Các quan điểm, biện pháp chỉ đạo công tác công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng của đảng cộng sản việt nam qua một số đại hội - Pdf 34

PHẦN A: MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng
Cộng sản Việt Nam. Người đã vận dụng sáng tạo học thuyết chủ nghĩa Mác –
Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam để giải quyết đúng đắn những vấn đề đặt
ra trong qúa trình xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Chặng đường vẻ vang
80 năm qua của Đảng và nhân dân ta khẳng định: Sự lãnh đạo của Đảng là
nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu
đạt được trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thống nhất
đất nước, cũng như trong quá trình đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo,
một lần nữa chứng minh sự phát triển và trưởng thành của Đảng.
Cùng với những thành tựu quan trọng mà nhân dân ta đã giành được,
Đảng đã có bước trưởng thành mới về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đa số
cán bộ, đảng viên giữ được phẩm chất cách mạng. Nhưng chúng ta cũng
nghiêm túc thấy rằng có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng,
chính trị, đạo đức, lối sống.
Trong khi cách mạng đòi hỏi sự phấn đấu kiên định và bền bỉ để thực
hiện mục tiêu lý tưởng thì một bộ phận cán bộ đảng viên lại giảm sút ý chí,
phai nhạt lý tưởng, dao động về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đáng
chú ý là có cả một số cán bộ, đảng viên cấp cao làm trái Cương lĩnh, Điều lệ
Đảng, vi phạm pháp luật…; tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của
một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiệm trọng hơn;
việc thực hiện nguyên tắc tập chung dân chủ không nghiêm; bộ máy tổ chức
của Đảng và Nhà nước chậm củng cố và đổi mới; tinh thần làm việc cầm
chừng; các thế lực thù địch đang dùng mọi thủ đoạn nham hiểm và độc ác
chống lại hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội…
Trước tình hình ấy, một số cấp ủy, đảng viên chưa thấy hết tính chất
nghiêm trọng của thực trạng, còn chủ quan, đơn giản, thờ ơ, không nhận thức
được yêu cầu cấp thiết của việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Vì vậy, cần phải
1



Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” năm 1927 Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đặt câu hỏi: “cách mệnh trước hết phải có cái gì” và Người khẳng định:
“Trước hết phải có Đảng cách mệnh, … Đảng có vững, cách mệnh mới thành
công” [Hồ Chí Minh toàn tập, H, 1995, T.2, tr.267,268]. Quán triệt tinh thần
đó, mà từ ngày thành lập đến nay và trong quá trình hoạt động, Đảng ta luôn
chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Khi
trở thành Đảng cầm quyền lại hoạt động trong những điều kiện mới hết sức
phức tạp, đặc biệt ở những bước chuyểncách mạng, phải thường xuyên tự đổi
mới, tự chỉnh đốn để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của mình, để mãi xứng đáng là người lãnh đạo và là người đầy tớ thật
trung thành của nhân dân.
Trên cơ sở thực tiễn về đổi mới và chỉnh đốn Đảng mà Đảng đã thực
hiện trong các giai đoạn cách mạng trước cùng với yêu cầu xây dựng Đảng
trong thời kỳ đổi mới, chúng ta có thể hiểu: đổi mới và chỉnh đốn Đảng là
cuộc vận động giai đoạn chính trị tư tưởng tiến hành trong Đảng, làm cho cán
bộ, đảng viên thấu suốt quan điểm, đường lối của Đảng; loại trừ những biểu
hiện tiêu cực; khắc phục những yếu kém, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng
viên và bộ máy của Đảng; xây dựng củng cố và bảo vệ Đảng, nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng phù hợp với yếu cầu khách quan của
cách mạng trong thời kỳ mới.

3


Đổi mới là tất yếu vì nó dúng với quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về
sự phát triển, xem xét, xử lý các sự việc và hiện tượng trong sự vận động và
phát triển của chúng trong những điều kiện khách quan cụ thể. Đổi mới là yêu
cầu tất yếu vì nó là gải pháp cơ bản, bắt buộc để đưa kinh tế - xã hội nước ta
vượt qua vực thẳm của cuộc khủng hoảng trầm trọng đang diễn ra. Đổi mới là
tất yếu vì chính sách, cơ chế kinh tế và phương thức lãnh đạo quan lý bắt

cách mạng mới, từ những yêu cầu kinh tế - xã hội của đất nước mà Đảng phải
giải quyết chính sách kinh tế mới; đường lối chiến lược là cơ sở tiêu chuẩn
cho việc thanh Đảng.
Chỉnh đốn lại Đảng là một cuộc đấu tranh chống lại những gì đã cũ kỹ,
hư hỏng để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để việc chỉnh đốn lại Đảng có
kết quả, Đảng cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa
vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.
1.2.1. Tại Đại hội Đảng VI (tháng 12-1986). Đảng ta đã đề ra chủ
trương đổi mới tư duy, đổi mới cán bộ, đổi mới phong cách công tác. Đến Hội
nghị lần thứ sáu (tháng 3-1989), Đảng tiếp tục chỉ rõ đổ mới phương thức
lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hoạt động của hệ thống chính trị.
Đảng là nhân tố quyết định sự thắng lợi của cách mạng, Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IV và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Đảng ta đã
chủ trương nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, song trên
thực tế, Đảng ta chưa làm tốt được nhiệm vụ đó. Nhiều năm chúng ta đã coi
nhẹ và có khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng. Nhiều vấn đề kinh tế,
xã hội chưa được giải đáp và giải quyết đúng đắn; việc rèn luyện cán bộ, đảng
viên còn nhiều thiếu sót; phong cách lãnh đạo chưa được cải tiến để đáp ứng
với những đòi hỏi của tình hình mới. Vì vậy, Đại hội VI của Đảng cho rằng
“Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế;
đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và
công tác” (Sđd, tr 124). Theo hướng đổi mới đó, Báo cáo chính trị Đại hội VI
đã nêu nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng như sau:
Đảng “Phải đổi mới tư duy; Phải đổi mới đội ngũ cán bộ, kiện toàn các
cơ quan lãnh đạo và quản lý; Phải đổi mới phong cách làm việc, giữ vững các
5


nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt trong Đảng; Phải nâng cao chất lượng Đảng
viên, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực; Phải nâng cao sức chiến đấu của

đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, thực hiện được sự chuyển tiếp
vững vàng các thế hệ cán bộ… Trong công tác cán bộ, cần coi trọng cả ba
mặt: bồi dưỡng, bố trí đúng để phát huy lực lượng cán bộ hiện có; kịp thời
thay những cán bộ kém năng lực, xử lý những cán bộ tham nhũng, thoái hóa,
những cán bộ có quan điểm và tư tưởng chính trị lệch lạc vi phạm kỷ luật của
Đảng; tích cực quy hoạch, đào tạo cán bộ dự bị ở các cấp.
Trong Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi điều lệ Đảng của Ban chấp
hành Trung ương (khoá VI). Phần thứ hai: nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn
Đảng trong thời gian tới. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong bối
cảnh quốc tế, trong nước và tình hình Đảng ta hiện nay đòi hỏi Đảng nhất
thiết phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng và cấp
bách, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của sự nghiệp đổi mới, sự
ổn định và phát triển của đất nước và đối với vận mệnh của bản thân Đảng.
Đây cũng là nguyện vọng và đòi hỏi của nhân dân… Yêu cầu đổi mới và
chỉnh đốn đảng trong những năm tới là:
Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nâng cao trình độ trí tuệ và năng lực
lãnh đạo chính trị; đổi mới một bước cơ bản nội dung và phương thức lãnh
đạo của Đảng; bảo đảm dân chủ, giữ gìn kỷ luật, tăng cường đoàn kết thống
nhất trong Đảng; làm trong sạch và nâng cao chất lượng đảng viên; khắc phục
có hiệu quả các hiện tượng tiêu cực, đặc biệt là tệ tham nhũng, khôi phục và
nâng cao lòng tin của nhân dân đối với Đảng; chấn chỉnh tổ chức, bộ máy và
đội ngũ cán bộ; làm cho Đảng có bản lĩnh chính trị, có kiến thức, năng lực và
sức chiến đấu mới, đủ sức đoàn kết lãnh đạo toàn dân vượt mọi khó khăn, thử
thách, phấn đấu thực hiện có kết quả các nghị quyết của Đại hội VII.
1.2.3. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII khẳng định: “…
thường xuyên tự đổi mơi, tự chỉnh đốn… là quy luật phát triển của
Đảng”[Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, Nxb
CTQG, H, 1996, tr.47].

7

sáng tạo và trách nhiệm xây dựng Đảng của đội ngũ đảng viên. Qua quá trình
8


đổi mới, tự chỉnh đốn, Đảng còn tập hợp được sức mạnh của tổ chức trong hệ
thống chính trị và tinh thần xây dựng Đảng của nhân dân. Từ đó, uy tín của
Đảng được giữ vững và nâng cao.
Chủ trương về chỉnh đốn Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền được
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định từ Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng
lần thứ sáu (tháng 01/1949) khi cuộc kháng chiến kiến quốc của nhân dân ta
do Đảng lãnh đạo chuẩn bị chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ toàn Đảng, toàn
dân ta phải “nỗ lực chuẩn bị, sẵn sàng đón lấy dịp tốt, tuyệt đối không được
bỏ lỡ cơ hội chiến lược” [Hồ Chính Minh: toàn tập, Sđd, T.5, tr. 773]. Để
chuẩn bị đón thời cơ mới, có nhiều việc phải làm trong đó “trước hết phải
chỉnh đốn nội bộ Đảng” [Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, T.5, tr.551].
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, VÀ NHIỆM VỤ CỤ THỂ NHẰM
NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG
2.1. Một số giải pháp:
Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, các cấp ủy, tổ chức
đảng cần thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau đây:
- Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũ
cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ, phẩm chất đạo
đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, thực sự tiền phong gương mẫu, đủ
năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Hoàn thiện mô hình tổ chức của các loại hình tổ chức cơ sở đảng theo
hướng gắn tổ chức cơ sở đảng với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và
lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội; chăm lo kết nạp đảng viên, nhất là ở
những địa bàn, đơn vị chưa có tổ chức đảng, chưa có đảng viên.
- Thực hiện mạnh mẽ chủ trương trẻ hóa, tiêu chuẩn hóa, thể chế hóa và

nghĩa xã hội của nước ta; làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn đường lối, chính
sách của Đảng trong thời kỳ mới. Đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị,
tư tưởng trong Đảng, trước hết cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ
chốt các cấp; đổi mới nội dung, phương pháp học tập và giảng dạy trong hệ
thống trường chính trị, nâng cao tính thiết thực và hiệu quả của chương trình.
10


Củng cố, nâng cao chất lượng các cơ quan chuyên ngành về công tác tư
tưởng, lý luận. Tăng cường số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý
luận, nhất là cán bộ chủ chốt. Tiến hành đồng bộ công tác tư tưởng, công tác
lý luận, gắn các công tác này với công tác tổ chức - cán bộ, với phát triển kinh
tế, giải quyết hài hòa các lợi ích. Gắn “xây” với “chống”, lấy “xây” làm
chính. Đặc biệt quan tâm chống sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức,
lối sống. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng; phê phán, bác bỏ các quan
điểm sai trái, thù địch.
* Bảo đảm vai trò nền tảng và hạt nhân chính trị của tổ chức cơ sở
Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Mỗi tổ chức cơ sở Đảng có trách nhiệm tổ chức và qui tụ sức mạnh của
toàn đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao; làm tốt công tác giáo
dục chính trị, tư tưởng, quản lý và giám sát đảng viên về năng lực hoàn thành
nhiệm vụ và phẩm chất, đạo đức, lối sống; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân
và những biểu hiện tiêu cực trong Đảng.
Kiện toàn hệ thống tổ chức cơ sở Đảng. Xác định vị thế pháp lý, thể chế
hóa về mặt nhà nước vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các loại hình cơ sở, đặc
biệt là tổ chức cơ sở Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài. Chú ý xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong các doanh nghiệp tư
nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vùng sâu, vùng xa; tập trung
giải quyết cơ sở yếu kém.

được thông tin, tranh luận, nêu ý kiến riêng, và bảo lưu ý kiến trong tổ chức;
khi đã thành nghị quyết thì phải tuyệt đối chấp hành, nói và làm theo nghị
quyết của Đảng.
Các cấp lãnh đạo, cán bộ lãnh đạo phải thật sự lắng nghe ý kiến của cấp
dưới, của đảng viên và nhân dân. Xây dựng qui chế ra quyết định của Đảng,
bảo đảm phát huy trí tuệ tập thể; có cơ chế để nhân dân bày tỏ ý kiến đối với
những quyết định lớn, tham gia giám sát Đảng, tham gia các công việc của
Đảng; khắc phục lối làm việc quan liêu, xa dân.

12


Hoàn thiện qui chế bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của tập thể đối
với cá nhân, của tổ chức đối với tổ chức, của cá nhân đối với cá nhân và tổ
chức, kể cả đối với người lãnh đạo chủ chốt và tổ chức cấp trên. Kết hợp giám
sát trong Đảng với giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân.
Xây dựng qui chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc,
các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối,
chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể
cả đối với công tác tổ chức và cán bộ.
Đổi mới phương pháp kiểm tra và bổ sung chức năng giám sát cho ủy
ban kiểm tra đảng các cấp. Tăng cường công tác kiểm tra phòng ngừa. Xây
dựng qui chế phối hợp công tác giữa Ủy ban Kiểm tra của Đảng với Thanh tra
của Chính phủ.
* Đổi mới công tác cán bộ.
Cán bộ phải là người có đức, có tài, có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối
trung thành với Tổ quốc, với Đảng; hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân,
của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội; không dao động trước mọi biến cố phức tạp, có đủ
năng lực thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của

Đảng.
Việc đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của
Đảng phải đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế; thực hiện
đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của
Đảng.
Khâu mấu chốt cần tập trung hiện nay là đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nước ở cấp trung ương và chính quyền ở cấp địa
phương. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết,
quyết định, nguyên tắc giải quyết những vấn đề trọng đại về quốc kế dân sinh;
lãnh đạo thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách
lớn của Đảng thành hiến pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác
lớn của Nhà nước; xây dựng Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, hoạt

14


động có hiệu lực, hiệu quả; bố trí đúng cán bộ ngang tầm nhiệm vụ và thường
xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện.
Đảng không buông lỏng lãnh đạo, đồng thời không bao biện, làm thay
Nhà nước; trái lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước
trong quản lý đất nước và xã hội.
Khẩn trương nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản qui
định cụ thể về nguyên tắc, nội dung và cơ chế Đảng lãnh đạo đối với Nhà
nước trong từng lĩnh vực: lập pháp, hành pháp, tư pháp và từng cấp, từng loại
hình tổ chức nhà nước.
Lãnh đạo việc cụ thể hóa, thể chế hóa kịp thời và tổ chức thực hiện có
hiệu quả các nghị quyết của Đảng. Ra nghị quyết đi liền với đề ra các kế
hoạch thực hiện nghị quyết.
Sớm xây dựng qui chế về sự phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Đảng
với Thanh tra của Chính phủ, kịp thời kết luận các vụ vi phạm, xử lý đúng

Từ ngày thành lập Đảng, đặc biệt từ Đại hội VIII đến nay, Đảng đã có
nhiều biện pháp quan trọng, có tính chiến đấu cao, tạo được sự đồng thuận
trong Đảng và toàn xã hội để chỉ đạo tiến hành công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng. Trong những năm tới, toàn Đảng tiếp tục thực hiện các nghị quyết về
xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa
VIII, tập trung làm tốt những công tác sau:
2.2.1. Giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng,
chống chủ nghĩa cá nhân.
Toàn Đảng nghiêm túc học tập chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh. Mỗi cấp ủy, mỗi chi bộ có kế hoạch định kỳ kiểm điểm việc thực
hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng,
chống chủ nghĩa các nhân; tư tưởng cơ hội, thực dụng. Trên cơ sở tổng kết hai
năm thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiếp tục đưa việc tự
phê bình và phê bình trong các cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở thành nền nếp
thường xuyên và theo định kỳ, không làm qua loa, chiếu lệ, hình thức; vận
động nhân dân góp ý phê bình cán bộ, đảng viên.

16


Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, làm trong sạch
đội ngũ đảng viên. Các cấp ủy tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra đảng viên học
tập, không ngừng nâng cao trình độ chính trị, học vấn, chuyên môn, nghiệp
vụ, kiến thức lãnh đạo, quản lý và vận động nhân dân, phát hy vai trò tiên
phong gương mẫu. Cán bộ, đảng viên ở bất cứ cương vị nào đều phải chấp
hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng và pháp luật
của Nhà nước. Thi hành kỷ luật nghiêm khắc mọi vi phạm về nguyên tắc, nhất
là đối với những vấn đề về quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng. Trong các hoạt động kinh tế, đảng viên phải chấp hành đúng pháp luật
của Nhà nước và các quy định của Đảng.

Thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý theo quy
hoạch ở các ngành và địa phương; cán bộ chủ chốt từ cấp huyện trở lên giữ
một chức vụ lãnh đạo ở một đơn vị không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp; khắc
phục tư tưởng cục bộ, khép kín trong đơn vị, ngành và địa phương.
Xây dựng chỉnh đốn hệ thống các học viện, trường và trung tâm chính
trị, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trước hết đối
với cán bộ lãnh đạo va quản lý các cấp; chống các biểu hiện tiêu cực trong
giảng dạy và học tập.
2.2.3. Xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở đảng.
Tất cả các đảng bộ, chi bộ ở cơ sở đều nắm vững và thực hiện đúng
chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị đối với chính quyền, đoàn thể, các tổ
chức kinh tế, sự nghiệp, các mặt công tác và các tầng lớp nhân dân ở cơ sở,
nâng cao tính chiến đấu, khắc phục tình trạng thụ động, ỷ lại, buông lỏng vai
trò lãnh đạo. Cấp ủy cấp trên tập trung chỉ đạo củng cố các đảng bộ, chi bộ
yếu kém, kịp thời kiện toàn cấp ủy và tăng cường cán bộ ở những nơi có điều
kiện khó khăn, nội bộ mất đoàn kết. Nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy,
chi bộ. Phân công, hướng dẫn, kiểm tra đảng viên chấp hành nhiệm vụ, phát
huy vai trò tiên phong gương mẫu trong công tác, học tập và lối sống; giữ mối
liên hệ với quần chúng nơi công tác, với chi bộ và nhân dân nới cư trú. Phát
triển đảng viên theo đúng tiêu chuẩn quy định, chú ý những người ưu tú trong
công nhân, trí thức, lao động thuộc các thành phần kinh tế, đoàn viên Đoàn
18


Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, những nơi còn ít hoặc chưa có đảng viên.
Đổi mới việc phân tích, đánh giá chất lượng các tổ chức cơ sở đảng và đảng
viên.
2.2.4. Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
Phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng, từ sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt
cấp ủy ở cơ sở đến Ban Chấp hành Trung ương, trong công tác cán bộ và

thiệu bí thư hoặc phó bí thư cấp ủy để được bầu vào Hội đồng nhân dân và
làm chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Các cấp ủy viên, nhất là cán bộ chủ chốt, có chương trình công tác ở cơ
sở, tiếp xúc, lắng nghe ý kiến và trả lời chất vấn của đảng viên và nhân dân;
cấp ủy định kỳ làm việc với ban chấp hành các đoàn thể, tôn trọng và phát
huy quyền làm chủ, vai trò chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể nhân dân. Chăm lo xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh vững mạnh, phát huy vai trò của Đoàn là đội quân xung kích và là lực
lượng dự bị, kế tục sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng.
Lãnh đạo việc đổi mới và tăng cường công tác thanh tra của Chính phủ
và các cơ quan hành pháp; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng
nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân theo đúng chức năng và
thẩm quyền của các cơ quan đó. Tăng cường công tác kiểm tra của các cấp
ủy, của ủy ban kiểm tra các cấp, tập trung vào các nội dung chủ yếu: thực
hiện các nghị quyết,chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; chấp hành
nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; củng cố đoàn kết nội bộ,
giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của cán
bộ, đảng viên./.

20


KẾT LUẬN
Hơn hai mươi năm qua, công tác xây dựng Đảng theo tinh thần Nghị
quyết Đại hội VIII đã được triển khai thực hiện tong bối cảnh mới, đặc biệt là
tình hình khủng hoảng kinh tế - tài chính ở Đông Nam Á, Châu Á tác động
trực tiếp vào nước ta, thiên tai diễn ra liên tiếp. Nhưng với nỗ lực to lớn của
toàn dân, các ngành, các cấp, sự lãnh đạo, điều hành năng động, nhạy bén của
Đảng và Nhà nước, kinh tế vẫn tăng trưởng, văn hóa xã hội có bước phát
triển, đời sống nhân dân về nhiều mặt có phần được cải thiện, chính trị ổn

xã hội và nhân dân./.

22


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Trung ương 9 khóa
IX, Nxb CTQG, HN, 2001.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của
Đảng, Nxb CTQG, H, 1996.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Nxb
CTQG, HN. 1999,
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Đại hội đại biểu toàn quốc và Hội nghị BCHTW
Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2006), Nxb CTQG.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
CTQG, HN, 2001.
7. Tài liệu phục vụ nghiên cứu các Kết luận Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb
CTQG, Hà Nôi – 2006.
9. Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (2): Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần
2) khóa VIII Đẩy mạnh Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng chống tham
nhũng, lãng phí, Nxb CTQG, Hà Nội – 2003.
10. Báo điện tử Đảng Cộng Sản./.

23


MỤC LỤC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status