Luận văn thạc sĩ kinh tế hoàn thiện cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh nam định - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

BÙI DUY THANH

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ
QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH

Chuyên ngành: Kinh tế, Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:
PGS;TS. Nguyễn Thị Bằng

HÀ NỘI - 2011


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

BÙI DUY THANH


Ngân sách

NSĐP:

Ngân sách địa phương

NSNN

:

Ngân sách Nhà nước

TW

:

Trung Ương

UBND

:

Ủy ban Nhân dân

XDCB

:

Xây dựng cơ bản

phương trong giai đoạn hiện nay, tôi đã chọn đề tài “ Hoàn thiện cơ chế
quản lý chi NSNN trên địa bàn tỉnh Nam Định” làm đề tài Luận văn thạc sỹ
của mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về ngân sách địa phương,
quản lý chi ngân sách địa phương.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý chi ngân sách nhà
nước trên địa bàn tỉnh Nam Định trong thời gian qua.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện công tác quản lý
chi ngân sách nhà nước tại tỉnh Nam Định trong thời gian tới.


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là công tác quản lý chi ngân sách
nhà nước trên địa bàn tỉnh Nam Định, trong đó tập trung vào phân tích quản
lý chi cho đầu tư xây dựng cơ bản, chi thường xuyên.
Giới hạn thời gian nghiên cứu của Luận văn là từ năm 2008-2010 và
Luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý chi ngân sách nhà
nước tỉnh Nam Định cho giai đoạn 2011-2015.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Luận văn hệ thống hóa và làm rõ hơn một số vấn đề về lý luận và sự
cần thiết trong quản lý chi ngân sách nhà nước nói chung và quản lý chi ngân
sách nhà nước trên địa bàn Tỉnh nói riêng.
- Đánh giá thực trạng quản lý chi Ngân sách trên địa bàn tỉnh Nam
Định giai đoạn 2008-2010 qua dự toán được HĐND giao và qua các chỉ tiêu
định mức theo quy định của Nhà nước.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, Luận văn đề xuất một số giải pháp
hoàn thiện cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Nam Định
trong thời gian tới trên cơ sở định hướng kinh tế xã hội của tỉnh Nam Định.
5. Kết cấu của Luận văn

Trong các năm qua việc thực hiện dự toán chi thường xuyên luôn đạt và
vượt kế hoạch đề ra so với dự toán TW giao, dự toán tỉnh giao và năm
sau luôn tăng hơn năm trước. Chi thường xuyên chiếm tỷ trọng khoảng
40% tổng chi cân đối NSĐP. Công tác quản lý, điều hành chi Ngân sách
của tỉnh cơ bản theo quy định của Luật NSNN và chế độ tài chính hiện
hành; phần lớn các khoản chi được kiểm tra kiểm soát theo quy định từ
đó góp phần tăng cường hiệu quả sử dụng Ngân sách nhà nước. Cụ thể
trên một số lĩnh vực:................................................................................46
2.2.3. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHI NSNN CỦA TỈNH NAM
ĐỊNH TRONG THỜI GIAN QUA.......................................................................54
2.2.3.1. Thành tựu đạt được..................................................................................54

3.1.2. YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ
CHI NSNN TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2011 – 2015.......................67
Để hoàn thiện cơ chế quản lý chi NSNN trên địa bàn tỉnh Nam Định trước
hết cần đánh giá việc thực hiện và hướng dẫn thực hiện pháp luật, các quy
định của nhà nước về tài chính, Ngân sách, kế toán trên địa bàn tỉnh; Đánh
giá việc bố trí vốn chi đầu tư phát triển và phân bổ dự toán chi thường
xuyên, chi chương trình mục tiêu những năm qua có đảm bảo sự phát triển
kinh tế - xã hội tại địa phương hay không? Tự kiểm tra, kiểm soát để kịp
thời phát hiện các sai sót, vi phạm của UBND tỉnh và sở tài chính trong


quản lý Ngân sách tỉnh; làm rõ trách nhiệm các cá nhân khi để xảy ra thất
thoát, lãng phí Ngân sách; Đánh giá công tác kiểm tra về mặt tài chính đối
với việc xây dựng và hoàn thành các dự án đầu tư bằng nguồn vốn NSĐP,
các dự án vay vốn của địa phương, việc sử dụng vốn và thực hiện kế hoạch
trả nợ vay; đánh giá công tác quản lý và kiểm tra việc sử dụng các nguồn
vốn và tài sản viện trợ; việc quản lý và sử dụng quỹ dự trữ tài chính của
tỉnh; quản lý các nguồn kinh phí ủy quyền của Trung ương và các quỹ khác

của mình bằng tiền, vay nợ...để phục vụ cho hoạt động của mình hình thành
nên NSNN, bộ phận quan trọng nhất của khu vực tài chính nhà nước. Tuy
nhiên, thuật ngữ “Ngân sách nhà nước” chỉ thực sự xuất hiện khi nền sản xuất
xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định, đó là khi phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa ra đời. Lúc này các khoản thu chi của Nhà nước được thể
chế hóa bằng luật pháp, tách việc thực hiện quyền lập pháp về NSNN thuộc
về Nghị viện và quyền hành pháp về NSNN giao cho Chính phủ điều hành.
Khái niệm NSNN phải thể hiện được nội dung kinh tế - xã hội của
NSNN, phải được xem xét cả biểu hiện bên ngoài và thực chất bên trong của
nó.
Căn cứ vào biểu hiện bề ngoài thì NSNN là một bản dự toán thu chi
bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một
năm hoặc một số năm. Hàng năm, Chính phủ dự toán các nguồn thu vào quỹ
NSNN, đồng thời dự toán các khoản chi cho sự nghiệp kinh tế, chính trị, an
ninh quốc phòng, quản lý hành chính…từ quỹ NSNN, và bản dự toán này
phải được Quốc hội phê chuẩn.
Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ
tiền tệ của Nhà nước. Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội, nguồn
tài chính luôn vận động giữa một bên là Nhà nước một bên là các chủ thể kinh
tế xã hội. Đằng sau các hoạt động đó chứa đựng các mối quan hệ giữa Nhà
nước với các chủ thể khác, thông qua việc tạo lập sử dụng quỹ tiền tệ tập
trung của Nhà nước chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ
thể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó
1


đến các chủ thể được thụ hưởng để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của
Nhà nước.
Hoạt động NSNN là sự thể hiện các mặt hoạt động kinh tế xã hội của
Nhà nước ở tầm vĩ mô. Vai trò của NSNN trong hệ thống tài chính nói chung,

Nhà nước phải gánh vác.
Theo quy định tại Luật NSNN năm 2002, Ngân sách Nhà nước gồm
Ngân sách Trung Ương và NSĐP. Trong đó NSĐP bao gồm Ngân sách của
đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và ủy ban Nhân dân ( cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cấp quận, huyện, thị xã, cấp xã,
phường )
Ngân sách của một địa phương là toàn bộ các khoản thu - chi được quy
định đưa vào dự toán trong một năm, do Hội đồng Nhân dân tỉnh quyết định
và giao cho UBND tỉnh tổ chức chấp hành, nhằm đảm bảo thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của chính quyền trên địa bàn địa phương đó.
Là một bộ phận của Ngân sách Nhà nước, Ngân sách của một địa
phương vừa mang những đặc điểm chung của NSNN, vừa có những đặc điểm
riêng, thể hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý tài chính Nhà nước.
- Là một quỹ tiền tệ của Nhà nước, của cơ quan chính quyền địa
phương đó, được Nhà nước sử dụng để duy trì sự tồn tại của bộ máy Nhà
nước của địa phương đó và để thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của
mình.
- Các hoạt động của NSĐP được tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất
định .
- Nguồn thu và nhiệm vụ chi của NSĐP mang tính chất pháp lý do Hội
đồng nhân dân tỉnh, thành phố đó quy định, nhằm thực hiện chức năng, nhiệm
vụ kinh tế - xã hội của địa phương và Nhà nước.
- Quan hệ lợi ích phát sinh trong quá trình thu chi NSĐP là quan hệ
giữa lợi ích chung của một bên đại diện là chính quyền địa phương đó với
một bên là các chủ thể kinh tế khác trong xã hội.
Chúng ta có thể hiểu rõ hơn về NSNN thông qua các đặc điểm của nó.
Đó là:
3





không có khả năng thu hồi chi phí. Có thể thấy những đặc điểm chi NSNN
thông qua các hoạt động của Nhà nước. Đó là:
- Chi NSNN đảm bảo hoạt động bộ máy nhà nước, hình thành khuôn
khổ luật pháp, cung cấp những dịch vụ hành chính pháp lý: đây là những hoạt
động quan trọng mà thiếu nó, xã hội không tồn tại và phát triển. Mặc dù xét
về ý nghĩa, thì chi NSNN cho hoạt động bộ máy nhà nước để đảm bảo cho
những nội dung trên là điều kiện tiên quyết, tiền đề quan trọng nhất song tỷ
trọng chi lại chiếm phần nhỏ trong chi NSNN. Có thể nói không một hãng tư
nhân nào làm thay được Nhà nước những công việc trên bởi chỉ có Nhà nước
mới có quyền năng để làm điều đó mà như vậy, chỉ có thể dùng NSNN để
đảm bảo cho những hoạt động đó.
- Thông qua công cụ chi Ngân sách, Nhà nước trợ cấp hoặc gây ảnh
hưởng đối với thị trường tài chính như thị trường chứng khoán, bảo hiểm, tín
dụng, thông qua các cơ quan điều hành để đảm bảo hoạt động của các lĩnh
vực này và đảm bảo quyền lợi, hạn chế rủi ro cho mọi công dân.
- Chi NSNN cung cấp hàng hóa dịch vụ công cộng như đầu tư xây
dựng hệ thống đường cao tốc, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, quốc phòng, bảo
vệ trật tự xã hội….Thể hiện ở hai giác độ: (i) có thể những dịch vụ công đó do
cơ quan nhà nước làm ra và Nhà nước chi tiền cho các cơ quan đó như là
người mua hàng hoác dịch vụ, hoặc (ii) những dịch vụ công này do tư nhân
làm và Chính phủ mua lại. Việc mua đó là để cung cấp cho những cá nhân
không đủ tiền mua, thể hiện sự ưu đãi của Chính phủ nhằm khắc phục khiếm
khuyết của cơ chế thị trường trong phân hóa giầu nghèo; hoặc Chính phủ mua
để cung cấp cho các cá nhân khi các hãng tư nhân không làm được vì không
thu hồi trực tiếp được vốn. Trong trường hợp này Chính phủ thu hồi qua
những hình thức gián tiếp như thuế. Đặc điểm này thể hiện vai trò to lớn của
Chính phủ đối với mọi lĩnh vực đời sống xã hội và mọi cá nhân, tỷ trọng
khoản chi này rất lớn trong tổng chi tiêu của NSNN.

thường nhật. Các khoản chi này được thực hiện gọn trong từng năm Ngân
sách, bao gồm chủ yếu các khoản chi thường xuyên và những khoản chi khác
thực hiện trọn vẹn trong từng năm Ngân sách.
6


- Các khoản chi diễn ra trong nhiều năm Ngân sách, ví dụ: chi cho
chương trình, dự án.
Thứ hai: Chi NSNN theo tính chất phát sinh, chi NSNN gồm chi
thường xuyên và chi không thường xuyên
Chi thường xuyên: là những khoản chi đảm bảo hoạt động bình thường
cho các đối tượng chi và mức chi tương đối ổn định trong một thời gian dài.
Hầu hết các khoản chi này phát sinh đều đặn, lặp đi lặp lại giữa các khoảng
thời gian trong một năm và giữa các năm, mức chi cho các đối tượng này chủ
yếu dựa trên chế độ, định mức chi do cấp có thẩm quyền ban hành, mang tính
chất thanh toán trực tiếp và không để lại hình thái vật chất, đồng nghĩa với
tiêu dùng trực tiếp.
Các lĩnh vực chi thường xuyên bao gồm chi cho các hoạt động sự
nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn hóa, thể dục thể thao,
khoa học công nghệ, các hoạt động sự nghiệp kinh tế như duy tu bảo dưỡng
đường giao thông, công trình thủy lợi, công tác khuyến nông, khuyến lâm, đo
đạc, môi trường; hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các tổ
chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp; các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; chi
thường xuyên trong các chương trình dự án; trợ giá; trợ cấp cho các đối tượng
chính sách, hưu trí…
Chi không thường xuyên: là các khoản chi không được lặp lại đều đặn,
mà chỉ phát sinh một hoặc một số lần, mức chi cũng không ổn định, chủ yếu
phụ thuộc theo tính chất và quy mô công việc cụ thể.
Các lĩnh vực chi không thường xuyên bao gồm chi đầu tư xây dựng các
công trình hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn; đầu tư hỗ trợ

công nghệ, y tế, văn hoá, thể thao, công sở của các cơ quan nhà nước, phúc
lợi công cộng…
+ Chi đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tỏ
chức tài chính của Nhà nước, góp vón cổ phần, liên doanh vào các doanh
nghiệp thuộc các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của
pháp luật. Những khoản chi này nhằm thực hiện vai trò dẫn dắt, điều chỉnh và
định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế theo đúng mục tiêu của Nhà
8


nước trong từng thời kỳ, bảo đảm sự phát triển ổn định và hiệu quả của nền
kinh tế quốc dân.
+ Chi dự trữ nhà nước là các khoản chi để mua hàng hoá vật tư dự trữ
nhà nước có tính chiến lược của quốc gia hợăc hàng hoá, vật tư dự trữ nhà
nước mang tính chất chuyên ngành. Chi dự trữ nhà nước có vai trò đặc biệt
quan trọng để ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân khi đời
sống gặp phải những biến cố như thiên tai, dịch bệnh, địch hoạ…
+ Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án
nhà nước như chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, chương
trình 135, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, dựa án định canh định cư ở các xã
nghèo, dự án chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử, cách mạng và
kháng chiến…
+ Các khoản chi đầu tư phát triển khác
- Căn cứ vào tính chất các hoạt động đầu tư phát triển thì chi đầu tư
phát triển của NSNN bao gồm:
+ Chi đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN là các khoản chi để đầu tư xây
dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả nằng
thu hồi vốn, các công trình của các doanh nghiệp nhà nước đầu tư theo kế
hóạch được duyệt, các dự án quy hoạch vùng và lãnh thổ…Chi đầu tư xây
dựng cơ bản có thể được thực hiện theo hình thức đầu tư xây dựng mới hoặc

Hoạt động sự nghiệp văn-xã thuộc phạm vi chi thường xuyên của
NSNN bao gồm nhiều loại hình đơn vị tham gia vào các lĩnh vực này như:
các đơn vị sự nghiệp Giáo dục-Đào tạo; sự nghiệp Y tế; sự nghiệp Văn hóaNghệ thuật ,Thể dục thể thao ; Thông tấn, báo chí, Phát thanh-Truyền
hình;v.v. Một khi các đơn vị đó do Nhà nước thành lập và giao nhiệm vụ cho
nó hoạt động. Tuy nhiên, mức cấp kinh phí cho các đơn vị là bao nhiêu lại tùy
thuộc vào nhiệm vụ mà mỗi đơn vị phải đảm nhận và cơ chế quản lý tài chính
mà nhà nước cho phép mỗi đơn vị thuộc hoạt động sự nghiệp văn- xã được
phép áp dụng và hiện đang có hiệu lực thi hành.
+Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước.

10


Việc lập các đơn vị sự nghiệp kinh tế để phục vụ cho hoạt động của
mỗi ngành và phục vụ chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân là hết sức cần
thiết. Trong điều kiện của nước ta hiện nay, hầu như ngành nào cũng có một
số đơn vị sự nghiệp kinh tế do ngành đó quản lý. Tuy nhiên, kết quả do hoạt
động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế. này tạo không nhất thiết chỉ mang lại
lợi ích riêng cho một ngành đó, mà nhiều khi lại là lợi ích chung của toàn bộ
nền kinh tế quốc dân. Ví dụ : các đơn vị sự nghiệp giao thông do ngành giao
thông quản lý, nhưng kết quả hoạt động của sự nghiệp giao thông được thông
suốt, an toàn lại là lại lợi ích chung cho rất nhiều ngành được hưởng. Những
ví dụ tương tự như trên có thể thấy rất rõ các hoạt động sự nghiệp của các
ngành khác, như : Sự nghiệp nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp và lâm nghiệp
; sự nghiệp khí tượng ,thủy văn; sự nghiệp đo-vẽ bản đồ; sự nghiệp định canh,
định cư và kinh tế mới v.v.
Một bộ phận nguồn kinh phí để đáp ứng cho nhu cầu hoạt động của đa
số các đơn vị sự nghiệp kinh tế được hình thành thông qua số chi thường
xuyên của Ngân sách nhà nước và các đơn vị được cấp phát từ nguồn vốn của
NSNN tại Kho bạc nhà nước. bên cạnh đó , một bộ phận nguồn kinh phí do

chức của 02 cơ quan : Viện Kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân.Hai cơ
quan này được tổ chức theo một hệ thống dọc từ Trung ương xuống đến tận
các địa phương.
Tất cả các cơ quan quản lý nhà nước trên, muốn tồn tại và hoạt động để
thực hiện các chức năng ,nhiệm vụ của Nhà nước thì về cơ bản phải trông cậy
vào sự cấp phát nguồn kinh phí từ NSNN đảm bảo ( Đảng cộng sản Việt Nam).
+ Chi cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội và các tổ chức
khác được cấp kinh phí từ NSNN.
Được xếp vào các tổ chức này, bao gồm: Đảng cộng sản Việt Nam và
tổ chức chính trị - Đoàn thể-xã hội như: Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh, Măt trận Tổ quốc, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân tập thể , Hội Liên
hiệp Phụ nữ.
Có thể đây là nét đặc thù trong cơ cấu chi thường xuyên của NSNN ở
nước ta; vì : thiết chế của bộ máy nhà nước chúng ta xác lập khác, các tổ chức
12


chính trị -xã hội được coi như là cánh tay nối dài để tổ chức các hoạt động mà
Đảng và Nhà nước đã giao phó cho mỗi tổ chức đó.
+ Chi cho Quốc phòng-An ninh và trật tự, an toàn xã hội.
Phần lớn là số chi NSNN cho Quốc phòng –an ninh được tính vào cơ
cấu chi thường xuyên của NSNN ( trừ chi đầu tư XDCB cho các công trình
quốc phòng, an ninh) . Sở dĩ sắp xếp như vậy là do nhu cầu chi cho quốc
phòng –an ninh được coi là tất yếu và phải thường xuyên quan tâm khi còn
tồn tịa giai cấp, tồn tịa nhà nước ở mỗi quốc gia riêng biệt. Như vậy,số chi
cho binh sĩ, cho sĩ quan, cho vũ khí và khí tài chuyên dụng của các lực lượng
vũ trang đều được tính vào chi thường xuyên của NSNN hàng năm.
+ Chi khác
Ngoài các khoản chi lớn đã được sáp xếp vào 5 lĩnh vực trên, còn có
một số khoản chi khác cũng được sắp xếp vào cơ cấu chi thường xuyên như:

giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học ; ở các đơn vị sự nghiệp Y tế lại là
hoạt động phòng bệnh, khám bệnh chữa bệnh.
Được tính vào chi nghiệp vụ chuyên môn phải là những khoản chi mà
xét về nội dung kinh tế của nó phải thực sự phục vụ cho hoạt động này.Ví dụ:
Các chi phí về nguồn nguyên liệu, vật liệu, chi phí về năng lượng ,nhiên
liệu ,chi phí cho nghiên cứu vật liệu, chi phí cho hội thảo khoa học, chi phí về
thuê mướn chuyên gia, giáo viên để tư vấn hay đào tạo cho đội ngũ nghiên
cứu; chi phí để tiến hành khảo sát, tham quan học tập những điển hình tiên
tiến về nghiên cứu và ứng dụng công nghệ của một số hoạt động nào đó v,v.
Chính vì vậy trong quá trình hạch toán các khoản chi thường xuyên
phát sinh tại mỗi đơn vị hàng chính sự nghiệp rất cần phải có sự phân định
theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ phát sinh một cách rõ ràng, chuẩn xác.
Nhờ đó mà công tác thống kê, phân tích đánh giá tình hình quản lý và sử dụng
kinh phí ở mỗi đơn vị mới có thể lột tả mức độ quán triệt nguyên tắc tiết kiệm
và hiệu quả đã đạt được ở mức độ nào. Một đơn vị được đánh giá là quản lý
và sử dụng kinh phí chi thường xuyên có hiệu quả khi tỷ trọng chi nghiệp vụ
chuyên môn trong tổng số chi của đơn vị đó luôn phải được ưu tiên sau khi đã
trang trải các nhu cầu chi cho con người theo quy định.
14


+ Các khoản chi mua sắm, sửa chữa.
Trong quá trình hoạt động, các đơn vị hành chính sự nghiệp còn được
cấp kinh phí để mua sắm thêm các tài sản( kể cả tài sản cố định) hay sửa chữa
các tài sản đang trong quá trình sử dụng, nhằm phục vụ kịp thời cho nhu cầu
hoạt động và nâng cao hiệu suất sử dụng của tài sản đó. Cácnhà kinh tế đều
khuyến cáo rằng: Nếu biết chi những đồng tiền để đáp ứng ngay cho nhu cầu
duy tu, bảo dưỡng tài sản trong quá trình sử dụng một cách đúng lúc, kịp thời
thì sẽ góp phần tích cực trong việc kéo dài tuổi thọ của tài sản, chất lượng
phục vụ của tài sản không bị sụt giảm, và vì thế hiệu quả của vốn đầu tư được

đơn vị còn có thể phát sinh các khoản chi khác mà vẫn phải tính vào các nội
dung chi của đơn vị như: chi sử lý các hành vi vi phạm pháp luật của các vụ
sử lý không có thu hoặc thu không đủ chi; chi các khoản khác.
Nếu tiếp cận theo góc nhìn tổng thể của NSNN, còn bộc lộ các khoản chi
chưa được xếp vào 3 nhóm mục chi trên, như : các chi phí thuộc về quản lý
chung của mỗi đơn vị sử dụng Ngân sách ( như đã nêu trên) ; các chi phí mà
chính quyền nhà nước phải làm để hỗ trợ kinh tế tập thể và dân cư (120), chi
cho những người có công với cách mạng và xã hôi ( mục 122) ; chi trợ giá
theo chính sách của nhà nước ( mục 123) ; chi lương hưu và trợ cấp bảo hiểm
xã hội ( mục 124) ; chi bổ sung cho Ngân sách cấp dưới ( mục 125) ; chi hỗ
trợ xuất khẩu và các khoản phụ thu ( mục 126) chi bổ sung quỹ dự chữ tài
chính ; chi hoàn thuế giá trị gia tăng ; chi tài sản được xác lập sở hữu nhà
nước ( mục 131) chi trả các khoản thu năm trước ( muc 132) ; chi nộp Ngân
sách cấp trên ( mục 133) và chi khác ( mục 134) .
Việc phân loại theo nội dung kinh tê là tiêu thức được dùng phổ biến nhất
trong mỗi khâu của chu trình NSNN . đặc biệt trong điều kiện hiện nay đòi
hỏi về quản lý và điều hành phải theo luật NSNN thì vấn đề cụ thể hóa từng
nội dung phải được thể hiện ngay trong từng dự toán. Mặt khác phải thông
qua việc phân loại chi nội dung kinh tê các nhà quản lý có thể thu thập được
các thông tin một cách chính xác về tình hình quản lý kinh tế và quỹ lương,
tình hình quản lý và sử dụng kinh phí đã hướng vào việc nâng cao hiêu quả
chi thường xuyên đạt được ở mức độ nào và tình hình tuân thủ các chính sách
16


chế độ chi NSNN tại mỗi đơn vị thụ hưởng; những bất cập có thể nảy sinh
trong quá trình chấp hành dự toán trong đó có nguyên nhân từ các chính sách
chế độ chi thường xuyên, hay do cơ chế quản lý đối với khoản chi này v.v…
để kịp thời có được các biện pháp nhằm hạn chế những sai lệch do bất cập đó
có thể gây ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status