, chú trọng bởi đây là loại hình doanh nghiệp đợc
ra đời trong quá trình đổi mới đất nớc theo chủ trơng phát triển nền kinh tế thị trờng của Đảng, thời gian hoạt động thực tế cha nhiều và cũng bởi tính nhạy cảm
của chính vấn đề này trong các doanh nghiệp ngoài nhà nớc, cũng nh yêu cầu đòi
hỏi cần phải tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng đối với khu vực kinh tế ngoài t
nhân, trong đó có các doanh nghiệp ngoài nhà nớc, bảo đảm sự lãnh đạo của
Đảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống - xã hội.
Để thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của Đảng trong các doanh nghiệp
ngoài nhà nớc cần phải tập trung đẩy mạnh việc xây dựng, củng cố và phát
triển các tổ chức đảng, trong đó vấn đề u tiên hàng đầu là phải tăng cờng phát
triển đảng viên ở tất cả các loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nớc, để từ đó đa
8
chủ trơng đờng lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nớc vào doanh
nghiệp, giúp doanh nghiệp hoạt động đúng hớng, hiệu quả.
9
- Tổ chức đảng ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh và phơng thức hoạt
động trong cơ chế thị trờng hiện nay của tác giả Trần Trung Quang (Nxb Lao
động, Hà Nội, 1999);
- Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc và sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở
đảng trong Công ty cổ phần của tác giả Phùng Văn Chỉ ( Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội- 2000 ).
Tại tỉnh Phú Thọ, đã có một số văn bản chỉ đạo của tỉnh ủy, ủy ban nhân
dân tỉnh; các đề tài khoa học cấp tỉnh của một số tác giả đã nghiên cứu về
công tác cán bộ, đảng viên, nâng cao chất lợng của các tổ chức cơ sở đảng,
củng cố các tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nớc, kết nạp đảng
viên nh:
- Kết luận số 195-KL/TU, ngày 11/12/2001 về "Tăng cờng công tác lành
đạo, chỉ đạo của tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nớc".
- Nghị quyết số 22-NQ/TU ngày 1/11/2007, của Ban Chấp hành Đảng
bộ tỉnh về Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và
nâng cao chất lợng đội ngũ đảng viên ở tỉnh Phú Thọ trong tình hình mới.
- Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 21/08/2006 của Ban Thờng vụ Tỉnh ủy
Về tiếp tục tăng cờng công tác phát triển đảng viên giai đoạn 2006-2010.
- Nghị quyết số 24 -NQ/TU, ngày 20/10/2008, của Ban Chấp hành
Đảng bộ tỉnh " Về tiếp tục củng cố, phát triển tổ chức công đoàn, đoàn thanh
niên trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nớc đến năm 2015".
- Quyết định số 3239/2004/QĐ- UB ngày 22/10/2004 của ủy ban nhân
dân tỉnh Phú Thọ quy định về phối hợp và trách nhiệm của các cấp, các ngành
trong việc quản lý hoạt động của doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh.
- Đề tài khoa học "Thực trạng và những giải pháp củng cố, phát triển tổ
chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở tỉnh Phú Thọ" của tác
giả Nguyễn Thị Va (1997).
- Đề tài khoa học "Một số giải pháp cơ bản tạo nguồn kết nạp đảng viên
ở vùng núi khu vực III tỉnh Phú Thọ" của tác giả Nguyễn Hữu Trí (2004).
rõ u điểm, khuyết điểm hạn chế, phân tích nguyên nhân và rút ra những
kinh nghiệm.
- Đề ra mục tiêu, phơng hớng, nhiệm vụ và những giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao chất lợng, hiệu quả công tác phát triển đảng viên trong các
doanh nghiệp ngoài nhà nớc ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn chỉ nghiên cứu về công tác phát triển đảng viên trong các
doanh nghiệp ngoài nhà nớc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian từ năm
2005 đến nay. Đề xuất các giải pháp định hớng đến năm 2015.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
11
Chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, những
quan điểm, nguyên tắc của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác xây dựng
Đảng, nhất là công tác phát triển đảng viên là cơ sở lý luận và phơng pháp
luận để thực hiện đề tài luận văn
5.2. Phơng pháp nghiên cứu
Phơng pháp nghiên cứu của luận văn là phơng pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, kết hợp phơng pháp lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng phơng pháp điều tra, khảo sát, thống kê, tổng
kết thực tiễn...
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Bớc đầu đa ra quan niệm về công tác phát triển đảng viên trong các
doanh nghiệp ngoài nhà nớc ở tỉnh Phú Thọ.
- Chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong công tác phát triển đảng viên
trong các doanh nghiệp ngoài nhà nớc ở tỉnh Phú Thọ.
- Đánh giá đúng thực trạng công tác phát triển đảng viên trong các
doanh nghiệp ngoài nhà nớc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian từ năm
1.1. khái quát về các doanh nghiệp ngoài nhà nớc ở tỉnh
phú thọ
1.1.1. Doanh nghiệp ngoài nhà nớc - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
1.1.1.1. Quan niệm của C.Mác, Ăngghen, Lênin về doanh nghiệp
ngoài nhà nớc
Khái niệm doanh nghiệp ngoài nhà nớc cha đợc C. Mác, Ăngghen
đề cập một cách rõ ràng, cụ thể dới dạng tờng minh trong các tác phẩm
kinh điển. Tuy nhiên, C. Mác, Ăngghen đã có nhiều tác phẩm phân tích
sâu sắc về hình thức "đa chủ sở hữu" trong doanh nghiệp, tức là dạng
doanh nghiệp cổ phần - một trong những loại hình doanh nghiệp phổ biến
trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, trong đó có các doanh nghiệp ngoài
nhà nớc.
Theo C. Mác, Ăngghen doanh nghiệp đa chủ sở hữu bao gồm nhiều
loại, có loại cổ đông là t nhân, những nhà t bản, nhng đều thuộc thành phần
kinh tế t nhân. Trong một số tác phẩm của mình, Ph. Ăng ghen đã gọi các
doanh nghiệp đa sở hữu đó là" công ty cổ phần của nhà t bản tập thể" hoặc
"công ty cổ phần trực tiếp mang hình thức t bản xã hội, đối lập với t bản t
nhân" [47, tr.667].
Khi nghiên cứu về chế độ sở hữu, phơng thức sản xuất của chế độ t bản,
Ăngghen đã khẳng định: ngay trong chế độ t bản cũng đang có sự chuyển đổi
về hình thức sở hữu, phơng thức sản xuất; Ăngghen cho rằng các "xí nghiệp
cổ phần t bản chủ nghĩa cũng nh những nhà máy hợp tác, đều phải đợc coi là
những hình thái quá độ từ phơng thức t bản chủ nghĩa sang phơng thức sản
xuất tập thể" [33, tr.673].
Nh vậy, các doanh nghiệp đa hình thức sở hữu nêu trên thực chất đợc
coi là thành phần kinh tế nào? doanh nghiệp nhà nớc, doanh nghiệp cổ phần
hay doanh nghiệp t nhân? doanh nghiệp nào thuộc loại hình doanh nghiệp nhà
nớc, doanh nghiệp nào là doanh nghiệp ngoài nhà nớc? Hợp tác xã có phải là
một loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ (là ngời lao động), cổ đông là các xã
chủ nghĩa t bản t nhân; chủ nghĩa t bản nhà nớc; chủ nghĩa xã hội. Trong
đó, chủ nghĩa t bản nhà nớc với t cách là một thành phần kinh tế đợc V.I
Lênin luận giải rất cặn kẽ, đồng thời khẳng định có thể sử dụng chủ nghĩa
t bản nhà nớc vào mục đích xây dựng đất nớc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội. Vì vậy, không đợc tự hạn chế ở chỗ đem chủ nghĩa t bản đối lập
một cách trừu tợng với chủ nghĩa xã hội. Lê-nin kêu gọi "phát triển sự trao
15
đổi bằng đủ mọi phơng tiện và làm cho bằng đợc, không sợ chủ nghĩa t
bản, vì cái phạm vi đã quy định cho nó ở trong nớc ta (về mặt kinh tế, thì
do tớc quyền sở hữu của địa chủ và t sản; về mặt chính trị, do có chính
quyền công nông) cũng đủ nhỏ hẹp, đủ "vừa phải''[47, tr.278-279].
Chủ trơng của Lênin là đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trờng, có
sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ
quá độ. Mở rộng việc "để cho nông dân đợc tự do trao đổi, cả việc phát
triển tiểu công nghiệp, để cho chủ nghĩa t bản - là chủ nghĩa lớn lên trên
cơ sở tiểu t hữu và tiểu thơng nghiệp - đợc đôi chút tự do; chúng ta không
sợ nó, vì đối với chúng ta, chủ nghĩa t bản đó hoàn toàn không đáng sợ gì
cả"[47, tr.375].
1.1.1.2. Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí minh về doanh nghiệp
ngoài nhà nớc
Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề
quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ
nghĩa xã hội ở các nớc thuộc địa và phụ thuộc. T tởng của Ngời đã và đang soi
đờng cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, trở thành những giá
trị bền vững của dân tộc Việt Nam và có sức lan toả ra thế giới.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, thực dân
Pháp liền quay trở lại nhằm nô dịch nớc ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chính phủ đã ban hành tám chính sách nhằm khuyến khích đẩy mạnh phát
triển sản xuất, cụ thể là: Bảo đảm quyền sở hữu ruộng đất; bảo hộ tài sản của
nông dân và các tầng lớp khác; khuyến khích khai hoang, phục hóa bằng miễn
giảm thuế ba năm cho ruộng khai hoang. Không phải đóng thuế phần tăng vụ,
tăng năng xuất; tự do thuê mớn nhân công, thuê mớn trâu bò, vay và cho vay;
khuyến khích phát triển tổ đổi công; khuyến khích phát triển những ngành
nghề phụ và nghề thủ công trong nông dân và nông thôn; bảo hộ và khuyến
khích, khen thởng những hộ nông dân làm ăn giỏi; nghiêm cấm phá hoại sản
xuất.
Với những chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ, nhân dân rất
phấn khởi tăng gia sản xuất, phát huy đợc sức mạnh tổng hợp của các thành
phần kinh tế, góp phần hoàn thành giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến
tranh, chuẩn bị mọi điều kiện cho miền Bắc bớc vào kế hoạch ba năm cải
tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, với
nội dung chủ yếu là biến nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa chỉ gồm hai hình thức sở hữu: quốc doanh và tập thể. Xây
dựng mô hình kinh tế tập trung cao độ nhằm huy động mọi nguồn lực cho
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc giải phóng dân tộc, đấu tranh thống
nhất nớc nhà.
Sau ngày 30/4/1975, miền Nam đợc hoàn toàn giải phóng, đất nớc
thống nhất cùng bớc vào thời kỳ phát triển kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa
đối với các thành phần kinh tế, đồng thời tiếp tục duy trì mô hình kinh tế tập
trung, bao cấp trong cả nớc ở thời bình. Do đó, đã không huy động đợc sức
mạnh của các thành phần kinh tế và tính tích cực, chủ động của mọi ngời dân
hăng say lao động sản xuất, tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Vì vậy, đã diễn
ra khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài trong cả nớc, hàng triệu ngời không có
việc làm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn.
Trớc tình hình đó, vấn đề đặt ra là làm sao mở đờng tạo điều kiện cho
phát triển để mọi ngời có việc làm, thu nhập, đồng thời động viên mọi ngời
dân, mọi tổ chức huy động vồn vào sản xuất kinh doanh, kích thích phát triển
quy luật khách quan và yêu cầu thực tiễn sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Chủ trơng của Đảng là "coi nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trng của
thời kỳ quá độ"[3, tr.56-57]. Coi phát triển kinh tế nhiều thành phần là phù
hợp với quy luật khách quan; sử dụng đúng các thành phần kinh tế ngoài nhà
nớc, nhất là kinh tế t bản t nhân, kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài. Đảng ta chỉ rõ
sử dụng có chọn lọc một bộ phận kinh tế t bản t nhân. Việc cải tạo đối với
thành phần kinh tế này đợc tiến hành theo phơng châm " cải tạo để sử dụng, sử
dụng để cải tạo tốt hơn. Đối với một số ngành, nghề nhất định trong khu vực
sản xuất và dịch vụ, ở những nơi cần thiết, t nhân đợc dùng vốn và kỹ thuật
của họ để tổ chức sản xuất, kinh doanh và đặt dới sự kiểm soát của Nhà nớc.
20
Quy mô của cơ sở sản xuất và phạm vi hoạt động đợc quy định tuỳ theo ngành
nghề và mặt hàng đợc phép kinh doanh"[16, tr.241].
Năm 1987 là năm mở đầu việc thực hiện đờng lối đổi mới do Đại hội
VI của Đảng, Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khoá VI đã có ba hội nghị quan
trọng để giải quyết những vấn đề cấp bách về kinh tế. Hội nghị lần thứ hai Ban
Chấp hành Trung ơng giải quyết những vấn đề cấp bách về phân phối lu thông
nhằm thực hiện 4 giảm (giảm lạm phát, giảm bội chi ngân sách, giảm tốc độ
tăng giá, giảm khó khăn về đời sống) và tạo thuận lợi cho sản xuất phát triển.
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ơng quyết định chuyển hoạt động
của các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ
nghĩa, đổi mới quản lý nhà nớc về kinh tế. Hội nghị lần thứ t Ban Chấp hành
Trung ơng quyết định phơng hớng, nhiệm vụ kế hoạch nhà nớc ba năm 19881990 và năm 1988, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu t, nhằm tập trung
cho ba chơng trình kinh tế lớn: lơng thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng
xuất khẩu.
Ngày 15/7/1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 16- NQ/TW về
"Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với các cơ sở sản xuất thuộc các
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh", và tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ơng lần thứ sáu, khóa VI (tháng 3 năm 1989) "Kiểm điểm hai năm thực hiện
lớn đối với các thành phần kinh tế, tiếp tục cụ thể hóa chủ trơng nhất quán xây
dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản
lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Khuyến khích phát triển kinh
tế t bản t nhân, kinh tế t bản nhà nớc, đồng thời tạo môi trờng thuận lợi cho sự
phát triển, hợp tác, liên doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế ở cả trong
và ngoài nớc.
Đại hội IX của Đảng (2001) đề ra việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện
khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành
chính nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực cho sự phát triển của các thành
phần kinh tế. Nhà nớc bảo đảm " Khuyến khích phát triển kinh tế t bản t nhân
rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không
cấm. Tạo môi trờng kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế t
bản t nhân phát triển trên những định hớng u tiên của Nhà nớc, kể cả đầu t nớc
ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho ngời lao động, liên doanh, liên kết với nhau..."[13, tr.98-99].
Đại hội khẳng định kinh tế t nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của
nền kinh tế quốc dân; phát triển kinh tế t nhân là vấn đề chiến lợc lâu dài, có
vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc và
hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, phải tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng, phát
huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và các hiệp hội doanh nghiệp đối
với kinh tế t nhân. Nhà nớc cho phép doanh nghiệp t nhân cũng đợc dùng giá
trị quyền sử dụng đất đai để thế chấp vay vốn ngân hàng hoặc góp cổ phần
liên doanh với doanh nghiệp trong nớc và nớc ngoài; thực hiện bình đẳng
trong các quan hệ kinh tế, nhất là chính sách về tài chính, tín dụng giữa các
thành phần kinh tế. Bảo đảm để kinh tế t nhân tiếp cận và đợc hởng các u đãi
của Nhà nớc nh đối với kinh tế hộ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho đầu t theo
các chơng trình mục tiêu quốc gia. Nhà nớc hỗ trợ về xây dựng cơ sở hạ tầng
chung (giao thông, điện, nớc, thông tin liên lạc...), tạo điều kiện thuận lợi cho
kinh tế t nhân phát triển.
Nam năm 2000, Luật Doanh nghiệp nhà nớc năm 2003, trừ trờng hợp quy
định tại Khoản 2 Điều 166 của Luật này; các quy định về tổ chức quản lý và
hoạt động của doanh nghiệp tại Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam năm 1996
24
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam
năm 2000.
Các luật nêu trên của Quốc hội và Nhà nớc ta là việc cụ thể hóa chủ trơng, đờng lối của Đảng đối với các doanh nghiệp nói chung và đối với các
doanh nghiệp ngoài nhà nớc nói riêng. Đồng thời, đây là những văn bản hết
sức quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động đợc
thuận lợi trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, hiện nay cha thấy một văn bản nào định nghĩa về doanh
nghiệp ngoài nhà nớc. Do đó, để đi sâu nghiên cứu đề tài này, trớc tiên chúng
ta cần phải làm rõ thế nào là doanh nghiệp ngoài nhà nớc, những doanh
nghiệp nào đợc coi là doanh nghiệp ngoài nhà nớc.
Theo từ điển tiếng Việt 1997-2004 The Free Vietnamese Dictionary
Project thì:
Doanh nghiệp (doanh là lo toan, làm việc; nghiệp là nghề) là làm nghề
sản xuất để kiếm lời. Doanh nghiệp là cơ sở hoạt động sản xuất để kiếm lời.
Nhà nớc là tổ chức chính trị của xã hội, cơ quan chuyên chính của giai
cấp nắm quyền thống trị về kinh tế.
Ngoài là những vị trí không thuộc phạm vi đợc xác định nào đó, trái với
trong; là tập hợp những vị trí tuy thuộc phạm vi đợc xác định nào đó, nhng
nằm ở ranh giới và hớng ra phía những vật xung quanh; là phía trớc so với
phía sau, hoặc phía những vị trí ở xa trung tâm, trái với trong; là vùng địa lý ở
vào phía bắc so với địa phơng đợc xác định làm mốc, trong đất nớc Việt Nam,
trái với trong; là khoảng thời gian sau thời điểm xác định làm mốc không bao
lâu; là phạm vi những gì không trong phạm vi đợc xác định; là phạm vi những
gì khác, không kể những cái đợc xác định; là từ biểu thị điều sắp nêu ra nơi sự
nghiệp, mà vốn điều lệ của doanh nghiệp do các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nớc cùng góp lại, cùng làm với lao động làm thuê hoặc thuê mớn lao
động hoàn toàn. Do đó, mọi hoạt động của doanh nghiệp là do chính doanh
nghiệp quyết định theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Chủ trơng tạo điều kiện giải phóng và khai thác mọi khả năng để đẩy
mạnh sự phát triển của lực lợng sản xuất giúp chúng ta khai phát huy cao độ
mọi tiềm năng vốn có của con ngời và nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân vào
sản xuất kinh doanh. Thừa nhận sự tồn tại của kinh tế ngoài nhà nớc là một
quan điểm hoàn toàn đúng đắn dựa trên cơ sở xuất phát từ lợi ích chung của
nền kinh tế quốc dân: Nhà nớc tranh thủ đợc nguồn vốn, công nghệ, kỹ thuật,
kinh nghiệm của các nhà doanh nghiệp trong quản lý kinh doanh trong và
ngoài nớc, ngời lao động có việc làm và thu nhập, đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân đợc cải thiện rõ rệt, tạo điều kiện góp phần vào sự tăng trởng và phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nớc. Trong quá trình sử dụng
các thành phần kinh tế ngoài nhà nớc, Đảng ta luôn luôn chú trọng phát huy
những mặt tích cực, đồng thời hạn chế những mặt trái và ảnh hởng tiêu cực