ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
HÀ THỊ NGẦN
CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH KHOA GIÁO
DÀNH CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở ĐÀI PHÁT THANH & TRUYỀN HÌNH TỈNH
BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành:Báo chí học
Hà Nội-2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
HÀ THỊ NGẦN
CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH KHOA GIÁO
DÀNH CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở ĐÀI PHÁT THANH & TRUYỀN HÌNH TỈNH
BẮC KẠN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Mã số:60.32.01.01
trí của đối tượng nghiên cứu còn hạn chế, trong khi việc tiếp cận các thông tin
mới của tác giả gặp nhiều trở ngại và thời gian nghiên cứu không nhiều nên
luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý
chân thành, xây dựng của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp để luận văn
này thực sự là một công trình nghiên cứu có giá trị.
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
Hà Thị Ngần
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………………… 4
1. Lý do lựa chọn đề tài………………………………………………………….…4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề………………………………………………………6
3. Mục đích, nội dung nghiên cứu………………………………………..………10
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu……………………………………………......11
5. Phƣơng pháp nghiên cứu………………………………………………………11
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn………………………………………………….. 12
7. Kết cấu của luận văn…………………………………………………………...13
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SẢN
XUẤT CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH KHOA GIÁO DÀNH CHO ĐỒNG
BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ……………………………………………..………14
1.1. Hệ thống các khái niệm liên quan đến đề tài………..………………….…..14
1.2. Chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc đối với đồng bào dân tộc
thiểu số & báo chí dành cho đồng bào dân tộc thiểu số………………………...21
1.3.Đặc trƣng của truyền hình và vai trò của truyền hình đối với đồng bào dân
tộc thiểu số……………………………………………………………….………..26
1.4. Đặc điểm tình hình kinh tế- xã hội tỉnh Bắc Kạn…………….……………30
Tiểu kết chƣơng 1………………………………………………………...……….37
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
2
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DTTS:
Dân tộc thiểu số
KHXH&NV :
Khoa học xã hội và nhân văn
MC:
Người dẫn chương trình
PT&TH:
Phát thanh & Truyền hình
PT- TH :
Phát thanh- Truyền hình
PTV:
Phát thanh viên
THVN:
học trong lĩnh vực nông- lâm nghiệp, qua hệ thống khuyến nông cơ sở, tại các buổi
hội nghị tập huấn tập trung. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ khuyến nông còn thiếu và
yếu, trình độ chuyên môn và hoạt động của họ chưa đồng đều. Điều kiện địa hình
phức tạp, chia cắt, giao thông đi lại khó khăn khiến cho nhiều người dân không có
đủ khả năng tham dự các lớp tập huấn tập trung, dẫn đến còn rất nhiều đồng bào
DTTS chưa được tiếp cận với thông tin khoa học. So với các bài giảng khan về vấn
đề khoa học- giáo dục của các giảng viên tại hội trường, các thông tin bằng chữ và
ảnh qua sách báo, áp phíc, tờ rơi …thì thông tin khoa giáo bằng âm thanh trong các
4
chương trình phát thanh và thêm hình ảnh động trong các chương trình truyền hình
có sức hấp dẫn và mang lại hiệu quả tốt hơn.
Hiện nay, cấp ủy, chính quyền địa phương một số nơi ở tỉnh Bắc Kạn vẫn còn
có biểu hiện chủ quan, thiếu quan tâm đến công tác giáo dục, tuyên truyền phổ biến
kiến thức khoa học cho người dân. Hoặc có tuyên truyền thì cũng chưa có cách thức
triển khai phù hợp. Các thế lực thù địch, phản cách mạng đang lợi dụng những yếu
kém, hạn chế này để chống phá Đảng và tuyên truyền những luận điệu sai trái, nội
dung phản khoa học, gây ảnh hưởng xấu, cản trở sự phát triển kinh tế xã hội vùng
đồng bào DTTS. Công chúng của các Đài Phát thanh và truyền hình ở Bắc Kạn chủ
yếu là đồng bào DTTS, trong đó có một bộ phận trình độ dân trí còn thấp. Số lượng
khán giả là đồng bào DTTS quan tâm đến các chương trình của Đài địa phương
chưa nhiều. Một trong những lí do chính là vì Đài chưa có nhiều chương trình hấp
dẫn được đồng bào DTTS quan tâm. Nghiên cứu, tìm tòi sản xuất các chương trình
phát thanh - truyền hình phù hợp, có tác dụng nâng cao dân trí cho bộ phận khán giả
chiếm đa số ở địa phương là nhiệm vụ cần được Đài ưu tiên thực hiện.
Việc xây dựng kế hoạch sản xuất, phát sóng và các vấn đề liên quan đến
chương trình truyền hình khoa giáo ở Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Kạn hiện
nay còn thể hiện nhiều bất cập. Từ việc tổ chức bộ máy, bố trí nhân lực cho đến
trị, ủng hộ và bảo vệ tiến bộ xã hội. Thời kỳ Mác- Ănghen, hai ông đề cao chức
năng truyền bá tư tưởng và cổ vũ hành động của báo chí. Các Mác đã lợi dụng triệt
để tự do báo chí tư sản nửa cuối thế kỷ XIX để truyền bá hệ tư tưởng mới – chủ
nghĩa xã hội khoa học do ông sáng lập. Các nhà lí luận báo chí Xô viết trong thời kỳ
xây dựng chủ nghĩa xã hội từ năm 1917 đến 1991 đã khái quát 3 nhóm chức năng
của báo chí , trong đó có nhóm chức năng khai sáng- giải trí.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “ Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách
mạng; cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ” . “ Chiến sỹ” mà Bác nói ở đây
là chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng văn hóa. Nhà báo thông qua các sự kiện của đời
sống để giải thích, giải đáp và thuyết phục nhân dân. Người cũng căn dặn các nhà
báo cần luôn nhớ mỗi khi cầm bút, đó là: “Viết cho ai, viết như thế nào?”. Ngay khi
cách mạng vừa dành được chính quyền, điều mà Người quan tâm đầu tiên chính là
6
vận động toàn dân diệt giặc đói, giặc dốt. Điều đó cho thấy vai trò đặc biệt quan
trọng của việc nâng cao dân trí trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.
Đề cập đến chức năng giáo dục tư tưởng, chức năng phát triển văn hóa và
giải trí, nhóm tác giả Dương Xuân Sơn- Đinh Văn Hường- Trần Quang cho rằng:
“Báo chí là một trong những phương tiện quan trọng của Đảng thực hiện chức năng
giáo dục chính trị- tư tưởng cho quần chúng. Hoạt động giáo dục tư tưởng của báo
chí dựa trên sự tác động có tính thuyết phục bằng việc thông tin những sự kiện, hiện
tượng, quá trình của đời sống xã hội một cách trung thực và khách quan. Sự phản
ánh kịp thời, phong phú các sự kiện, kết hợp với minh chứng chặt chẽ và khoa học
là cơ sở tạo nên chất lượng mới trong nhận thức của công chúng- sự nhận thức có lý
trí, tự giác những quan điểm về cuộc sống, những lý tưởng xã hội, những giá trị của
hiện thực” [32, tr 77]. Một trong những nội dung tuyên truyền của Báo chí được đề
cập là: “Truyền bá những tri thức lịch sử, khoa học tiên tiến nhằm xây dựng và phát
triển lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, xây dựng lối sống lành mạnh, tích cực và
vùng đồng bào dân tộc thiểu số (tài liệu lưu hành nội bộ). Tài liệu này hệ thống toàn
bộ quan điểm và định hướng của Đảng về công tác khoa giáo đối với đồng bào
DTTS; Vấn đề đẩy mạnh hơn nữa công tác khoa giáo vùng đồng bào DTTS và
Công tác khoa giáo vùng đồng bào DTTS phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Tài liệu cũng đã phản ánh kết qua công tác khoa giáo vùng đồng
bào dân tộc thiểu số, thành tựu và những vấn đề đặt ra đối với từng lĩnh vực: Giáo
dục và đào tạo, Khoa học công nghệ và môi trường, Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe
nhân dân, Dân số, gia đình và trẻ em, Thể dục thể thao.
2.3. Các công trình nghiên cứu về thông tin khoa học, chỉ dẫn và truyền thông
cho đồng bào DTTS
Cùng với các công trình nghiên cứu đã xuất bản, còn có những đề tài nghiên
cứu về vai trò của báo chí; chức năng khai sáng của báo chí; việc tổ chức sản xuất
tác phẩm báo chí cho đồng bào dân tộc thiểu số được bảo vệ thành công trước các
hội đồng khoa học như:
Năm 2007, tác giả Trần Bảo Khánh đã bảo vệ thành công Luận án tiến sỹ
với đề tài “Đặc điểm công chúng truyền hình Việt Nam giai đoạn hiện nay”. Tuy
nhiên trong luận án này tác giả chỉ đề cập một khía cạnh nhỏ và khá chung về công
8
chúng truyền hình khu vực miền núi phía Bắc. Một số khóa luận, luận văn của một
số sinh viên khoa Báo chí, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội như: “Các ấn phẩm
báo chí của TTXVN phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thời kỳ đổi
mới” của Trương Văn Quân; “Vấn đề chỉ dẫn-tư vấn khoa học kỹ thuật nông nghiệp
cho nông dân trên báo chí Việt Nam” của tác giả Bùi Thị Hồng Vân; “Thông tin
kinh tế - xã hội trên báo trực tuyến các tỉnh miền núi phía bắc” của tác giả Hoàng
Chung Thảo; “Công tác đào tạo nghiệp vụ báo hình trong xu thế xã hội hóa sản xuất
chương trình truyền hình” -Lê Thu Hà; “Sử dụng thông tin đồ họa trong các chương
trình truyền hình hiện nay” - Ngô Thị Yến; “ Báo chí với việc tuyên truyền, giáo
niệm nền tảng, đưa ra những đánh giá chính xác, khách quan về các chương trình
truyền hình khoa giáo dành cho đồng bào DTTS ở Đài Phát thanh & Truyền hình
tỉnh Bắc Kạn. Phân tích điểm mạnh, những hạn chế, nguyên nhân, từ đó đề xuất các
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình khoa giáo dành
cho đồng bào DTTS ở tỉnh Bắc Kạn.
3.2.Nội dung nghiên cứu
Để nghiên cứu về chương trình truyền hình khoa giáo ở Đài Phát thanh và
Truyền hình tỉnh Bắc Kạn, tác giả luận văn sẽ thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu
sau đây:
Thứ nhất: Hệ thống lại cơ sở lí luận phục vụ cho việc nghiên cứu. Đó là các
khái niệm về truyền hình, chương trình truyền hình, chương trình truyền hình khoa
giáo và những khái niệm liên quan đến đề tài như: công chúng, truyền thông cho
đồng bào DTTS, những ảnh hưởng của chương trình truyền hình khoa giáo đối với
đời sống đồng bào DTTS.
Thứ hai, làm rõ chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước và tỉnh Bắc Kạn
về vấn đề nâng cao dân trí, đời sống mọi mặt của đồng bào dân tộc thiểu số miền
núi, vùng cao. Làm rõ chủ trương, quan điểm của Đài Phát thanh và Truyền hình
tỉnh Bắc Kạn đối với việc sản xuất chương trình truyền hình khoa giáo cho đồng
bào DTTS ở địa phương.
Thứ ba: Phân tích đặc điểm của chương trình truyển hình khoa giáo ở Đài
Phát thanh & Truyền hình tỉnh Bắc Kạn, đưa ra được những nhận xét chính xác,
khách quan về chương trình, đánh giá được thực tế hoạt động sản xuất chương trình
10
truyền hình khoa giáo cho đồng bào DTTS ở Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh
Bắc Kạn.
Thứ tư: Phân tích ưu điểm, hạn chế của hoạt động sản xuất chương trình
truyền hình khoa giáo ở Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bắc Kạn. Tìm nguyên
Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn sâu một số hộ đồng bào DTTS
có điều kiện xem được chương trình truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền
hình tỉnh Bắc Kạn. Đây là các hộ đồng bào DTTS được chọn lựa ngẫu nhiên ở các
xã thuộc 2 huyện Ba Bể và Pác Nặm của tỉnh Bắc Kạn ( là 2 huyện đang được
hưởng chế độ huyện nghèo theo Quyết định 30a) và các huyện Chợ Đồn, Na Rỳ,
Bạch Thông. Các câu hỏi xoay quanh việc tiếp nhận các sản phẩm khoa giáo truyền
hình của Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bắc Kạn cũng như những suy nghĩ, quan
điểm về vấn đề này. Phỏng vấn một số phóng viên và chuyên gia trực tiếp tham gia
sản xuất chương trình khoa giáo cho đồng bào DTTS về việc thực hiện chương
trình truyền hình khoa giáo và những kiến nghị. Với kết quả thu được, tác giả tiếp
tục sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích để đưa ra những nhận định khách
quan nhất về thực trạng sản xuất và hiệu quả của chương trình khoa giáo truyền
hình đối với đồng bào DTTS ở Bắc Kạn.
Phương pháp quan sát: Đi thực tế tại các vùng đồng bào DTTS ở Bắc Kạn,
quan sát đời sống của đồng bào, tìm hiểu thông tin, quan sát về việc xem chương
trình truyền hình Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bắc Kạn của bà con..v.v…
Từ kết quả nghiên cứu bằng nhiều phương pháp, tác giả sẽ tổng hợp, phân tích
và đưa ra những nhận định về chương trình truyền hình khoa giáo ở Đài Phát thanh
& Truyền hình tỉnh Bắc Kạn, nhu cầu của công chúng DTTS ở tỉnh Bắc Kạn, những
yêu cầu đối với chương trình truyền hình khoa giáo dành cho đồng bào DTTS ở tỉnh
Bắc Kạn trong giai đoạn hiện nay…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Đề tài là tài liệu khoa học lý luận về báo chí truyền thông, có thể sử dụng làm
cơ sở để các phóng viên, nhà nghiên cứu tham khảo trong quá trình tác nghiệp hoặc
nghiên cứu về hoạt động thông tin tuyên truyền kiến thức khoa học giáo dục ở tỉnh
Bắc Kạn nói riêng, vùng miền núi, vùng cao, vùng đồng bào DTTS nói chung.
12
BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Hệ thống các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1. Truyền hình
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu thông tin càng lớn. Do nhu cầu thông tin,
giao tiếp của đời sống xã hội con người nên có sự ra đời của báo chí. Ngày nay, nói
đến báo chí người ta thường nhắc đến bốn loại hình báo chí cơ bản đó là: báo in,
báo nói ( phát thanh), báo hình ( truyền hình) và báo điện tử.
“Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động
với nhiều sắc màu vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động”[7, tr
118]
“Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin
bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện”
[33,tr5]. “ Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng
Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là ''ở xa'' còn “videre” là ''thấy
được'', còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa. Ghép hai từ đó lại “Televidere”
có nghĩa là xem được ở xa. Tiếng Anh là “Television”, tiếng Pháp là “Television”,
tiếng Nga gọi là “Tелевидение”. Như vậy, dù có phát triển bất cứ ở đâu, ở quốc gia
nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa”[ 33, tr 8]. Tác giả Nguyễn
Văn Dững cho rằng: “Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng
hình ảnh động với nhiều sắc màu vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc,
tiếng động” [ 7, tr 118].
Xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự
phát triển của khoa học công nghệ, truyền hình tạo ra một kênh thông tin quan trọng
trong đời sống xã hội. Khác với báo in, người đọc chỉ tiếp nhận thông tin bằng con
đường thị giác; khác với phát thanh, công chúng tiếp cận thông tin bằng con đường
14
thính giác, người xem truyền hình tiếp cận sự việc bằng cả thị giác và thính giác. Do
vậy truyền hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có độ tin cậy
truyền hình bắt buộc công chúng tiếp nhận thông tin thụ động theo thời gian tuyến
tính. Vì thế, khi nói xem truyền hình thì cần hiểu là xem chương trình truyền hình.
Xem hết chương trình này thì mới đến chương trình khác. Các chương trình truyền
hình được nhận biết bởi tên của chương trình. Ví dụ: Thời sự, Bản tin tài chính,
Bản tin thời tiết, Bản tin thể thao, Chúng tôi là chiến sỹ, Nhà nông đua tài…
Một chương trình truyền hình hiện nay không chỉ là một tổng hợp của các
tin, bài lại với nhau. Có nhiều chương trình chỉ có một nội dung xuyên suốt, chung
một cách thức thể hiện. Ví dụ: Chương trình Tọa đàm đối thoại chính sách chỉ có
một nội dung là các câu hỏi của MC, các câu trả lời, bình luận của khách mời về
chính sách; Các chương trình khoa giáo giới thiệu về thế giới động vật, tiến trình
văn hóa hoặc một giờ giảng bổ trợ kiến thức cho học sinh … đều chỉ có một nội
dung từ đầu đến cuối chương trình. Tương tự, các game show, các chương trình
truyền hình thực tế cũng không phải đã được cấu tạo từ những tin, bài. Có chương
trình thời lượng dài vài chục phút đến vài tiếng đồng hồ nhưng cũng có chương
trình ngắn chỉ vài phút. Tuy nhiên những nội dung này đều có tính độc lập rất cao
so với các chương trình khác phát liền với nó.
Trong luận văn cao học, Lê Mai Hương Trà (Đại học KHXH & NV, 2011)
cho rằng truyền hình chuyên biệt “là một hình thức truyền hình dịch vụ được xây
dựng chuyên nghiệp phát sóng hàng ngày có nội dung chuyên sâu về một lĩnh vực
nhất định (âm nhạc, thể thao, tài chính…) hoặc có nội dung chỉ dành cho một nhóm
đối tượng khán giả mục tiêu (có những đặc điểm chung về lứa tuổi , giới tính, địa
lý...) nhằ m mu ̣c tiêu phu ̣c vu ̣ tố t nhấ t nhu cầ u của công chúng xem truyề n hình
.”
[36, tr 4]. Hiện nay, công chúng có nhiều cách để xem truyền hình. Ngoài cách phổ
thông là xem bằng tivi, người ta có thể xem trên điện thoại di động có chức năng
thu tín hiệu truyền hình hoặc xem chương trình qua internet trên máy tính, điện
thoại. Khi xem các sản phẩm truyền thông trên internet, nếu xem truyền hình trực
tuyến thì người xem sẽ được tiếp cận với chương trình truyền hình như khi xem
17
thiên văn học, khoa học Trái Đất, vật lý, và sinh học. Lĩnh vực Giáo dục gồm: mầm
non, phổ thông, dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, sau đại học.
Công tác khoa giáo là hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong các lĩnh
vực nói trên nhằm thực hiện đường lối của Đảng; phát huy sức mạnh của toàn dân,
chăm lo nhân tố con người, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu vận
dụng, đưa nhanh các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất để tăng trưởng kinh
tế, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Công tác khoa giáo bao gồm nhiều lĩnh vực rộng lớn như khoa học và công nghệ;
giáo dục và đào tạo; chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ; dân số, gia đình và trẻ em; thể dục,
thể thao; công tác tri thức khoa học; công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân tài. Ở Việt
Nam, có một hệ thống tổ chức bộ máy chuyên về công tác khoa giáo từ Trung ương
đến địa phương. Cấp Trung ương có Ban Tuyên giáo Trung ương là cơ quan tham
mưu của Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị,
Ban Bí thư về chủ trương và các chính sách lớn thuộc lĩnh vực khoa giáo (bao gồm
khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo, sức khoẻ, giới trí thức khoa học). Dưới Ban
Tuyên giáo Trung ương là các Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Thành ủy. Dưới Ban Tuyên
giáo các tỉnh là hệ thống các Ban Tuyên giáo Huyện ủy và tương đương. Ở một số
địa phương có cả Ban tuyên giáo cấp xã và tương đương.
Trong hoạt động truyền thông, cụm từ “khoa giáo”, “ khoa học giáo dục”
được dùng đi kèm với sản phẩm truyền thông. Ví dụ như: thông tin khoa giáo,
phóng sự khoa giáo, chương trình khoa giáo, kênh truyền hình khoa học giáo dục
(VTV2) của Đài THVN, hệ phát thanh văn hóa đời sống khoa giáo( VOV2) của Đài
TNVN... Cụm từ “khoa giáo” ở đây sẽ giúp người nghe nhận biết được đó là sản
phẩm truyền thông có nội dung khoa giáo (khi cần phân biệt với sản phẩm truyền
thông có nội dung thời sự hoặc phục vụ nhu cầu giải trí cho công chúng.)
Theo tác giả thì thông tin khoa giáo là các thông tin về vấn đề khoa giáo, có
là khách hàng của cơ quan báo chí; trên khía cạnh xã hội, là lực lượng quan trọng,
quyết định vai trò, vị thế xã hội của cơ quan báo chí. Theo tác giả luận văn thì công
chúng truyền hình là nhóm công chúng xem được chương trình truyền hình. Họ có
19
điều kiện tiếp cận với chương trình truyền hình do có nhu cầu xem truyền hình, có
điều kiện tiếp cận các thiết bị kỹ thuật thu tín hiệu truyền hình và hỗ trợ xem
chương trình truyền hình ( ti vi, máy tính, điện thoại di động thông minh).
Công chúng truyền hình hiện nay rất phong phú với những nhu cầu rất đa
dạng. Trước đây, đa số công chúng truyền hình là công chúng phổ thông, đại trà.
Ngày nay, với sự phát triển của xã hội, đã có sự phân lập cao trong công chúng
truyền thông nói chung, công chúng truyền hình nói riêng. Các nhà nghiên cứu đã
chỉ ra một số nhóm công chúng trong xã hội Việt Nam gần đây như: Công chúng trí
thức, công chúng nông dân, công chúng lao động tự do, học sinh, sinh viên, thanh
niên, phụ nữ, người cao tuổi, trẻ em, đồng bào DTTS, lực lượng vũ trang, nhà khoa
học, người hâm mộ bóng đá, thể thao, phim ảnh , người đam mê khoa học công
nghệ, người quan tâm đến vấn đề sức khỏe, người tâm đến lĩnh vực tài chính, tiền
tệ…Với mỗi nhóm công chúng, truyền thông cần có một cách tiếp cận riêng phù
hợp với nhu cầu của họ. Đó là lí do xuất hiện hàng loạt các báo, tạp chí, kênh truyền
hình, chương trình truyền hình chuyên biệt dành cho nhóm công chúng. Có thể kể
ra một số kênh truyền hình chuyên biệt như O2 TV, Bóng đá TV, info TV, HBO,
phim Việt, VTV2, VTV3, VTV4, VTV5, VTV6…
Công chúng DTTS là nhóm công chúng thuộc đối tượng nghiên cứu của luận
văn này. Công chúng DTTS là những người DTTS chịu tác động của truyền thông,
họ có trình độ không đồng đều, trải khắp các tỉnh, thành trong cả nước. Song, tập
trung nhiều nhất ở khu vực trung du và miền núi. Ở vùng Đông Bắc, tỷ lệ DTTS
chiếm đến 41,3% dân số toàn vùng. Các DTTS đa phần không cư trú trên một lãnh
địa riêng, biệt lập và tập trung mà sống xen ghép lẫn nhau trên cùng địa bàn. Theo
một nghiên cứu của World Bank, đa phần lao động của vùng dân tộc và miền núi
3/ 1935), Đảng đã có Nghị quyết “ Về công tác trong các DTTS”. Hiến pháp năm
1946- Hiến pháp đầu tiên của Nước Việt Nam độc lập khẳng định: “ Ngoài sự bình
đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để
tiến kịp trình độ chung”. Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Việt Nam ( tháng 2/
1951) đã quyết nghị: “ Cải thiện đời sống cho các DTTS, giúp đỡ họ tiến bộ về mọi
mặt, đảm bảo họ tham gia chính quyền và dùng tiếng mẹ đẻ trong giáo dục ở các địa
21