I- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở pháp lí
Tầm quan trọng của Cơ sở vật chất - Thiết bị dạy học (CSVC-TBDH) ở cơ sở
giáo dục nói chung, ở trường THPT nói riêng được khẳng định từ: Văn kiện Đại Hội
Đảng toàn quốc, đến các văn bản của Quốc hội, Chính phủ và Bộ giáo dục – đào tạo
như: Quyết định số 27/2001/QQĐ-BGD ĐT, ngày 5/7/2001 về quy chế công nhận
trường chuẩn; Quyết định 07/2007/QĐ-BGD ĐT ban hành điều lệ trường phổ thông;
Công văn 4381/BGD ĐT-CSVCTBDH, ngày 6/7/2011…Đã khẳng định CSVS –
TBDH là phương tiện lao động của các nhà giáo và học sinh, là một trong các điều
kiện thiết yếu để tiến hành quá trình dạy học – giáo dục trong nhà trường, thiếu điều
kiện này thì quá trình đó diễn ra ở dạng không thể hoàn thiện.
Theo Điều 3, Luật giáo dục: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo
nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền
với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.”
Nghị quyết 40/2000/QH10, ngày 9/12/2000 của Quốc Hội khoá X đã nêu “Đổi
mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải được thực
hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học…”.
Nghị quyết số 29-NQ/TW về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế”, trong đó khẳng định đổi mới
công tác quản lí CSVC-TBDH là yêu cầu cần thiết, góp phần quan trọng cho cả quá
trình đổi mới.
2. Cơ sở lí luận
Hiện nay chúng ta đang tiến hành đổi mới giáo dục, CSVC-TBDH là tiền đề
quan trọng của việc thực hiện phương pháp dạy học mới, nó là cầu nối giữa lí thuyết
và thực tiễn, giữa học và hành, là thành tố quan trọng đảm bảo phương pháp, chất
lượng dạy học, bởi vì không thể nói đến giáo dục toàn diện một khi không có trang bị
tương đối cơ bản về CSVC –TBDH cho các trường học.
3. Cơ sở thực tiễn
Ở trường THPT Nguyễn Văn Thiệt, CSVC-TBDH tuy đã được quan tâm đầu
tư, nâng cấp, bổ sung hàng năm nhưng vẫn chưa thực sự đảm bảo được yêu cầu nhà
đội ngũ cán bộ, giáo viên có trình độ đạt chuẩn 100% và trên chuẩn là 06. Số học sinh
toàn trường là 697 học sinh.
Cơ sở vật chất trường hiện nay có 17 phòng học, 03 phòng học bộ môn và 02
phòng vi tính. Nguồn tài chính đảm bảo cho nhà trường hoạt động gồm: Từ nguồn
ngân sách cấp như lương, phụ cấp theo lương; được quản lí đúng theo quy định của
Nhà nước về quản lí tài chính, đảm bảo chi trả đẩy đủ, kịp thời hàng tháng cho người
lao động. Nguồn kinh phí từ nguồn thu học phí: được thu đúng, đủ và đảm bảo nguyên
tắc tài chính. 40% đăng nạp về Sở để cải cách tiền lương, 60% còn lại chi hỗ trợ cho
công tác chuyên môn và chi cho dạy và học. Nguồn kinh phí thu hợp pháp khác từ
nguồn xã hội hóa được nhà trường thu đúng, đủ và sử dụng đúng mục đích góp phần
hỗ trợ các hoạt động dạy và học, các hoạt động khác.
Trong những năm học vừa qua, nhà trường đã triển khai đầy đủ, có chất lượng
các hoạt động của ngành, nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội. Với truyền thống
22 năm xây dựng và phát triển, nhà trường nhiều năm liền đạt danh hiệu trường tiên
tiến. Riêng năm học 2012-2013, Trường đạt danh hiệu Tập thể lao động Xuất sắc và
nhận Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
6.2 Thực trạng quản lí và sử dụng CSVC – TBDH ở trường THPT Nguyễn
Văn Thiệt
Công tác quản lí tài sản và các trang thiết bị dạy học rất được Hiệu trưởng quan
tâm, hàng năm đều được lên kế hoạch mua sắm, bổ sung, sửa chữa để đáp ứng yêu cầu
dạy và học. Trong công tác quản lí có lập hệ thống sổ sách, ghi chép theo dõi. Tuy
nhiên do nhiều năm liên tục, nhà trường khuyết một Phó Hiệu trưởng, nên công việc
của hai thành viên trong Ban giám hiệu tương đối nhiều và nặng, dẫn đến việc tập
trung kiểm tra sâu sát công tác bảo quản, sử dụng các tài sản, trang thiết bị cũng gặp
nhiều khó khăn, hạn chế nhất định. Khi Sở Giáo dục và đào tạo đã bổ nhiệm thêm một
Phó Hiệu trưởng; đồng chí này được Hiệu trưởng phân công phụ trách công tác hành
chính, phong trào, cơ sở vật chất. Hiện nay, công tác quản lí cơ sở vật chất đã có một
lãnh đạo phụ trách, bước đầu đi vào chiều sâu, tuy nhiên hiệu quả vẫn ở mức tương
đối, chưa đạt yêu cầu của Hiệu trưởng đặt ra. Nguyên nhân do công việc còn mới, bản
thân cán bộ ít kinh nghiệm, chưa được tham dự lớp bồi dưỡng kiến thức dành cho cán
01
01
01
01
03
04
02
01
01
59
03
01
01
03
02
02
03
01
02 bộ súng, 01 bộ lựu đạn, 03 bộ tranh
Bóng chuyền 25; bóng đá 25; vợt cầu
lông 40;cầu đá 20
TT
DANH MỤC
1
2
3
4
Thư viện
Phòng giám hiệu
Văn phòng
Phòng Truyền thống – công đoàn
Phòng Đoàn thanh niên
Phòng Kế toán + Y tế
Kho thiết bị
Nhà vệ sinh
Nhà để xe
Nhà bảo vệ
Hội trường
Máy tính để bàn
Máy tính xách tay
Sân bóng đá
Sân tập, đường chạy thể dục
Ti vi
Máy hát đĩa
Đầu video
Máy chiếu
Máy Phô tô
Thiết bị quốc phòng
27
Thiết bị thể dục
28
Thiết bị điện
Công tác bồi dưỡng kỹ năng sử dụng TBDH hàng năm còn ít, giáo viên trẻ còn
thiếu kinh nghiệm.
Công tác chỉ đạo, quản lí ở các tổ nhóm chuyên môn có lúc chưa thật chặt chẽ,
chưa động viên được giáo viên tự làm đồ dùng dạy học.
6.4 Một số vấn đề rút ra trong quản lí và sử dụng CSVC - TBDH:
Từ thực trạng trên một số vấn đề đặt ra trong quản lí, sử dụng CSVC – TBDH ở
trường là:
- Cần thiết phải nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp,
kỹ năng sử dụng cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trong quản lí, khai thác,
bảo quản CSVC – TBDH.
- Phải có sự chỉ đạo, phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận: Ban giám hiệu, tổ
chuyên môn, tổ hành chính – văn phòng, giáo viên và học sinh trong quản lí và sử
dụng CSVC – TBDH.
- Nâng cao năng lực chuyên môn cho môn cán bộ, nhân viên chuyên trách các
phòng thực hành thí nghiệm, thư viện.
- Phó Hiệu trưởng được phân công trực tiếp chỉ đạo, quản lí phải thường xuyên
kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn, động viên giáo viên – nhân viên thực hiện nghiêm túc và
tuyên dương những người làm tốt công tác bảo quản, sử dụng CSVC – TBDH.
7. Mục đích khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
- Quản lí và xây dựng hoàn chỉnh hệ thống CSVC-TBDH để đáp ứng mục tiêu
dạy học và các hoạt động giáo dục của nhà trường.
- Nâng cao nhận thức về bảo quản, sử dụng các trang thiết bị một cách có hiệu
quả.
- Hạn chế tối đa những hư hỏng, mất mát.
Trong phạm vi bài sáng kiến kinh nghiệm này, bên cạnh công tác quản lí tài sản
nói chung, bản thân tôi xin được tập trung quan tâm và đi sâu hơn vào nội dung quản lí
các thiết bị dạy học, các thiết bị thường xuyên tác động trực tiếp đến hoạt động giảng
dạy và giáo dục.
Chính vì những lí do trên nên tôi chọn chủ đề áp dụng để viết sáng kiến kinh
nghiệm là “Một số giải pháp đổi mới công tác quản lí cơ sở vật chất, thiết bị dạy học”
đánh giá công tác quản lí TBDH nhà trường tổ chức.
- Đưa nội dung quản lí TBDH vào kế hoạch năm học để dựa vào đó các tổ
chuyên môn cùng GV xây dựng kế hoạch của tổ, kế hoạch cá nhân trong đó yêu cầu
thể hiện rõ kế hoạch làm, sử dụng và bảo quản TBDH; thống nhất chỉ đạo thay đổi
cách trao đổi, rút kinh nghiệm và đánh giá giờ dạy của giáo viên (từ chỗ quan tâm đến
việc chuyển tải và truyền đạt nội dung dạy học đến học sinh sang việc chú trọng nhận
xét đánh giá các phương pháp, kỹ năng sử dụng và khai thác TBDH) để giúp HS biết
cách tiếp cận và tìm ra nội dung kiến thức cần chiếm lĩnh.
+ Việc xây dựng kế hoạch quản lí trang bị và tái trang bị TBDH phải được
triển khai trước khi bước vào năm học (khoảng tháng 7); xây dựng kế hoạch QL sử
dụng, bảo quản TBDH phải được tiến hành từ tháng 8 . Có như vậy mới đảm bảo
cung ứng kịp thời TBDH cho việc giảng dạy của GV.
+ Việc chỉ đạo thực hiện các kế hoạch quản lí trang thiết bị, sử dụng, bảo quản
phải được tiến hành đồng bộ và tuân thủ theo đúng nguyên tắc.
+ Việc kiểm tra đánh giá thực hiện kế hoạch phải được tiến hành thường xuyên,
định kì, đột xuất. Sau khi kiểm tra đánh giá phải có đúc rút kinh nghiệm.
+ Việc thi đua làm TBDH phải được phổ biến từ đầu năm học và phải có tổng
kết đánh giá, trao thưởng cuối năm học.
- Tuyên truyền vai trò của TBDH và quản lí TBDH đến HS để nêu cao tinh
thần tự giác tham gia quản lí TBDH.
+ Phối hợp với GVCN thông qua các tiết sinh hoạt đưa nội dung tuyên truyền
phổ biến đến HS.
+ Phối hợp với Đoàn thanh niên tổ chức các chương trình ngoại khoá về nội
dung tuyên truyền như như các nội dung trò chơi hóa học, học vui – vui học... giúp các
em thấy TBDH gần gũi và giúp học tập thật nhẹ nhàng, hiệu quả.
+ Phối hợp với GV bộ môn khuyến khích động viên học sinh tham gia làm
TBDH và bảo quản TBDH.
5
+ Bộ phận quản lí việc sử dụng TBDH gồm: Cán bộ phụ trách TBDH, các tổ
trưởng, nhóm trưởng chuyên môn, các GV và HS. Bộ phận này do đồng chí PHT
chuyên môn phụ trách chỉ đạo, điều hành.
+ Bộ phận quản lí việc bảo quản TBDH: có sự phối hợp trách nhiệm của hai bộ
phận trên. Mỗi thành viên trong nhà trường phải chấp hành nghiêm túc những quy
định về việc bảo quản TBDH, đồng thời coi quản lí việc bảo quản TBDH là trách
nhiệm chung của mỗi cá nhân và tập thể trong nhà trường.
Hiệu trưởng chỉ đạo việc thực hiện giữa các bộ phận cần phải có sự phối hợp
chặt chẽ và thống nhất với nhau nhằm phát huy tối đa hiệu quả và tăng tần suất sử
dụng của các TBDH, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường.
2.3. Ðiều kiện thực hiện biện pháp.
- Nhà trường có đủ cán bộ, GV chuyên trách TBDH.
- Phó Hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn tham gia tích cực vào việc sử dụng
và QLTBDH.
3. Giải pháp 3: Đổi mới quản lí công tác trang bị TBDH
3.1. Mục đích của biện pháp
- TBDH trong nhà trường hiện nay hầu như vừa thiếu vừa không đảm bảo chất
lượng và không đồng bộ về cơ cấu chủng loại. Ðể khắc phục tình trạng này thì quản lí
6
việc xây dựng, mua sắm trang bị các TBDH một cách khoa học, hợp lí là rất quan
trọng.
- Mua sắm trang bị TBDH đầy đủ và đồng bộ theo yêu cầu đổi mới nội dung
dạy học.
3.2. Nội dung và cách thực hiện biện pháp.
- Xây dựng kế hoạch trang bị TBDH xuất phát từ nhu cầu của GV.
+ Kết thúc năm học, Phó hiệu trưởng phụ trách CSVC thông qua tổ chuyên
môn yêu cầu GV đề xuất những loại TBDH cần có đối với từng phân môn, từng khối
+ Phối kết hợp với Công đoàn và Đoàn thanh niên phát động phong trào xây
dựng tư liệu dạy học, làm TBDH trong GV và HS nhằm thu hút sự tham gia của
mọi thành viên trong nhà trường giúp tăng cường nguồn TBDH phù hợp.
+ Chỉ đạo xây dựng kế hoạch làm TBDH theo tổ chuyên môn, đến từng cá
nhân GV: mỗi tổ chuyên môn phải có một TBDH tự làm nộp cho nhà trường vào
cuối năm học sau khi đã được đánh giá, bình chọn từ TBDH tự làm của mỗi GV; tổ
chuyên môn chỉ đạo GV trong mỗ i năm học (có thể phố i kế t hợ p vớ i HS) là m
mộ t TBDH (có thể là TBDH truyề n thố n g hoặ c TBDH hiệ n đạ i ); thà n h lậ p ban
kiể m tra, đá n h giá chấ t lượ n g TBDH tự là m và nhân rộ n g đưa và o bổ sung cho
nguồ n TBDH củ a nhà trườ n g.
7
+ Gắn các tiêu chí thi đua cụ thể nhằm động viên, khuyến khích công tác làm
TBDH.
+ Xây dựng các quy ước trong việc làm TBDH; có chế độ khen thưởng kịp thời,
đúng lúc nhằm phát huy được tính tự chủ của GV đối với hoạt động làm TBDH.
- Thực hiện đầy đủ công tác kiểm tra việc tiếp nhận, mua sắm các trang thiết bị.
Xác định những thuận lợi, khó khăn trong việc mua sắm, nếu thấy cần thiết có thể điều
chỉnh kế hoạch cho phù hợp với nguồn kinh phí, nhân sự, nguồn cung cấp.
3.3.Điều kiện thực hiện biện pháp.
- Có sự phối hợp thống nhất giữa mọi thành viên trong nhà trường.
- Phải có các kế hoạch cụ thể, phân công trách nhiệm và kiểm tra đánh giá đối
với từng kế hoạch đề ra.
- Phải tuân thủ đúng các yêu cầu về quản lí tài chính đối với trang bị TBDH.
- Tận dụng tối đa các nguồn vốn cho việc trang bị TBDH.
4. Giải pháp 4: Tăng cường quản lí việc sử dụng TBDH
4.1. Mục đích của biện pháp.
TBDH là một bộ phận quan trọng của CSVC kỹ thuật nhà trường, có ảnh hưởng
8
+ Trách nhiệm của Hiệu trưởng phải triển khai các văn bản hướng dẫn chỉ đạo
về quản lí TBDH của Bộ, Ngành, Sở và của nhà trường cho cán bộ, GV, HS; Phó Hiệu
trưởng chỉ đạo việc sử dụng và bảo quản TBDH.
+ Trách nhiệm của tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn, chỉ đạo triển khai việc
sử dụng TBDH trong GV, HS theo kế hoạch bộ môn đã đề ra. Ðồng thời phải thường
xuyên đôn đốc, nhắc nhở, kiểm tra, đánh giá tình hình sử dụng TBDH của các thành
viên trong tổ, nhóm chuyên môn.
+ Trách nhiệm của nhân viên thiết bị là giúp đỡ GV, HS chuẩn bị TBDH, đồng
thời tổng hợp và báo cáo tình hình sử dụng TBDH của GV và HS.
+ Trách nhiệm của GV là nghiên cứu, khai thác và sử dụng TBDH, hướng dẫn
HS thí nghiệm thực hành theo các quy định, quy chế chuyên môn, nhằm giúp HS
nghiên cứu, khai thác bài học một cách hiệu quả nhất.
+ Trách nhiệm của HS phải chuẩn bị đầy đủ sách, vở, dụng cụ học tập, nghiên
cứu kỹ bài học và các nội dung thí nghiệm thực hành trước khi đến lớp.
+ Tuân thủ các nội quy và nguyên tắc sử dụng TBDH trong quá trình học tập,
trong các phòng bộ môn, phòng thí nghiệm thực hành.
- Chỉ đạo và tổ chức tốt các hoạt động chuyên môn của nhà trường nhằm thúc
đẩy phong trào sử dụng TBDH.
+ Tổ chức thao giảng, dự giờ, thi giáo viên dạy giỏi có sử dụng TBDH như là
một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc đổi mới phương pháp dạy học. Do đặc điểm học
sinh THPT, để nâng cao chất lượng dạy học, ngoài việc sử dụng TBDH của GV thì
việc sử dụng thiết bị thực hành của HS cũng rất quan trọng.
+ Tổ chức sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn đi vào chiều sâu, thực sự có nề nếp
và chất lượng, trong đó cần chú trọng đánh giá tình hình sử dụng các loại TBDH, nhận
xét, rút kinh nghiệm về phương pháp, kỹ năng và hiệu quả sử dụng TBDH trong các
giờ dạy của từng GV để có hướng phát huy và sửa chữa.
Trong các bài kiểm tra của HS phải kiểm tra phần thực hành, làm thí nghiệm
qua đó biết được kĩ năng thực hành và sử dụng TBDH trong quá trình học tập của HS.
- Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các đối tượng quản lí trong nhà
trường.
Phối hợp giữa Ban giám hiệu, cán bộ phụ trách TBDH, tổ nhóm chuyên môn,
giáo viên bộ môn để tổ chức thực hiện quá trình sử dụng TBDH nhằm tạo ra sự thống
nhất đồng bộ trong quản lí, chỉ dạo. Có như vậy việc sử dụng TBDH trong các trường
THPT mới thực sự mang lại hiệu quả thiết thực.
4.3. Ðiều kiện thực hiện biện pháp.
- Kế hoạch cần thực chất, không làm hình thức chiếu lệ.
- Sử dụng TBDH phải đúng mục đích của bài giảng môn học.
- TBDH cần đầy đủ và đồng bộ, tăng cường các loại TBDH hiện đại.
Với các biện pháp trên, Ban giám hiệu có thể phối hợp các biện pháp với nhau
nhằm làm cho công tác quản lí việc sử dụng TBDH của GV đạt hiệu quả cao nhất
trong quá trình dạy học.
5. Giải pháp 5: Quản lí việc bảo quản TBDH ở trường THPT.
5.1. Mục đích của biện pháp
- Trong trường học, bên cạnh việc mua sắm, trang bị và sử dụng TBDH, một
công tác nhất thiết phải kể đến là việc bảo quản TBDH cần phải đúng yêu cầu kĩ thuật
và có chất lượng nhằm đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng TBDH của GV đồng thời
chống thất thoát, lãng phí nguồn kinh phí của nhà nước và nhân dân đóng góp.
- Việc bảo quản TBDH trong nhà trường cần có sự đầu tư về vật chất, công sức
và lòng nhiệt tình đối với công việc của những người có trách nhiệm trong việc sử
dụng và bảo quản, cho nên việc bảo quản TBDH không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ
phụ trách TBDH mà còn là trách nhiệm chung của tất cả thành viên trong nhà trường.
- Một trong những nguyên tắc quan trọng của công tác bảo quản TBDH là phải
biết kết hợp giữa giữ gìn, bảo quản và khai thác sử dụng TBDH một cách thường
xuyên trong quá trình dạy học để phát huy tối đa hiệu quả sử dụng của TBDH trong
việc nâng cao chất lượng dạy học.
5.2. Nội dung và cách thực hiện biện pháp.
+ Xây dựng phòng thiết bị, phòng bộ môn phù hợp, trang bị đầy đủ giá treo
tranh, tủ kính, tủ lưới, giá, kệ,…để cất giữ, bảo quản TBDH.
+ Xây dựng hệ thống phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm, thực hành, bố trí
sắp xếp các phòng khoa học, hợp lí, thì sẽ có điều kiện thu hút GV và HS tích cực
nghiên cứu, sử dụng TBDH, đồng thời góp phần đổi mới PPDH, nhằm nâng cao chất
lượng DH trong nhà trường.
+ Cần bố trí, sắp xếp các TBDH tách rời theo từng môn học, theo tiến trình bộ
môn, ngăn nắp, trật tự, khoa học phù hợp với yêu cầu bảo quản và sử dụng các loại
TBDH. Việc bố trí sắp xếp TBDH theo từng nhóm, phòng học bộ môn, không những
nâng cao chất lượng dạy học mà còn là biện pháp rất quan trọng để phát huy hiệu quả
sử dụng của các loại TBDH đã được trang bị, chấm dứt tình trạng “phủ bụi” các
TBDH. Ðiều đó là một trong những nguyên nhân gây lãng phí ngân sách đầu tư của
Nhà nước và công sức đóng góp của các lực luợng xã hội.
- Thực hiện tốt chế độ bảo quản, sửa chữa định kỳ TBDH.
+ Thực hiện tốt chế độ bảo quản sửa chữa định kỳ và thanh lí các TBDH đã bị
hư hỏng hoặc lạc hậu. Thực hiện tốt việc quản lí hồ sơ, sổ sách theo dõi quản lí
TBDH.
+ Chỉ đạo các bộ phận liên quan lên kế hoạch bảo quản các loại TBDH, thông
báo các nội quy, quy định việc bảo quản của các loại TBDH cho cán bộ, giáo viên và
học sinh biết thực hiện, đồng thời người quản lí cũng biết được tình trạng các loại
TBDH hiện có để có kế hoạch xử lí.
+ Ban giám hiệu cần thường xuyên đôn đốc các bộ phận quản lí TBDH thực
hiện tốt chế độ kiểm tra, bảo quản các loại TBDH, phát hiện kịp thời những thay đổi,
hư hỏng, thiếu hụt của các TBDH, để có kế hoạch bổ sung, sửa chữa thay thế kịp thời,
lập biên bản huỷ những TBDH quá lạc hậu hoặc hỏng nặng để đảm bảo chất luợng các
loại TBDH (những hoá chất phải được huỷ theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật tránh ảnh
hưởng tới môi trường).
+ Các phương tiện như: kệ, tủ, bàn, ghế, giá, móc,… phải được sắp xếp ngăn
nắp, hợp lí, khoa học, không gây ảnh hưởng lẫn nhau, bên cạnh đó cần trang bị đầy đủ
các dụng cụ bảo quản vệ sinh: xô, chậu, khăn lau, quạt, đèn, … các loại hoá chất
6. Giải pháp 6: Tạo động lực cho quản lý việc trang bị, sử dụng, bảo quản TBDH
trong nhà trường.
6.1.Mục đích của biện pháp
Công tác quản lí TBDH là công việc đòi hỏi sự tham gia của mọi thành viên
trong nhà trường; là công việc diễn ra lâu dài, thường xuyên, tốn nhiều thời gian và
công sức do đó hiện nay quản lí TBDH chưa thật sự được nhận thức sâu rộng và quan
tâm triệt để từ các cấp lãnh đạo đến người thực hiện nhiệm vụ tại cơ sở giáo dục. Quản
lí TBDH nếu có môi trường sư phạm thuận lợi sẽ phát huy hiệu quả một cách triệt để
nhưng nếu môi trường sư phạm không thuận lợi thì sẽ không thực hiện được nhiệm vụ
của mình. Chính vì vậy, chú trọng động lực thúc đẩy quản lí TBDH trong nhà trường
THPT trong giai đoạn hiện nay là thật sự cần thiết, sẽ góp phần nhắc nhở, động viên
mọi thành viên trong nhà trường thường xuyên, liên tục làm cho công tác quản lí
TBDH sẽ dần đi sâu vào trong suy nghĩ và hành động của mọi người, giúp công tác
quản lí TBDH trở thành nhu cầu tất yếu cần phải có đối với mỗi thành viên tham gia
hoạt động sư phạm trong trường.
6.2. Nội dung và cách thực thực hiện biện pháp
- CBQL là tấm gương trong công tác quản lí TBDH. Công tác quản lí TBDH
trong nhà trường hoạt động có hiệu quả cao hay không phụ thuộc nhiều vào sự quan
tâm, lòng nhiệt tình, trình độ quản lí của CBQL, trình độ chuyên môn của NVTB và
GV... đặc biệt là người CBQL. Vì vậy CBQL đối với công tác quản lí TBDH cần phải:
+ Quan tâm sát sao đến mọi hoạt động của quản lí TBDH.
+ Luôn đi đầu và hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lí TBDH theo sự phân công
trách nhiệm.
+ Có khả năng thu hút mọi thành viên trong nhà trường ủng hộ cùng tham gia
quản lí TBDH
12
+ Có khả năng kêu gọi tinh thần, ý thức cá nhân tự giác tham gia quản lí TBDH
+ Kiểm tra đôn đốc GV tự làm, bảo quản TBDH.
+ Kiểm tra và đánh giá GV, HS sử dụng TBDH. Cần có những động viên,
khuyến khích kịp thời.
+ Kiểm tra chế độ bảo dưỡng và kiểm kê theo định kỳ. Phát huy mặt tốt, ngăn
chặn những tiêu cực và lãng phí.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho GV, HS tham gia sử dụng TBDH.
+ Cho GV được tiếp cận nhiều với các TBDH đặc biệt là TBDH hiện đại, kích
thích sự đam mê, tìm tòi để họ năng động sáng tạo và chú ý sử dụng TBDH từ đó hình
thành cho họ thói quen sử dụng TBDH từ trong suy nghĩ cũng như hành động.
+ Phát huy vai trò trách nhiệm và ý thức tự giác, tinh thần phối hợp công tác
của NVTB, GV, HS trong sử dụng và bảo quản TBDH.
+ Tăng cường và phát huy mọi nguồn lực bổ sung TBDH cho nhà trường, phối
hợp sử dụng TBDH trong mọi hoạt động ngoại khóa, chuyên đề, hội thảo, hội nghị để
tăng cường hiểu biết, nhận thức của thành viên trong nhà trường.
6.3. Điều kiện thực hiện biện pháp
- CBQL là người nắm vững nguyên tắc quản lí, có lòng nhiệt tình, tâm huyết
với công việc.
13
- Xây dựng kế khoạch và chỉ đạo thực hiện đúng các kế hoạch đề ra.
- CBQL năng động, nhạy bén, vận dụng một cách linh hoạt các điều kiện có thể
có cho công tác quản lí TBDH.
- Luôn sâu sát và hiểu nguyện vọng, tâm tư, tình cảm của mọi thành viên trong
nhà trường để có thể có những biện pháp phù hợp kích thích tham gia quản lí TBDH.
Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lí TBDH:
Biện pháp 1
100% công suất.
- Nâng cấp và mở rộng khu sân chơi bãi tập; xây dựng hoàn thiện hệ thống bồn
hoa cây cảnh, cây xanh trong khuôn viên nhà trường; trang bị thêm nhiều thiết bị thể
dục thể thao.
- Nâng cấp, sửa chữa lại hội trường, phòng nghe nhìn; hệ thống âm thanh phục
vụ hội nghị, các buổi sinh hoạt tập thể.
14
- Mua bổ sung các thiết bị cho phòng thực hành Hóa, Lí, Sinh và thiết bị dạy học các môn học khác và nhiều loại sách báo cho thư viện.
- Đồ dùng môn Thể dục được bảo quản an toàn, đảm bảo đủ số lượng, khai thác
có hiệu quả thể hiện qua giải nhì Đại hội thể dục thể thao cấp huyện, giải nhất đồng
đội nữ, giài nhì đồng đội nam giải chạy việt dã Xuân 2015 do Phòng văn hóa thể thao
huyện tổ chức.
2. Về nhận thức, trách nhiệm
- Từ Ban giám hiệu, tổ trưởng CM, giáo viên và học sinh đã nhận thức khá đầy
đủ về vai trò, vị trí, sự cần thiết của CSVC – TBDH trong các hoạt động dạy – học,
giáo dục; Thấy rõ trách nhiệm của mình trong quản lí – sử dụng CSVC – TBDH trong
nhà trường.
- Chính quyền, cha mẹ học sinh thấy được ý nghĩa, sự cần thiết trong hỗ trợ nhà
trường xây dựng CSVC – TBDH để đáp ứng nhu cầu học tập thiết thực của con em và
xã hội. Hệ thống đường phía trước cổng đã được làm mới, vỉa hè thông thoáng.
- Công tác bảo quản: thiết bị được phân loại từng khối, từng môn bảo quản
đúng yêu cầu từng loại, lau chùi sạch sẽ, sắp xếp gọn gàng, trong các kho, từng buổi
học, tiết học giáo viên sử dụng thiết bị được vào sổ theo dõi cụ thể.
- Tiến hành khảo sát vê mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được
thể hiện qua bảng dưới dây:
* Bảng khảo sát kết quả về mức độ cần thiết của các biện pháp
STT
thiết
thiết
Thiết
(%)
(%)
(%)
80
20
0
94.1
5.9
0
76.5
23.5
0
83.5
16.5
0
viên thiết bị và quản lí TBDH trong nhà
90.6
9.4
0
trường.
Xây dựng và tổ chức các bộ phận quản lí
2
85.9
14.1
0
TBDH
Đổi mới quản lí việc trang bị TBDH ở trường
3
20
71.8
8.2
THPT.
Tăng cường quản lí việc sử dụng TBDH ở
4
37.6
62.4
0
trường THPT.
5
Quản lí việc bảo quản TBDH ở trường THPT.
56.5
43.5
- Có 100% bộ môn; 100% giáo viên đứng lớp có sử dụng và sử dụng hiệu quả
thiết bị bộ môn, góp phần không nhỏ trong việc củng cố, nâng cao chất lượng dạy –
học và giáo dục của nhà trường .
- Đảm bảo CSVC - TBDH khá tốt để hoàn thành đợt thi giáo viên giỏi trường
- Hiệu quả lớn nhất, là cuối năm học 2013-2014 và đầu năm 2014-2015 nội
dung quản lí, khai thác sử dụng CSVC-TBDH được Đoàn kiểm tra của Sở giáo dục –
Đào tạo đánh giá là khá tốt.
- CSVC đảm bảo an toàn về mọi mặt, không để xẩy ra mất mát, hư hỏng lớn.
IV. KHẢ NĂNG NHÂN RỘNG
Bản thân có nghiên cứu, đề ra các giải pháp tham mưu cho Hiệu trưởng trong
công tác quản lí, chỉ đạo. Đồng thời trong quá trình thực hiện có sự phối hợp, kết hợp
tất cả các bộ phận, cá nhân trong và ngoài nhà trường. Vì thế có thể nói rằng các giải
pháp này đã được toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên và các em học sinh của trường
17
nắm rõ và thực hiện đạt được một số kết quả nêu trên. Từ kết quả thực hiện có hiệu
quả, vì thế đã tạo được lòng tin và quan tâm sự giúp đỡ của chính quyền địa phương,
các ban ngành, đoàn thể ở huyện và thị trấn.
Bản thân hy vọng những giải pháp này có thể hữu ích cho các đồng nghiệp ở
những trường THPT có điều kiện tương tự trường THPT Nguyễn Văn Thiệt.
V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
- CSVC và TBDH là điều kiện để thực hiện mọi hoạt động của nhà trường, là
một trong những nhân tố quyết định hiệu quả quá trình dạy học và giáo dục. Việc xây
dựng, quản lí và sử dụng CSVC – TBDH có hiệu quả không chỉ là nhiệm vụ của Hiệu
trưởng mà là trách nhiệm của tất cả cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh nhà trường
và xã hội.
- Để có được một hệ thống CSVC và TBDH đáp ứng được nhu cầu phát triển
- Quản lí nhà trường một cách toàn diện, đặc biệt quan tâm tới quản lí việc trang
bị, bảo quản và sử dụng TBDH.
- Tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên được học tập, giao lưu, học hỏi, bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ. Tích cực ứng dụng các tri thức về khoa học quản lí vào kiểm
nghiệm thực tế và lí luận trong quá trình quản lí nhằm góp phần nâng cao chất lượng
18
và đổi mới phương pháp dạy học .
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lí nói chung và
trong quản lí TBDH nói riêng, xây dựng hệ thống quản lí thông qua mạng Internet.
- Mỗi biện pháp ngoài tính độc lập tương đối, chúng còn có mối quan hệ tương hỗ
trong hệ các biện pháp quản lí TBDH. Tùy vào điều kiện cụ thể, các trường cần áp
dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong quá trình tác nghiệp của mình, tuỳ theo từng
thời điểm để sử dụng một hoặc nhiều biện pháp cùng một lúc.
2.4 Đối với các Công ty sản xuất thiết bị dạy học
Cần sản xuất các TBDH đạt tiêu chuẩn về độ chính xác, tính khoa học, hiện đại,
tính đồng bộ, liên môn, tính sư phạm, tính thẩm mỹ, độ bền cao, an toàn...và giá thành
hợp lí. Sản xuất TBDH đồng thời với việc in ấn các loại tài liệu hướng dẫn sử dụng,
khai thác có hiệu quả nhất TBDH. Thực hiện tốt chế độ bảo hành, bảo trì thiết bị.
Trên đây là những nội dung sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp đổi
mới công tác quản lí cơ sở vật chất, thiết bị dạy học”, trong quá trình thực hiện, bản
thân còn gặp không ít khó khăn, có những nội dung chưa được hoàn chỉnh, kính mong
sự góp ý, hướng dẫn của quý Thầy – Cô, Anh – Chị đồng nghiệp. Trân trọng.
Mang Thít, ngày 26 tháng 03 năm 2015
Người viết
Võ Hoàng Long