LUẬN VĂN: Công tác phát triển đảng viên trong công nhân các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai giai đoạn hiện nay pot - Pdf 15


LUẬN VĂN:
Công tác phát triển đảng viên trong
công nhân các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh ở các tỉnh Bình Dương, Đồng
Nai giai đoạn hiện nay

Mở Đầu

1. Lý do chọn đề tài
Phát triển đảng viên để không ngừng bổ sung vào hàng ngũ của mình những lực
lượng mới, những người ưu tú trong phong trào quần chúng, bảo đảm sự kế thừa và phát
triển liên tục của Đảng là một yêu cầu khách quan có tính qui luật trong quá trình hoạt
động của Đảng. Từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm
đến công tác phát triển đảng viên. Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX của Đảng chỉ rõ
phương hướng công tác phát triển đảng viên hiện nay là: "Phát triển đảng viên theo
đúng tiêu chuẩn quy định, chú ý những người ưu tú trong công nhân, trí thức, lao động
thuộc các thành phần kinh tế, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, những
nơi còn ít hoặc chưa có đảng viên" [23, tr. 143].
Công nhân trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) là một bộ phận
của giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam. Cùng với sự phát triển nhanh chóng và vai
trò ngày càng tăng của các DNNQD, lực lượng công nhân trong các DNNQD đang phát

Bình Quân với bài trên báo Thông tin khoa học tự nhiên: "Vấn đề phát triển Đảng trong
thanh niên sinh viên hiện nay", số 5, 5/1999. Trên tạp chí có bài của Nguyễn Văn
Muôn: "Một số suy nghĩ về công tác phát triển Đảng hiện nay", Xây dựng Đảng, số 5,
1994; Đỗ Xuân với bài: "Hội nghị chuyên đề về công tác phát triển đảng viên trẻ", Xây
dựng Đảng, số 3, 1995; Hồ Đức với bài: "Việc đẩy mạnh công tác phát triển Đảng trong
thanh niên", Tạp chí Cộng sản, số 5, 1995; Mạch Quang Thắng với bài: "Một số vấn đề
đặt ra đối với công tác phát triển đảng viên", Xây dựng Đảng, số 5, 2004; Nguyễn Văn
Sáu với bài: "Một số giải pháp nâng cao công tác phát triển Đảng", Xây dựng Đảng, số
6, 2004; Hồ Đức Việt với bài: "Đẩy mạnh công tác phát triển Đảng trong thanh niên",
Tạp chí Cộng sản, số 3, 1995
Trong những số báo này, hầu hết các tác giả đều đề cập và giải quyết đến các
vấn đề phát triển Đảng nói chung và phát triển Đảng trong đối tượng là thanh niên, sinh
viên nói riêng.

- Trên báo Nhân dân, Lâm Huệ Nữ có bài: "Công tác xây dựng tổ chức Đảng và
các đoàn thể trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Đồng Nai", số ra ngày 7/12/2004;
Nguyễn Đình Khánh với bài: "Hội nghị công tác xây dựng tổ chức Đảng, đoàn thể
trong doanh nghiệp ở các khu công nghiệp", số ra ngày 23/10/2004; Trần Thu Thủy với
bài: "Kinh nghiệm phát triển đảng viên mười doanh nghiệp ngoài quốc doanh", Tạp chí
Xây dựng Đảng, số 6, 2003; Nguyễn Đức Hạt: "Tăng cường xây dựng tổ chức Đảng,
đoàn thể trong doanh nghiệp ở các khu công nghiệp", Tạp chí Xây dựng Đảng, số 11,
2004; bài: "Vai trò của tổ chức cơ sở Đảng ở một doanh nghiệp tư nhân", Tạp chí Xây
dựng Đảng, số 8, 2004
Trong những số này, các tác giả đã đề cập đến vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở
Đảng; kinh nghiệm thành lập và xây dựng các tổ chức đảng, đoàn thể đối với các loại
hình doanh nghiệp, đặc biệt là DNNQD trên địa bàn có KCN. Các nhà chuyên môn còn
quan tâm nghiên cứu, phân tích, mổ xẻ trên các vấn đề, như: Nguyễn Thế Vịnh có đề
tài: "Tăng cường kết nạp đảng viên là công nhân trong các xí nghiệp công nghiệp ở thị
xã Ninh Bình tỉnh Ninh Bình", Chuẩn hóa thạc sĩ xây dựng Đảng, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, 1995; đề tài này, tác giả làm rõ lý luận cơ bản phải tăng cường

các giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên trong công nhân ở các
DNNQD ở các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai giai đoạn mới.
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác phát triển đảng viên trong công
nhân các DNNQD ở các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung khảo sát công tác phát triển đảng viên trong công nhân
các DNNQD ở các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Đồng Nai giai đoạn 1995 đến
nay và đề xuất giải pháp cho nhiệm kỳ tới.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Xây dựng Đảng và vấn đề phát triển

đảng viên; đồng thời, luận văn kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa
học đã được công bố.
Về phương pháp, luận văn sử dụng phương pháp biện chứng mácxít kết hợp các
phương pháp chủ yếu như: tổng kết thực tiễn, lịch sử - lôgíc, nghiên cứu tài liệu, phân
tích, tổng hợp, thống kê, so sánh
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác phát
triển đảng viên trong công nhân các DNNQD ở các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, bước
đầu rút ra kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp đẩy mạnh công tác phát triển đảng
viên trong công nhân ở các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai giai đoạn hiện nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, chỉ đạo thực
tiễn công tác phát triển đảng viên trong công nhân các DNNQD ở các tỉnh Bình Dương,
Đồng Nai. Luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, học tập môn Xây
dựng Đảng ở các nhà trường.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung

quốc tế, có hệ thống giao thông thuận lợi, vành đai sản xuất công nghiệp mạnh của

Thành phố Hồ Chí Minh. Trung tâm hai tỉnh tương đối gần sân bay quốc tế Tân Sơn
Nhất, cảng biển Sài Gòn, cảng biển Vũng Tàu và có đường quốc lộ 1A, 1B đi qua.
Ngoài ra, tuyến đường sắt xuyên Việt là mạch máu giao thông quan trọng nối hai tỉnh
Bình Dương, Đồng Nai với các tỉnh miền Bắc, miền Trung và Thành phố Hồ Chí Minh.
Bình Dương còn có tuyến đường sắt xuyên á (Thành phố Hồ Chí Minh - Phnômpênh -
Băngkok), với ga vận tải quốc tế Sóng Thần và hai cảng sông Bà Lụa, Lái Thiêu. Đồng
Nai có nhiều sông ngòi và hệ thống các cảng như cảng Đồng Nai, cảng Gò Dầu, cảng
Côgido đã tạo thành hệ thống giao thông vận tải thuận lợi trong việc vận chuyển hàng
hóa cho tất cả các loại doanh nghiệp trên địa bàn hai tỉnh. Đó chính là những điều kiện,
lợi thế hấp dẫn để Bình Dương và Đồng Nai đẩy nhanh tiến độ CNH, HĐH.
Bình Dương và Đồng Nai có khí hậu nhiệt đới, cận xích đạo, có gió mùa, ôn
hòa, ít bị ảnh hưởng gió bão. Địa hình tương đối bằng phẳng, nền đất cứng, ổn định,
thấp dần về phía Nam, thuận tiện cho xây dựng nhà máy, xí nghiệp.
Về kinh tế: Từ khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế Bình Dương,
Đồng Nai có bước phát triển nhảy vọt.
Kinh tế Đồng Nai: trong 10 năm từ 1991-2000, tỉnh Đồng Nai đã giữ được tốc độ
tăng trưởng cao, liên tục, với mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 12,8%. Giai đoạn
1991-1995, GDP bình quân tăng 13,9%; giai đoạn 1996-2000 tăng 11,7%, cao hơn mức
bình quân cả nước là 1,8%. Trong những năm gần đây, kinh tế Đồng Nai tiếp tục tăng
trưởng khá, GDP năm 2004 tăng 13,56% so với năm 2003, vượt mức tăng trưởng do Đại
hội đảng bộ tỉnh đề ra (13-13,5%).
Đồng Nai là một trong những tỉnh có nhiều KCN nhất nước. Toàn tỉnh hiện đã
quy hoạch tổng thể 17 KCN với diện tích 8.119 ha. Năm 2000, Đồng Nai có 10 KCN đã
được Chính phủ phê duyệt, với tổng diện tích 2.720 ha gồm các KCN Biên Hòa 1, Biên
Hòa 2, Amata, Lôteco, Gò Dầu (bao gồm cả Vêdan), Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2,
Nhơn Trạch 3, Hố Nai, Sông Mây. Trong đó, KCN Biên Hòa 1 có 355 ha, 81 doanh
nghiệp, thu hút hơn 20.000 lao động; KCN Biên Hòa 2 có diện tích 365 ha, đã cho thuê
91% diện tích và thu hút hơn 26.000 lao động; KCN Amata giai đoạn 1 có diện tích 129

đây. Kinh tế Bình Dương tăng đều ở cả ba khu vực, trong đó công nghiệp có tốc độ tăng
trưởng bình quân cao, 27,11%/năm giai đoạn 1996-2000, 20,33%/năm 2000-2003. Tuy

là tỉnh có tốc độ tăng dân số cao (phần lớn là tăng dân số cơ học), nhưng GDP bình
quân theo đầu người của Bình Dương liên tục tăng nhanh, cao hơn GDP đầu người
trong cả nước: năm 1998 đạt 6,530 triệu đồng/người, năm 2003: 11,6 triệu đồng/người
(gấp khoảng 1,5 lần bình quân chung cả nước), năm 2004 đạt 13,1 triệu đồng/người.
Không chỉ tăng trưởng kinh tế vượt trội, Bình Dương còn là tỉnh có sự chuyển dịch
mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Sự chuyển dịch đó tạo thêm nhiều việc
làm mới. Đây là nguyên nhân mà Bình Dương cần thu hút một lượng lớn lao động từ
các địa phương khác về làm việc tại tỉnh. Bình Dương nổi lên như một hiện tượng kinh
tế, xứng đáng là một động lực kinh tế của cả nước. Chính sự đột phá của kinh tế Bình
Dương đã làm thay đổi quan điểm phân vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, từ tam giác
trở thành tứ giác kinh tế (Quyết định số 44/1998/QĐ-TT, 23/02/1998 của Thủ tướng
Chính phủ).
Bình Dương hiện có 12 KCN được Chính phủ cho phép thành lập với tổng diện
tích 2.431 ha và một khu liên hợp Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị Bình Dương, diện
tích 4.196 ha. Toàn tỉnh có 2.734 doanh nghiệp trong nước với tổng số vốn đăng ký
11.401 tỷ đồng; 871 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (VĐTNN) với tổng số vốn 4,1 tỷ
đô la Mỹ. Đến nay, ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã thông qua điều chỉnh quy
hoạch phát triển các KCN và các cụm công nghiệp đến năm 2010, định hướng đến năm
2020; cấp giấy phép thành lập KCN dệt may Bình An (25,9 ha) và phê duyệt quy hoạch
định hướng phát triển KCN - đô thị Mỹ Phước mở rộng (711,7 ha).
Trình độ học vấn của cư dân Bình Dương khá cao, tỷ lệ người biết đọc, biết
viết năm 2003 là 97,60%. Tuy là tỉnh phát triển công nghiệp nhưng lao động qua đào
tạo có bằng chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệ còn thấp (18,88%). Do vậy, cơ hội tìm
việc làm của người lao động gặp khó khăn. Trên thực tế, thị trường lao động Bình
Dương còn mang tính tự phát, chưa có tổ chức. Người lao động tham gia thị trường
lao động chủ yếu bán sức lao động giản đơn, chưa có nghề ổn định. Bình Dương có
tốc độ tăng dân số cơ học cao do thu hút số lượng lớn lao động ngoại tỉnh (cứ 4 người

Doanh nghiệp liên doanh còn được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm
hữu hạn; vốn pháp định do các bên đóng góp theo luật định; hội đồng quản trị là cơ
quan lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp liên doanh. Số lượng thành viên của hội đồng

quản trị do mỗi bên chỉ định tương ứng với tỷ lệ vốn góp; các bên tham gia liên doanh
cùng phân chia lợi nhuận và gánh chịu rủi ro theo tỷ lệ đóng góp vào vốn pháp định.
Doanh nghiệp 100% VĐTNN là doanh nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu
của các cá nhân, tổ chức nước ngoài thành lập và quản lý. Doanh nghiệp này thường được
thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một pháp nhân mới theo
luật định. Bên tiếp nhận đầu tư không góp vốn nhưng cung cấp cho bên nước ngoài
những dịch vụ cần thiết và cho thuê đất đai, lao động.
ở Việt Nam trong những năm qua, doanh nghiệp có VĐTNN được coi là một bộ
phận của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cùng với xu thế toàn
cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, DNCVĐTNN ngày càng phát triển đa dạng, thể
hiện dưới nhiều hình thức, như: liên doanh, liên kết giữa Nhà nước Việt Nam với tư
nhân nước ngoài; giữa tư nhân trong nước với tư nhân nước ngoài; giữa doanh nghiệp
nhà nước Việt Nam với các công ty nước ngoài, kể cả các doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài. Vì vậy, Đại hội IX của Đảng đã xác định kinh tế có VĐTNN là một thành phần
kinh tế.
Từ những phân tích trên, có thể xác định: doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao
gồm các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty
hợp danh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong thời gian qua, các DNNQD đã thu hút được nguồn vốn, lao động rất lớn,
cùng với kỹ thuật và những kinh nghiệm tổ chức, quản lý tiên tiến ở trong nước và trên thế
giới vào sản xuất kinh doanh. Điều đó đã góp phần quan trọng đưa nền kinh tế nước ta
thoát ra khỏi khủng hoảng và tăng trưởng với tốc độ khá nhanh, cải thiện đời sống nhân
dân. Vai trò của các DNNQD sẽ còn tiếp tục tăng lên trong quá trình đổi mới và đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước.
Thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và mở rộng kinh
tế đối ngoại, những năm gần đây, ở Bình Dương và Đồng Nai có nhiều DNNQD đã

Do điều kiện cơ sở hạ tầng tốt nên các KCN và KCX thu hút được nhiều
DNNQD vào sản xuất kinh doanh, nhất là các DNNQD vừa và lớn. Hiện nay, trên địa

bàn hai tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, với 29 KCN đã thu hút được 777 DNNQD,
chiếm tỉ lệ 15,54%.
- Các DNNQD trong các KCN của Đồng Nai và Bình Dương có yêu cầu cao về
số lượng và chất lượng lao động. Về số lượng, các doanh nghiệp trong khu KCN
thường nhận lao động công nghiệp với số lượng lớn, số lượng này tăng dần theo cùng
với quy mô đầu tư của các doanh nghiệp vào KCN. Vì vậy, đáp ứng yêu cầu về số
lượng lao động của các doanh nghiệp KCN là vấn đề cần thiết và đòi hỏi có trình độ tổ
chức lao động cao đối với các cơ quan quản lý.
Về chất lượng, các DNNQD trong KCN thường là các doanh nghiệp vừa, doanh
nghiệp lớn, có trình độ quản lý, kỹ thuật, công nghệ cao hơn bên ngoài nên có những
yêu cầu cao về chất lượng đối với cả lao động quản lý và lao động kỹ thuật, như: yêu
cầu về trình độ đào tạo nghề nghiệp; về kỹ năng, kinh nghiệm lao động; về tác phong,
thái độ làm việc Đây là những yêu cầu mà cả lao động địa phương, lao động nhập cư
không dễ đáp ứng, do vậy cơ hội tìm kiếm việc làm với thu nhập cao của lao động trong
KCN không phải lúc nào cũng mở rộng.
- Lao động trong các DNNQD ở Đồng Nai và Bình Dương có sự biến động rất
lớn. Trong khi các doanh nghiệp nhà nước chưa có chế độ thật phù hợp để thu hút thợ
bậc cao, lành nghề, thợ giỏi, một số không nhỏ trong lực lượng này đã bỏ xí nghiệp, nhà
máy chuyển sang làm ở các DNNQD. Ngay trong các DNNQD lực lượng lao động cũng
có sự biến động rất lớn. Chỉ riêng năm 2004, qua tổng hợp báo cáo của 1.923 doanh
nghiệp, số lao động tăng là 82.019 người, số lao động giảm là 51.251 người; lao động
biến động chủ yếu ở các doanh nghiệp may, giầy da [57]. Dòng di chuyển lao động
thường hướng vào các doanh nghiệp, công việc có thu nhập cao hơn, có khả năng đảm
bảo việc làm ổn định cho họ.
- Trong DNNQD, vốn và tài sản thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp. Đây là
đặc điểm nổi bật nhất so với các doanh nghiệp nhà nước, có ảnh hưởng mạnh nhất đến
việc xây dựng, hoạt động của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên trong các DNNQD ở

các vụ tranh chấp lao động, đình công, lãn công được giảm dần. Tuy nhiên, cá biệt còn
xảy ra một số doanh nghiệp vẫn xảy ra tình trạng va chạm, xô xát, thậm chí vi phạm
nhân phẩm của người lao động. Nguyên nhân chủ yếu một mặt là do số nhà đầu tư cố

tình vi phạm pháp luật, mặt khác người sử dụng lao động và người lao động ở nhiều
nguồn, nhiều địa phương, nhiều quốc gia, trình độ văn hóa, nhận thức pháp luật, phong
cách sinh hoạt, phong tục tập quán khác nhau nên xảy ra những bất đồng.
1.1.3. Đặc điểm công nhân trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở tỉnh
Bình Dương, Đồng Nai
Công nhân các DNNQD ở tỉnh Bình Dương và Đồng Nai là những người lao
động chân tay và trí óc, được thuê làm việc trong các DNNQD trên địa bàn hai tỉnh. Bộ
phận đông nhất là những người lao động trong các dây chuyền sản xuất (thường được
gọi là công nhân), ngoài ra còn có một bộ phận những người làm công việc quản lý,
dịch vụ, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp (thường được gọi là lao động). Khái niệm công nhân ở đây bao gồm cả công
nhân và lao động theo cách thường gọi ở địa phương, bởi vì dù là người lao động chân
tay, hay trí óc; người trực tiếp sản xuất hay quản lý trong các DNNQD, trừ chủ doanh
nghiệp, còn lại đều là những người được thuê làm việc, thực chất là thu nhập và sống
bằng bán sức lao động.
Cùng với sự phát triển của các DNNQD, lực lượng công nhân trong các
DNNQD ở Bình Dương và Đồng Nai đang phát triển nhanh về số lượng và chất lượng.
Tổng số công nhân lao động (CNLĐ) đang làm việc trong các DNNQD ở hai tỉnh là
322.277 người. Theo thống kê của Liên đoàn lao động Bình Dương, Đồng Nai, đến cuối
tháng 8 năm 2004, chỉ riêng các DNNQD ở Bình Dương, Đồng Nai trong các KCN đã
có 236.672 CNLĐ (Phụ lục 7).
Đội ngũ công nhân các DNNQD ở Bình Dương, Đồng Nai đang đóng vai trò to
lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, họ là lực lượng lao động trực
tiếp tạo ra một phần chủ yếu của cải vật chất, hàng hóa sản xuất ra trên địa bàn và lợi
nhuận cho các doanh nghiệp; góp phần quan trọng vào việc đẩy mạnh CNH, HĐH và có
ảnh hưởng nhiều mặt tới đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở địa phương.

CNLĐ, trong đó công nhân ngoài tỉnh chiếm hơn 60% [43]. Do đó, có thể thấy rõ đội
ngũ công nhân các DNNQD ở Bình Dương, Đồng Nai ra đời từ rất sớm nhưng tính chất
công nghiệp mới hình thành và đang trên đà phát triển rất nhanh. Đây là điểm khác với

công nhân vùng mỏ Quảng Ninh, thành phố cảng Hải Phòng, thành phố dệt Nam Định
là những nơi các cơ sở công nghiệp đã ra đời từ cuối thế kỷ XIX.
- Đội ngũ công nhân các DNNQD rất đa dạng về thành phần xuất thân, đến từ
khắp nơi trong cả nước và còn rất trẻ. Là hai tỉnh có tốc độ công nghiệp hóa nhanh với
nhiều KCN, Bình Dương và Đồng Nai đã thu hút nguồn nhân lực từ mọi miền của đất
nước, làm cho đội ngũ công nhân nơi đây phát triển mạnh mẽ với thành phần xuất thân rất
đa dạng. Số công nhân là người từ các nơi về làm việc ở các KCN chiếm trên 60%. Riêng
Đồng Nai, có số công nhân xuất thân từ học sinh phổ thông chiếm 34,62%; bộ đội:
5,09%; tốt nghiệp các trường dạy nghề: 9,6%; tốt nghiệp cao đẳng, đại học: 4,21%; nông
dân: 11,9%; cán bộ công chức: 7,16%; những người chưa có nghề: 20,89% [13, tr. 15]. Đặc
biệt, công nhân trong các DNNQD ở Đồng Nai hầu hết ở trong độ tuổi rất trẻ, tiềm năng
phát triển rất lớn. Qua khảo sát 30.000 công nhân ở Đồng Nai cho thấy: 72,58% công
nhân có độ tuổi từ 16-35, trong đó số công nhân trẻ từ 16-26 chiếm 34,48%; số công nhân
có độ tuổi từ 46-60 chỉ chiếm 6,04%. Đại đa số công nhân trẻ có độ tuổi từ 16-35 lao
động trong các DNNQD [13, tr. 13].
ở Bình Dương, do lực lượng công nhân chủ yếu xuất thân từ các vùng nông
thôn nên trình độ văn hóa phần lớn là trung học cơ sở, chưa qua đào tạo tay nghề, hoặc
công nhân bậc thấp. Hầu hết lao động trong các DNNQD ở KCN là từ các tỉnh miền
Trung, miền Bắc đến làm việc. Trong tổng số 73.965 lao động ở các KCN của Bình
Dương, công nhân có trình độ đại học chiếm 4,260%; trung cấp: 23,404%; phổ thông:
60,014%. Ngoài ra, còn có 941 chuyên gia trong tổng số 1.281 lao động người nước
ngoài đang làm việc tại Bình Dương. Như vậy, đội ngũ công nhân Bình Dương, Đồng
Nai rất đa dạng về thành phần và có độ tuổi rất trẻ.
- Trong đội ngũ công nhân các DNNQD ở Bình Dương, Đồng Nai đã xuất
hiện một bộ phận công nhân công nghiệp hiện đại. Nằm trong khu vực kinh tế năng
động phía Nam, Bình Dương, Đồng Nai đã sớm tiếp nhận đầu tư vốn, kỹ thuật, công

chóng nóng chưa đáp ứng đầy đủ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe công nhân.
Thời gian làm việc, nghỉ ngơi: Nhìn chung, các doanh nghiệp áp dụng thời giờ
làm việc, thời gian nghỉ ngơi theo Bộ Luật lao động. Song, do lao động trong các KCN
chủ yếu là người ngoại tỉnh, điều kiện vui chơi hạn chế, họ thích làm tăng ca, song

nhiều khi tăng ca nhiều quá mà vẫn chấp nhận mức lương thấp, một bộ phận nhỏ phản
ứng, dẫn đến tranh chấp tự phát và đình công. Đình công ảnh hưởng đến doanh nghiệp,
song cũng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người công nhân.
Tiền lương, tiền công, tiền thưởng: Tiền lương bình quân của người lao động
trong các doanh nghiệp có VĐTNN là 1,2 triệu/đ/tháng. Tuy nhiên, còn nhiều doanh
nghiệp trả lương cho công nhân trong thời gian thử việc thấp hơn mức lương tối thiểu.
Các doanh nghiệp thực hiện trả lương thời gian theo sự thỏa thuận với người lao
động, một số doanh nghiệp thực hiện trả lương theo sản phẩm nhưng cũng còn tình
trạng định mức lao động xây dựng theo công suất máy móc thiết bị hoặc lấy khối lượng
sản phẩm của người có tay nghề để quy định mức chung. Do đó, người lao động không
có tay nghề và tính chuyên cần thì rất khó khăn hoàn thành được mức theo thời gian quy
định. Nói chung, để hoàn thành được định mức người lao động phải làm việc với cường
độ cao, thời gian lao động kéo dài. Một số doanh nghiệp đã tách tiền lương ra làm hai
phần, lương cơ bản và phụ cấp để né tránh đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế. Một
số doanh nghiệp kéo dài thời gian thử việc 2-3 tháng và trả lương thấp.
Mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động: các doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh, mối quan hệ này cơ bản đảm bảo tốt. Tuy nhiên, cá biệt còn một số
doanh nghiệp vẫn xảy ra tình trạng va chạm, xô xát thậm chí vi phạm nhân phẩm của
người lao động. Nguyên nhân chủ yếu một mặt là số nhà đầu tư cố tình vi phạm pháp
luật, mặt khác người sử dụng lao động và người lao động ở nhiều nguồn, nhiều địa
phương, nhiều quốc gia trình độ văn hóa, nhận thức pháp luật, phong cách sinh hoạt,
phong tục tập quán khác nhau nên xảy ra những bất đồng.
Nhìn chung, mức sống và đời sống văn hóa tinh thần của CNLĐ còn thấp, còn
rất nhiều khó khăn so với yêu cầu, có nhiều bức xúc mà họ phải chấp nhận (dẫu sao
mức lao động công nghiệp vẫn cao hơn lao động nông nghiệp). Song, trong thực tế thì

đương (chi bộ Công đoàn KCN có 3 đảng viên, chi bộ Công đoàn huyện Long Thành có
15 đảng viên và Chi bộ Công đoàn huyện Nhơn Trạch có 12 đảng viên). Có 2 doanh
nghiệp đã thành lập chi bộ nhưng còn một số đảng viên chưa chuyển về như: Chi bộ

Công ty trách nhiệm hữu hạn Bourbon Đồng Nai 2 đảng viên, chi bộ Công ty
Kaekwang Vina 10 đảng viên. Số đảng viên này chủ yếu là đảng viên ở bộ, ngành
chuyển sang liên doanh, tuy cấp ủy đã yêu cầu chuyển sinh hoạt đảng về doanh nghiệp
để thành lập tổ chức đảng hoặc tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng ở nơi đó, nhưng
những đảng viên này viện nhiều lý do để chưa chuyển sinh hoạt đảng về doanh nghiệp
(như ở Công ty phát triển KCN Loteco). Có doanh nghiệp còn đối phó không bố trí đủ
số lượng đảng viên, không tạo điều kiện để chi bộ hoạt động hoặc điều bớt đảng viên đi
nơi khác để không đủ số lượng đảng viên để thành lập chi bộ. Tình hình đó đã gây
không ít khó khăn cho việc thành lập và hoạt động của tổ chức đảng trong các DNNQD,
làm ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị về tăng cường
công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong DNNQD trên địa bàn.
Từ thực tế nêu trên cho thấy, tổ chức đảng mới chỉ được thành lập ở một phần
nhỏ các DNNQD, còn một bộ phận rất lớn (95,5%) DNNQD chưa có đảng viên và tổ
chức đảng. Mặc dù các Tỉnh ủy đã giao nhiệm vụ cho các Huyện ủy, Thành ủy, Đảng
ủy trực thuộc tích cực thành lập tổ chức đảng trong các DNNQD, nhưng đến nay kết
quả thực hiện chưa đạt yêu cầu. Một số huyện có nhiều KCN, thu hút nhiều lao động,
hình thành được nhiều tổ chức công đoàn với số đoàn viên khá lớn, nhưng chưa làm tốt
công tác tạo nguồn, phát triển đảng viên để thành lập tổ chức đảng.
Tuy các tổ chức đảng trong DNNQD đã được thành lập ở Đồng Nai và Bình
Dương có số lượng đảng viên tương đối cao so khu vực nói riêng và cả nước nói chung,
song vẫn còn khiêm tốn. Số lượng đảng viên phân bố không đều trong các loại hình
doanh nghiệp. Đảng bộ, chi bộ có số lượng đảng viên đông thường là doanh nghiệp cổ
phần có vốn nhà nước như: Công ty cổ phần May Đồng Nai (88 đảng viên), Công ty cổ
phần Tấm lợp và vật liệu xây dựng (74 đảng viên), Công ty Cổ phần đường Biên Hòa
(84 đảng viên), Công ty cổ phần Bánh kẹo Biên Hòa (50 đảng viên), Công ty cổ phần
Hưng Thịnh (13 đảng viên). Phần lớn số đảng viên này là từ tổ chức đảng trong doanh

đồng quản trị và ban giám đốc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước, nhất là các quy định trong Luật Doanh nghiệp, giấy phép đầu
tư và hợp đồng, thỏa ước lao động. Nhiều chi bộ, đảng bộ đã đoàn kết, động viên đảng
viên và các thành viên trong doanh nghiệp phấn đấu vì mục tiêu chung là thực hiện có
hiệu quả nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; chủ động ngăn ngừa, khắc

phục những biểu hiện vi phạm pháp luật trong sản xuất, kinh doanh, làm thiệt hại đến
lợi ích của Nhà nước, chủ doanh nghiệp, quyền lợi hợp pháp và nhân phẩm của người
lao động; thực hiện tốt nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước; giữ vững an ninh trật tự, an toàn
lao động, phòng cháy; tạo cho người lao động có việc làm ổn định, đời sống vật chất và
tinh thần được cải thiện, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp ổn định, phát triển trong thời
gian qua trên địa bàn tỉnh.
- Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, người lao động
luôn được các cấp ủy coi trọng không chỉ về nội dung mà cả hình thức đa dạng, phù hợp
với đặc điểm, điều kiện của doanh nghiệp như: lồng ghép vào các buổi sinh hoạt, qua hệ
thống truyền thanh của doanh nghiệp, chủ động bàn với nhà đầu tư mời báo cáo viên,
tuyên truyền viên xuống tại doanh nghiệp phổ biến các chủ trương, nghị quyết của đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chính nhờ sự vận dụng và làm tốt công tác này đã
góp phần đáng kể vào việc nâng cao nhận thức chính trị, ý thức chấp hành pháp luật của
Nhà nước, nội quy của doanh nghiệp; đề cao cảnh giác cách mạng, chống "diễn biến
hòa bình"; xây dựng tình đoàn kết, hợp tác; hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh; hạn chế được các vụ tranh chấp, đình công, lãn công, đòi hỏi kiến nghị không
chính đáng của người lao động.
- Công tác tổ chức, cán bộ trong từng doanh nghiệp được các cấp ủy đặc biệt
quan tâm. Sau khi thành lập hoặc chuyển hình thức tổ chức hoặc qua các kỳ đại hội, các
cấp ủy đều được củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ. Đa số cán bộ đều có quan điểm
chính trị rõ ràng, phẩm chất đạo đức tốt, phong cách làm việc khoa học, có ý thức trách
nhiệm, năng động sáng tạo, biết tập hợp khai thác trí tuệ của tập thể, có tính đảng được
quần chúng và nhà đầu tư tín nhiệm. Kỳ đại hội ở cơ sở vừa qua, các chi, đảng bộ trong
các DNNQD ở Đồng Nai và Bình Dương đã bầu được 142 ủy viên, trong đó cấp ủy viên

hỏi động viên. Có cấp ủy, chi bộ lãnh đạo Ban chấp hành công đoàn chủ động thương
lượng với nhà đầu tư ký kết thỏa ước lao động tập thể trong doanh nghiệp, thỏa ước quy
định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động, đồng thời quy định
hoạt động của tổ chức đảng và các đoàn thể trong doanh nghiệp. Nhờ sự lãnh đạo của tổ
chức đảng, nhiều đoàn thể trong DNNQD ở Đồng Nai và Bình Dương hoạt động khá
tốt, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, nhà đầu tư
và Nhà nước; dân chủ cơ sở được phát huy; nhiều phong trào thi đua, công tác xã hội

Trích đoạn Cụ thể hóa tiêu chuẩn, điều kiện kết nạp đảng viên trong công nhân các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở các tỉnh Bình Dương, Đồng Na Xây dựng kế hoạch phát triển đảng viên trong công nhân phù hợp các loại hình DNNQD ở các tỉnh Bình Dương, Đồng Na Xây dựng và thực hiện đúng qui trình phát triển đảng viên Đối với Công đoàn Đối với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status