DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT: Bảo hiểm y tế
BHXH: Bảo hiểm xã hội
CN-TTCN: Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
DTTS: Dân tộc thiểu số
DS-KHHGĐ: Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
MTTW: Mục tiêu trung ương
MTTQ: mặt trận Tổ quốc
NHCSXH: Ngân hàng chính sách xã hội
HĐND: Hội đồng nhân dân
TH: Tiểu học
TBCN: Tư bản chủ nghĩa
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
XĐGN: Xóa đói giảm nghèo
UBND: Ủy ban nhân dân
GTSX: Giá trị sản xuất
KCNSCT3TL: Không có người sinh con thứ 3 trở lên
DANH MỤC BẢNG
* Phương pháp nghiên cứu.............................................................................................7
Nhằm đánh giá khách quan, khoa học công cuộc xóa đói giảm nghèo cho đồng bào
dân tộc thiểu số ở huyện Vĩnh Thạnh (thành phố Cần Thơ) trên cơ sở nắm vững quan
điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, nắm vững
quan điểm đường lối của Đảng và chính sách của nhà nước, luận văn sử dụng chủ yếu
các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành là phương pháp lịch sử và phương pháp
logic, đồng thời kết hợp với các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác như phân tích,
tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu tư liệu, phương pháp định lượng định tính…. . .7
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, việc phát huy sức mạnh của khối đại
đoàn kết dân tộc có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển của đất nước. Chính vì
1
thế, xóa đói, giảm nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan
trọng ở Việt Nam trong thời gian tới.
Vĩnh Thạnh là một huyện vùng sâu xa trung tâm thành phố Cần Thơ,
nằm tiếp giáp với hai tỉnh An Giang và Kiên Giang. Tính đến năm 2014, số hộ
dân trên địa bàn huyện có 27.117 hộ, với 116.110 nhân khẩu, trong đó có 365
hộ dân tộc thiểu số, với 1.448 nhân khẩu. Kinh tế huyện chủ yếu là sản xuất
nông nghiệp. Vì là huyện đầu nguồn nên thường bị ảnh hưởng bởi lũ lụt lớn,
gây thiệt hại không nhỏ đến cơ sở hạ tầng nông thôn, đời sống và điều kiện
phát triển sản xuất của người dân gặp nhiều khó khăn. Đồng thời, hàng hóa
nông sản như lúa, heo, cá, … sản xuất ra nhưng khó tiêu thụ, do đầu ra còn
hạn chế, giá cả thấp, làm cho thu nhập người dân không cao. Thực tế cho
thấy, nguyên nhân nghèo đói của một bộ phận dân cư trên địa bàn huyện chủ
yếu là do thiếu vốn, thiếu đất sản xuất, thiếu việc làm, đông con, bệnh tật nan
y. Mặt khác, một số còn do đam mê các tệ nạn xã hội như: cờ bạc, rượu chè,
lãng phí và lười lao động.
Cùng với cả nước, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo điều hành
của Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện, sự phối hợp giữa các ban ngành
chính quyền và Mặt trận, các đoàn thể, công cuộc xóa đói giảm nghèo ở
huyện Vĩnh Thạnh đã có sự chuyển biến quan trọng với nhiều kết quả đáng
ghi nhận. Đặc biệt, đối với đồng bào dân tộc thiểu số, tinh thần đoàn kết tương
trợ trong nhân dân và chính sách xã hội đối với người nghèo được thực hiện
khá tốt. Tuy nhiên, bên cạnh đó, quá trình thực hiện chính sách xoá đói giảm
nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh cũng bộc lộ một số hạn chế, tồn tại rất cần được
làm rõ nguyên nhân và cách khắc phục.
Do vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện về công cuộc xoá đói giảm
đói giảm nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số huyện Vĩnh Thạnh.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Thông qua việc nghiên cứu về Công cuộc xóa đói, giảm nghèo cho
đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Vĩnh Thạnh (thành phố Cần Thơ) giai
đoạn 2004-2014, luận văn góp thêm một cái nhìn cụ thể và toàn diện hơn về
quá trình thực hiện chủ trương, chính sách xoá đói giảm nghèo của Đảng và
Nhà nước ở các địa phương nói chung và đối với đồng bào dân tộc thiểu số
4
nói riêng. Đồng thời, trên cơ sở đó đánh giá một cách khách quan về hiệu quả
của các chính sách trong quá trình triển khai ở huyện Vĩnh Thạnh và giúp cho
các cấp lãnh đạo, chính quyền ở địa phương rút ra những bài học kinh nghiệm
cho công tác hoạch định và thực thi chính sách trong giai đoạn sắp tới.
* Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn sẽ tập trung làm rõ
các vấn đề khoa học cụ thể, như sau:
+ Các yếu tố tác động đến công cuộc xóa đói giảm nghèo cho đồng bào
dân tộc thiểu số trên đại bàn huyện Vĩnh Thạnh giai đoạn 2004-2014.
+ Quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân
tộc thiểu số trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh giai đoạn 2004-2014.
+ Thông qua nghiên cứu rút ra những đặc điểm, tác động của công cuộc
xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Vĩnh
Thạnh giai đoạn 2004-2014.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công cuộc xóa đói, giảm nghèo
cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Vĩnh Thạnh (thành phố Cần Thơ) mà
cụ thể là quá trình thực hiện các giải pháp, chính sách XĐGN cho cộng đồng
dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh và đặc điểm tác động của
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng tư liệu điền dã, tổng hợp các số liệu từ
việc đi thực tế tại các xã, thị trấn có đông đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh
sống trên địa bàn huyện.
6
* Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đánh giá khách quan, khoa học công cuộc xóa đói giảm
nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Vĩnh Thạnh (thành phố Cần
Thơ) trên cơ sở nắm vững quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác – Lênin, nắm vững quan điểm đường lối của Đảng và
chính sách của nhà nước, luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên
cứu chuyên ngành là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, đồng thời
kết hợp với các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác như phân tích, tổng hợp,
thống kê, so sánh, đối chiếu tư liệu, phương pháp định lượng định tính…
6. Đóng góp của luận văn
Thứ nhất, Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn
diên, hệ thống về công cuộc xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu
số ở huyện Vĩnh Thạnh trong giai đoạn 2004-2014, góp phần làm phong phú
thêm những công trình nghiên cứu về lịch sử địa phương huyện Vĩnh Thạnh.
Đồng thời, luận văn cũng góp phần phản ánh sinh động hơn bức tranh kinh tế
- xã hội huyện Vĩnh Thạnh trong thời kỳ đổi mới.
Thứ hai, Luận văn đã phân tích, đánh giá những yếu tố tác động, những
thuận lợi và khó khăn của địa phương trong quá trình thực hiện chính sách
xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số, tìm ra nguyên nhân của
thực trạng đói nghèo và các giải pháp chủ yếu của địa phương nhằm giải
quyết vấn đề đói nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số với những kết quả đạt
được và hạn chế còn tồn tại.
Thứ ba, Luận văn góp phần cung cấp cơ sở tư liệu và căn cứ khoa học
162/2007/NĐ-CP,
ngày
06/11/2007;
12/NĐ-CP,
ngày
23/12/2008), hiện nay huyện Vĩnh Thạnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc
(gồm 09 xã và 02 thị trấn), với 29.823,41 ha diện tích tự nhiên và 127.769
nhân khẩu.
Tổng diện tích tự nhiên của huyện năm 2013 là 29.823,41 ha, dân số
115.330 người, chiếm 21,17% diện tích và 9,61% dân số thành phố Cần Thơ,
bao gồm 11 đơn vị hành chính: thị trấn Vĩnh Thạnh, Thạnh An; các xã: Thạnh
Mỹ, Vĩnh Trinh, Thạnh Tiến, Thạnh An, Thạnh Thắng, Thạnh Lợi, Thạnh
Quới, Vĩnh Bình và Thạnh Lộc.
8
Về địa giới hành chính: Huyện Vĩnh Thạnh là vùng ngoại thành xa
trung tâm thành phố Cần Thơ; phía Bắc giáp với huyện Thoại Sơn, tỉnh An
Giang; Phía Đông giáp quận Thốt Nốt; Phía Tây giáp huyện Tân Hiệp, tỉnh
Kiên Giang; Phía Nam giáp huyện Cờ Đỏ. Là cửa ngõ phía Tây Bắc của thành
phố Cần Thơ cách trung tâm thành phố Cần Thơ 70 km, tiếp giáp tỉnh Kiên
Giang 50 km, tỉnh An Giang 25 km, nên mặc dù xa trung tâm thành phố Cần
Thơ nhưng lại có điều kiện giao thông thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Về đường bộ: Huyện có Quốc lộ 80 chạy qua, nối Cần Thơ, An Giang
Bảng 1. Phân loại và diện tích các loại đất huyện Vĩnh Thạnh
STT
I
1
2
3
II
4
5
6
III
7
8
9
10
IV
Ký
hiệu
Tên đất
Diện tích
(ha)
(%)
9.099,13
30,51
NHÓM ĐẤT PHÈN
Đất phèn hoạt động nông, trên nền phèn
61,54
Đất phù sa có tầng loang lỗ đỏ vàng
Pf
7.771,66
26,06
Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, có
Pf(b) 2.784,35
9,34
ảnh hưởng phù sa mới
Đất phù sa gley
Pg
6.949,86
23,30
Đất phù sa gley, có ảnh hưởng phù sa
Pg(b)
848,19
2,84
mới
SÔNG RẠCH
164,88
0,55
TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN
29.823,41 100,00
Nguồn: Quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn TP. Cần Thơ đến
năm 2020, trang 25
Nhóm đất phèn: có quy mô diện tích là 9.099,13 ha, chiếm 30,51% diện
tích tự nhiên; xuất hiện trên những bề mặt địa hình thấp trũng, tập trung ở khu
vực phía Tây, Tây Nam huyện Vĩnh Thạnh, gồm 3 loại đất:
Đất phèn hoạt động nông trên nền phèn tiềm tàng (Sj1p) có hàm lượng
Nhóm đất phù sa: có quy mô diện tích là 18.354,06 ha, chiếm 61,54%
DTTN; xuất hiện trên những bề mặt địa hình từ trung bình thấp đến khá cao,
phân bố hầu hết các xã trên địa bàn huyện. Đất hình thành trên trầm tích sông
hoặc sông biển tuổi Holocene, không có tầng phèn tiềm tàng hoặc phèn hoạt
động chỉ xuất hiện trong độ sâu 0-125 cm. Nhóm đất phù sa gồm 3 loại đất:
Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf) có hàm lượng dinh dưỡng khá
cao; yếu tố hạn chế chính là nghèo lân dễ tiêu và sắt hòa tan có thể lên cao
trong một số thời điểm trong năm nhất là vào đầu mùa mưa. Ngoài ra, lượng
hữu cơ khá cao trong một số khu vực có thời gian ngập nước lâu cũng có thể
12
ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng lúa. Hầu hết diện tích đất Pf là đất
3 vụ lúa; một số ít diện tích là đất trồng cây ăn quả (lên líp) hoặc luân canh
lúa - màu, đất trồng màu và nhà ở rải rác. Đất Pf một mặt có ưu thế là phân
bố trên địa hình khá bằng phẳng, mặt khác lại nằm trong vùng có tưới chủ
động. Vì vậy đề nghị nên ưu tiên bố trí cho chuyên canh lúa nước hoặc luân
canh lúa - màu.
Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng có ảnh hưởng phù sa mới (Pf(b))
Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng có ảnh hưởng phù sa mới là loại đất
tốt; chúng vừa có hàm lượng dinh dưỡng cao lại rất ít độc tố. Ngoài ra, còn
có lợi thế về vị trí phân bố, điều kiện địa hình và nguồn nước, phần lớn
diện tích đất Pf(b) là đất 2-3 vụ lúa hoặc luân canh lúa - màu; một phần
diện tích là đất trồng màu hoặc trồng cây ăn quả và nhà ở rải rác. Đất Pf(b)
một mặt có ưu thế về bề mặt địa hình bằng phẳng và hơi cao, mặt khác lại
phân bố gần sông rất thuận lợi cả về nguồn nước tưới tiêu. Vì vậy đề nghị
nên ưu tiên bố trí cho luân canh lúa màu, chuyên lúa nước, chuyên trồng
màu hoặc lập líp để trồng cây ăn quả.
Đất phù sa gley (Pg): là loại đất khá tốt; đất chua vừa, chứa ít độc tố,
hàm lượng dinh dưỡng cho cây trồng khá cao, lại được phân bố ở địa hình
1.
a.
b.
2.
3.
4.
II.
1.
2.
3.
4.
5.
6.
III.
Diện tích đất sử dụng
(%)
Loại Đất
Tổng diện tích đất tự nhiên
29.823,41
Đất nông nghiệp
26.884,66
Đất trồng cây hàng năm
25.258,20
Đất lúa, lúa màu
25.176,68
Đất trồng hàng năm khác
81,52
các tháng trong năm không lớn (khoảng 3 oC). Nhiệt độ trung bình năm là
27,26oC (trung bình thấp nhất 20,24oC, trung bình cao nhất 35,58oC). Độ ẩm ở
mức trung bình (82,81%), ít chịu ảnh hưởng của bão nên khá thuận lợi cho
sản xuất nông nghiệp – thuỷ sản. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào
cuối tháng 11, chiếm trên 90% tổng lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 12
đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình năm khá lớn, khoảng 1.535,04
mm, với số ngày mưa trung bình 125 ngày/năm. Tuy nhiên, lượng mưa phân
bổ không đều.
Nhìn chung, điều kiện khí hậu của huyện thuận lợi cho nền nông nghiệp
đa canh và thâm canh có hiệu quả khi được đầu tư đồng bộ hệ thống thủy lợi
(tưới, tiêu) và năng lực sản xuất (cơ giới hóa, kỹ thuật, vốn...). Do đặc điểm khí
hậu nên sản phẩm nông nghiệp có tính mùa vụ, sản xuất nông nghiệp vì vậy
phải luôn chú ý đến yếu tố chọn tạo giống mới, chuyển đổi cơ cấu, kỹ thuật
canh tác để thu hoạch rải vụ, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Ngoài ra yếu tố độ ẩm cao, lượng mưa phân bố không đều cũng đòi hỏi nhiều
trang bị kỹ thuật cho khâu phơi sấy, tồn trữ và bảo quản nông sản.
Thuỷ văn: Vĩnh Thạnh nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ
bán nhật triều biển Đông thông qua sông Hậu. Tuy nhiên, do vị trí khá xa biển
nên không bị nhiễm mặn; ngoài ra còn có thể lợi dụng thủy triều để dẫn nước
tưới cho đồng ruộng.
Sông Hậu có lưu lượng dòng chảy lớn, tuy nhiên sự phân bố của lượng
dòng chảy không đều trong năm. Trong đó, có đến 70-85% lượng dòng chảy
năm đổ dồn về vào các tháng mùa mưa. Nước sông nhiều, mưa nội đồng lớn,
triều dâng cao kết hợp với điều kiện địa hình bằng thấp của khu vực gây nên
15
ngập úng. Đây là hiện tượng thủy văn xảy ra thường xuyên ở khu vực phía
Tây Bắc Cần Thơ (từ phía Tây Nam quận Thốt Nốt, quận Ô Môn sang các
huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai).
giải trí của khách du lịch thập phương về vùng quê sông nước.
Là một huyện thuần nông, dân số đa phần di cư từ mọi miền đất nước
đến sinh sống đem đến những bản sắc văn hoá khác nhau, vấn đề dân tộc,
tôn giáo, trật tự an toàn xã hội của huyện khá phức tạp. Tuy nhiên, với bản
chất chịu thương chịu khó, đoàn kết tương ái đã góp phần phát triển kinh tế,
ổn định trật tự trị an, đã đưa kinh tế Vĩnh Thạnh thoát khỏi tình trạng kém
phát triển.
1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.2.1. Kinh tế
Vĩnh Thạnh là huyện thuần nông, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đưa kinh tế nông nghiệp phát triển
toàn diện theo hướng công nghệ cao, nâng cao giá trị sản xuất góp phần cải
thiện đời sống nông dân, chuyển biến bộ mặt nông thôn, đến nay, toàn huyện
có 98% diện tích lúa chất lượng cao, đạt sản lượng 378.000 tấn, là địa phương
duy nhất của thành phố Cần Thơ không còn sản xuất lúa chất lượng thấp
IR50404. Diện tích nuôi thủy sản được mở rộng, sản lượng tăng gấp đôi năm
2005. Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển theo qui mô bán công nghiệp, chủ
động kiểm soát được dịch bệnh nên đạt giá trị sản xuất đạt bình quân 1.300 tỉ
đồng, tăng 1,16 lần năm 2005.
Trong những năm qua, công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc
làm đã được chú trọng nên tỷ lệ lao động trong độ tuổi tham gia làm việc
trong nền kinh tế luôn ở mức cao 95,36% năm 2005, năm 2010 là 94,15% và
98,74% năm 2013. Tỷ lệ lao động được đào tạo tăng rất nhanh trong những
năm gần đây đã giúp giải quyết việc làm và giảm dần tỷ lệ lao động thất
nghiệp, bình quân mỗi năm trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh tạo việc làm mới
cho hơn 800 lao động, đây là mức khá cao so với phạm vi, quy mô của một
địa bàn cấp huyện. Tuy nhiên phần lớn lao động ở địa phương là lao động phổ
17
18
mục đích phi nông nghiệp (xây dựng các dự án như khu hành chính huyện,
các trụ sở cơ quan cấp xã, khu tái định cư, xây dựng cơ sở hạ tầng, ...), một
phần vì chia tách địa giới hành chính huyện (đây là nguyên nhân chính). Giai
đoạn 2011 - 2013 tốc độ tăng trưởng của ngành đạt khoảng 4,18% theo giá so
sánh 1994 và 2,97% theo giá so sánh năm 2010.
Ngành lâm nghiệp không đóng góp nhiều vào phát triển kinh tế nhưng
giữ vai trò rất quan trọng trong bảo vệ môi trường sinh thái cho phát triển đô
thị thành phố Cần Thơ nói chung và huyện Vĩnh Thạnh nói riêng. Theo giá
so sánh 1994, giá trị sản xuất giai đoạn 2006 - 2013 đạt tốc độ tăng trưởng
khoảng 7,86%. Tuy nhiên khi tính giá so sánh 2010, thì giai đoạn 2006-2010
GTSX giảm bình quân 0,82%, giai đoạn 2009 - 2013 giảm bình quân
10,75%, cả giai đoạn 2006 - 2013 giảm bình quân 5,70%.
Ngành thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, tính theo giá so sánh
1994 thì GTSX tăng trưởng khoảng 22,13% giai đoạn 2006 - 2010 và 1,62%
giai đoạn 2009 - 2013, cả giai đoạn 2006-2013 đạt khoảng 14,57%; tính theo
giá so sánh 2010 thì GTSX tăng bình quân 17,12% giai đoạn 2006-2010, tăng
trưởng bình quân 0,67% giai đoạn 2009-2013 và cả giai đoạn tăng bình quân
khoảng 12,36%. Giá trị sản xuất ngành thuỷ sản chủ yếu là từ nuôi trồng và
khai thác, thời kỳ qua đạt tốc độ tăng trưởng cao là do diện tích và năng suất
nuôi thủy sản không ngừng tăng lên hàng năm.
Vì giá trị sản xuất ngành thuỷ sản tăng nhanh trong những năm qua nên
đã giúp chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông lâm thuỷ sản theo
hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành thuỷ sản. Tỷ
trọng ngành nông nghiệp đã giảm từ 91,08% năm 2005 xuống còn 76,94%
năm 2010; tương ứng tỷ trọng ngành thuỷ sản và lâm nghiệp tăng từ 8,92%
năm 2005 lên 23,06% năm 2010. Cơ cấu nội bộ ngành năm 2013 là nông
nghiệp (77,89%) - thủy sản (21,95%) - lâm nghiệp (0,16%).
trình xây dựng cho một huyện mới được triển khai. Trên địa bàn huyện có
nhiều dự án và việc triển khai thực hiện các dự án đó đều phải gắn với hoạt
động xây dựng. Đó là việc xây dựng khu trung tâm huyện, xây dựng cơ sở hạ
tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội như mạng lưới điện, giao thông, thuỷ lợi, cải
20
tạo đồng ruộng, trường học, trạm y tế, ....Năm 2014 huyện có 20 doanh
nghiệp tư nhân hoạt động trong các lĩnh vực xây dựng, trong đó chủ yếu là
nạo vét kênh mương nội đồng và xây dựng, xây lắp các công trình cơ sở hạ
tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội như: điện, nước, xây dựng dân dụng, xây dựng
công trình giao thông, thủy lợi, san lấp mặt bằng, …Công tác lập quy
hoạch, thực hiện và quản lý quy hoạch xây dựng dần đi vào nề nếp, chất
lượng đảm bảo, đáp ứng tốt yêu cầu định hướng xây dựng, phát triển không
gian của huyện.
Về thương mại - dịch vụ: Tiến hành lập lại trật tự trong hoạt động
thương mại, kiểm soát giá và bán theo giá niêm yết, chống hàng giả hàng
kém chất lượng. Đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại huyện; đồng thời
định hướng hoạt động với đa dạng chủng loại hàng hóa và cơ chế “giá
mềm”. Nhìn chung, cùng với sự phát triển khá nhanh của nền kinh tế, khu
vực dịch vụ là một trong những ngành có tốc độ phát triển khá nhanh, ngày
càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân. Giá trị bán
hàng hóa tăng 1,83 lần so với năm 2010. Lĩnh vực bưu chính, viễn thông
phát triển mạnh; dịch vụ tín dụng, ngân hàng mở rộng hoạt động, đáp ứng
nhu cầu vốn trên địa bàn. Huyện luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi thu hút
các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất – kinh doanh, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện.
1.2.2. Xã hội
- Dân số, dân cư
Dân số năm 2010 của huyện là 113.170 người, giảm 41.961,00 người so
cuộc XĐGN ở huyện Vĩnh Thạnh.
- Văn hóa – giáo dục
Hoạt động giáo dục thường xuyên được duy trì, tổ chức các lớp dạy
nghề và hướng nghiệp cho học sinh, thanh niên. Trung tâm giáo dục thường
xuyên tiếp tục được đầu tư, trang bị về cơ sở vật chất và duy trì hoạt động
ngày càng có hiệu quả. Công tác khuyến học, khuyến tài được chú trọng.
Mạng lưới trường lớp được quan tâm xây dựng theo hướng đạt chuẩn, đáp
ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân.
22