CHUYÊN ĐỀ:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH KHẮC PHỤC LỖI
TRONG PHÂN MÔN CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH KHỐI 2,3”
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình dạy môn Tiếng Việt, nhiệm vụ của GV Tiểu học là hình
thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Phân môn Chính tả
có nhiệm vụ rèn kĩ năng nghe, viết, đọc. Qua chữ viết đúng, đẹp GV bồi dưỡng
tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng
Việt cho HS
Phân môn Chính tả trong nhà trường có nhiệm vụ giúp HS nắm vững các
qui tắc chính tả và hình thành kĩ năng chính tả. Ngoài ra, nó còn rèn cho học sinh
một số phẩm chất như tính cẩn thận, óc thẩm mĩ.
Ngoài việc nắm vững vị trí, nhiệm vụ, tính chất, nội dung, chương trình,
phương pháp giảng dạy phù hợp, GV còn phải nắm vững các nguyên tắc dạy
chính tả Tiếng Việt.
Dạy chính tả theo khu vực phải xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi chính
tả của học sinh ở từng khu vực, từng vùng miền để hình thành nội dung giảng dạy
khi xác định được trọng điểm chính tả cần dạy cho HS ở từng khu vực, từng địa
phương. Như vậy, trước khi dạy, GV cần tiến hành điều tra cơ bản để nắm lỗi
chính tả phổ biến của HS từ đó lựa chọn nội dung giảng dạy thích hợp với đối
tượng HS lớp mình dạy.
Qua thực tế điều tra qua các bài viết của học sinh khối 2,3 tôi nhận thấy học
sinh viết chữ sai lỗi nhiều, tỉ lệ học sinh yếu đối với phân môn chính tả giữa kì II
là 41,7% . Vì vậy tôi quyết định phối hợp với tổ 2,3 xây dựng chuyên đề “MỘT
SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH KHẮC PHỤC LỖI TRONG PHÂN MÔN
CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH KHỐI 2,3” với mục đích đề xuất một số biện pháp
nhằm nâng cao chất lượng phân môn chính tả trong môn Tiếng Việt của khối 2,3.
II/ THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT Ở LỚP 3
1. THƯC TRẠNG CHUNG :
Trường TH Đinh Trang Hòa 2 là một khu kinh tế mới, nơi tập trung dân cư của
rất nhiều vùng miền trong cả nước sinh sống ( miền Bắc, miền Trung, miền Nam
Tính chất nổi bật của phân môn Chính tả là thực hành bởi vì chỉ có thể hình
thành các kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh thông qua thực hành, luyện tập. Điều đó
cho thấy kĩ năng viết của các em còn hạn chế làm ảnh hưởng tới kết quả học tập
ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác.
- Học sinh viết sai chính tả chủ yếu do các em bị mất căn bản từ lớp dưới, chưa
nắm vững âm vần, chưa phân biệt được cách phát âm của GV, chưa hiểu rõ nghĩa
của từ, chưa có ý thức tự học, tự rèn ở nhà, chưa chú ý khi viết chính tả.
Học sinh viết sai chính tả do một số lỗi sau :
- Lỗi do vô ý, chưa cẩn thận (như thiếu dấu phụ, thiếu dấu thanh,… )
- Lỗi về các vần khó ( uênh, oang, oeo, uyên, uyêt…)
- Lỗi do không hiểu nghĩa của từ ( để dành - tranh giành
- Lỗi do không nắm được qui tắc chính tả ( gh, ngh chỉ đứng trước i, e, ê. Cách
ghi âm đệm )
- Lỗi phát âm do sai phương ngữ ( l-n, s-x, tr –ch, ăn- ăng, hỏi-ngã,…)
Qua thống kê các loại lỗi, học sinh thường mắc phải các loại lỗi sau:
a/ Về thanh điệu: Học sinh không phân biệt được hai thanh hỏi, ngã
Ví dụ: sữa chửa , suy nghỉ…
b/ Về âm đầu
Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ g / gh: đua ge
+ ng / ngh : củ ngệ
+ c / k: cây céo
+ ch / tr: con chăn
+ s / x: chim xẻ
+ ……
Qua thực tế các lỗi về ch/ tr; s/ x; r/ g ; v/d/ gi , l/n là phổ biến hơn cả
c/Về âm chính:
Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây:
Việc chấm bài của học sinh thực hiện thường xuyên, song việc liệt kê lỗi và
yêu cầu học sinh sửa lỗi giáo viên chưa thực sự quan tâm .
III- BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ:
1.Biện pháp chung:
Để việc dạy học chính tả đạt hiệu quả ngay từ khi các em mới bắt đầu “làm
quen” với Tiếng Việt giáo viên cần hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc
chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ….tránh trường hợp học
sinh vì thiếu hiểu biết dẫn đến sai sót.
Ngay từ khi mới nhận lớp, giáo viên cần có kế hoạch điều tra kĩ năng đọc,
viết của học sinh lập biểu theo dõi, phân loại học sinh ngay từ đầu để có những
biện pháp phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Để dạy tốt người giáo viên cần phải không ngừng học hỏi, tự tìm hiểu, nghiên
cứu để nâng cao trình độ, tay nghề, có kiến thức cơ bản về ngữ âm học, từ vựng
học, ngữ nghĩa học… có liên quan đến chính tả.
Nắm vững phương pháp đặc trưng của phân môn chính tả. Kết hợp linh hoạt
các phương pháp giảng dạy sao cho sát hợp với đối tượng học sinh của lớp mình.
2. Biện pháp cụ thể:
1/ Luyện phát âm đúng
Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước hết giáo viên phải chú ý luyện phát
âm cho mình và cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm
cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với
nhau. Do đó có đọc đúng và ghi nhớ âm đúng thì khi giáo viên đọc, học sinh sẽ
tái hiện và viết đúng. Giáo viên phải cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải
mới có thể giúp học sinh viết đúng.
2/ Phân tích so sánh
Với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so
sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh
ghi nhớ.
đầu bằng s : si, sồi, sả, sứ, sắn, sung, sao, sim, su su, sầu đâu, sơn trà, sậy,
sấu, sến, sam, sán, sầu riêng, so đũa…sáo, sâu, sên, sam, sán, sếu, sò, sóc,
sói, sứa, sáo sậu, sư tử,..
• * Để phân biệt âm đầu tr/ ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con
vật đều bắt đầu bằng ch: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum,
chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng… chuột, chó, chí, chồn, chuồn chuồn, chào
mào, châu chấu, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi,…
• * Luật bổng - trầm ( luật hỏi- ngã trong từ láy )
• Đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng,
ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã. Nếu yếu tố đứng trước mang
thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược
lại )
• Ví dụ: Bổng
• Ngang + hỏi : vui vẻ, trong trẻo,…
• Sắc + hỏi : mát mẻ, vất vả,…
• Hỏi + hỏi : lỏng lẻo, thủ thỉ,…
• Trầm:
Huyền + ngã : sẵn sàng, vững vàng
• Nặng + ngã : mạnh mẽ, vội vã,…
• Ngã + ngã : nhõng nhẽo, dễ dãi,…
5/ Làm các bài tập chính tả
Giáo viên có thể đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học
sinh tập tận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn
cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp các em rút ra các qui tắc chính tả để
ghi nhớ. Trong quá trình dạy các bài tấp chính tả âm vần, giáo viên cần có sự
lựa chọn bài tập phù hợp với đa số đối tượng học sinh của lớp và cá biệt đối với
các nhóm đối tượng học sinh của lớp.
5.1- Bài tập trắc nghiệm
Khoanh tròn chữ cái trước từ ngữ viết đúng :
a- căn dặn
khuôn
sóng
luống
muốn
suôn
mẫu
5.4- Bài tập lựa chọn
* Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:
Chị Tư đang…………xe đạp (sửa, sữa )
Đôi………này đế rất………. (dày, giày)
Em thích nghe kể…………hơn đọc……… ( truyện, chuyện )
5.5- Bài tập phát hiện
+ Tìm từ sai chính tả trong câu sau và sửa lại cho đúng:
Đàn xếu đang sải cánh trên cao
Quê hương là con dìu biếc
Hồ về thu, nước chong vắt, mênh mông
5.6- Bài tập điền khuyết
Điền vào chỗ trống cho phù hợp
d, r hoặc gi : …án cá, ….ễ….ãi, đêm….ao thừa, xếp hàng….ọc
s hoặc x :….ôn….ao,….a….ôi,….ung phong, đơn….ơ
ươn hoặc ương : s……mù, v……rau,cá…………..,vấn v…………
ât hoặc âc : gió b….., thứ nh……,quả g…..,m…….ong, ph….. cờ
5.7- Bài tập tìm từ
Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý từ
đồng âm, từ trái nghĩa:
* Tìm các từ chứa có vần “ ươt ” hoặc “ ươc ”có nghĩa như sau:
Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ: ………
Thi không đỗ : …………
học sinh để đôn đốc hướng dẫn và biết được những bài làm sai để tổ chức cho
học sinh nhận xét và sửa chữa. Đối với dạng bài tập không chỉ có đáp án đúng
duy nhất, giáo viên tổ chức cho học sinh luyện tập dưới hình thức trò chơi hoặc
thảo luận nhóm thì hiệu quả và việc chữa bài tối ưu hơn cả. Giáo viên tổ chức cho
học sinh nhận xét góp ý bài của bạn, chỉ ra được lỗi để cùng chữa. Trường hợp
nếu học sinh không phát hiện ra lỗi, giáo viên gợi ý để học sinh nhận ra và chữa
lỗi. Khi đánh giá, ngoài việc chấm bài cho học sinh, giáo viên nên tổ chức cho
học sinh tự chấm bài hoặc chấm bài cho bạn dựa vào đáp án đúng và hướng dẫn
chấm của giáo viên. Qua mỗi bài tập giáo viên tổng kết ý kiến và chốt lại nội
dung kiến thức cần ghi nhớ và kỹ năng cần rèn luyện.
- Giáo viên nên tuyên dương, khen thưởng động viên kịp thời tạo hứng thú cho
các em say mê học tập.
-Trong quá trình dạy học, giáo viên cũng cần tổ chức các hình thức tổ chức dạy
học linh hoạt, phát huy năng lực của học sinh.
Tóm lại:Việc phát hiện lỗi chính tả, thống kê, tìm nguyên nhân mắc lỗi, từ đó
đưa ra các biện pháp khắc phục là rất cần thiết không thể thiếu trong quá trình
dạy học Tiếng Việt. Nhưng không phải chỉ đưa ra các biện pháp khắc phục là có
thể thực hiện một cách có hiệu quả. Sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là cả một
quá trình lâu dài, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, bền bỉ, không đựơc nôn
nóng. Bởi vì có những học sinh tiến bộ ngay trong vài tuần nhưng cũng có những
học sinh sự tiến bộ diễn ra rất chậm, không phải vài tuần, có khi vài tháng, thậm
chí cả một học kỳ. Nếu giáo viên không biết hướng dẫn, chờ đợi thì kết quả sẽ
không cao.
Phải dùng nhiều hình thức rèn luyện, khen thưởng và động viên học sinh kịp
thời. Hạn chế không nên trách phạt, chê các em trước lớp làm cho các em có mặc
cảm và bạn bè có ấn tượng không tốt về các em. Bên cạnh đó giáo viên phải
khích lệ, động viên học sinh phải kiên trì, chăm chỉ rèn luyện mới đạt được kết
quả tốt.
1 HS lên bảng làm bài tập sau:
Chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc để điền vào chỗ chấm:
Quê em đồng lúa ……dâu ( lương, nương)
Bên …… sông nhỏ nhòp cầu bắc qua ( dòng, giòng)
Gọi HS nhận xét, gv chữa bài.
3. Bài mới : Gt bài , ghi đề , nhắc lại đề .
GIÁO VIÊN
* HĐ1 : Tìm hiểu ND và viết đúng từ khó .
Mục tiêu: Hs nắm được nội dung bài và viết viết đúng từ khó có
trong bài .
a. Trao đổi về nội dung bài viết
+ GV đọc bài thơ 1 lần
H : Những câu thơ nào nói lên tác dụng của hạt mưa ?
+ Hạt mưa ủ trong vườn
Thành mỡ màu của đất
Hạt mưa trang mặt nước
Làm gương cho trăng soi
b. HD cách trình bày
H. Bài thơ có mấy khổ ? Cách trình bày như thế nào cho đẹp ?
+ Các dòng thơ được trình bày như thế nào ?
+ Mỗi dòng thơ gồm mấy chữ.
+Nêu cách trình bày bài thơ.
c. HD viết từ khó
HỌC SINH
+ Theo dõi GV đọc
+ Trả lời
H: Em có nhận xét gì về các chữ vừa viết trên?
GV chốt ý, liên hệ cho HS.
b. Tiến hành tương tự phần a
GV đọc từng câu, HS viết từ vừa tìm được ra bảng con.
GV nhận xét, chữa bài:
-Màu của cánh đồng lúa chín: vàng
-Cây cùng học với cau, lá to, quả chứa nước ngọt, có cùi: dừa
-Loài thú lớn ở rừng nhiệt đới, có vòi và ngà: voi
HS đọc lướt tìm các
từ khó viết.
2 HS lên bảng viết,
lớp viết bảng con.
+ HS tự viết
+HS tự soát lỗi.
+ HS nộp vở
+ 1 em đọc YC trong
SGK
+ HS làm bài trên
bảng nhóm.
+ Trình bày kết quả.
+ Nhận xét kết quả.
Đều viết chữ cái đầu
của mỗi tiếng.
Làm bài vào bảng
con.
4. Củng cố - dặn dò
+ Nhận xét tiết học . Dặn dò HS về nhà học bài và chuẩn bò bài mới .
GIÁO VIÊN
* HĐ1 : Tìm hiểu ND bài và viết đúng từ khó (7’) .
Mục tiêu: HS hiểu nội dung bài và viết đúng từ khó có trong bài
.
a. Tìm hiểu nội dung bài viết
+ GV đọc đọan văn 1 lần
H :Ngôi nhà chung của mọi dân tộc là gì ?
+ Ngôi nhà chung của mọi dân tộc là Trái Đất
H: Những việc chung mà tất cả mọi dân tộc phải làm gì ?
HỌC SINH
+ Theo dõi GV đọc , 1
em đọc lại
.
+ Là bảo vệ hòa bình , bảo vệ môi trường , đấu tranh chống
nghèo đói , bệnh tật .
b. HD cách trình bày
H. Đọan văn có mấy câu ?
H. Những chữ nào trong đọan văn phải viết hoa ? Vì sao ?
+ Những chữ đầu câu : Trên , Mỗi , Nhưng , Đó .
c. HD viết từ khó
+ YC HS tìm các từ khó , dễ lẫn khi viết chính tả .
+ GV đọc cho HS viết
+ Tập quán riêng , đấu tranh , hàng nghìn , đói nghèo .
+ Chỉnh sửa lỗi chính tả cho HS , cho HS đọc đồng thanh các từ
khó.
HĐ2 :Thực hành viết chính tả (20’)
2 em viết bảng lớp .
+HS viết bài
+HS sửa lỗi
+ Dưới lớp đổi vở
chấm
+ 1 em đọc YC trong
SGK
+ 1HS đọc
+ HS ttheo dõi
+ Dưới lớp làm VBT
+ 1 em đọc YC trong
SGK
+ HS viết bài vào vở
+ Đọc và viết :
+Y/c HS đổi vở sửa bài.
4. Củng cố - dặn dò :
+ Nhận xét tiết học . Dặn dò HS về nhà làm bài và chuẩn bò bài sau
+ Nhắc học sinh viết lại các chữ viết sai chính tả, mỗi chữ 1 dòng.